Chương 1: Một số lý luận cơ bản về phát triển nông nghiệp - Chương 2: Thực trạng phát triển nông nghiệp tỉnh Đắk Lắk thời gian qua - Chương 3: Giải pháp phát triển nông nghiệp tỉnh Đắk Lắk thời gian tới. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Nghiên cứu ngoài nước Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng không chỉ với các nước đang phát triển mà cả với các nước phát triển. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu của các nhà kinh tế mà ngày nay chúng ta vẫn có thể vận dụng vào thực tiễn phát triển nông nghiệp Việt Nam. Phát triển nông nghiệp theo Torado (1990) là quá trình phát triển chuyên môn hóa sản xuất và thực hiện thay đổi cải tiến công cụ sản xuất.
Nghĩa là phát triển nông nghiệp phải thay đổi cả tổ chức sản xuất và kỹ thuật sản xuất. Lewis (1954) lại cho rằng muốn phát triển nông nghiệp thì phải dựa vào sự phát triển công nghiệp để thực hiện chuyển dịch CCKT qua thu hút lao động dư thừa trong nông nghiệp góp phần nâng cao NSLĐ nông nghiệp. Nghiên cứu trong nước Hoạt động nông nghiệp có từ lâu đời, nên còn được coi là lĩnh vực sản xuất truyền thống; hoạt động này không những gắn liền với các yếu tố kinh tế, xã hội, mà còn gắn với các yếu tố tự nhiênTừ khi đổi mới đến nay, Việt Nam đã hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu qua việc gia nhập vào Tổ chức Luan van 4 Thương mại Thế giới (WTO), đã có nhiều công trình nghiên cứu và những định hướng về phát triển nông nghiệp. - Trong bài viết “Một số vấn đề trong phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam hiện nay và những năm tới” của PGS.TS Bùi Bá Bổng (2004) đề ra các giải pháp để phát triển nông nghiệp nông thôn hiện nay và trong những năm đến là: Tiếp tục thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng phát huy lợi thế so sánh của mỗi vùng gắn với nhu cầu thị trường; tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật; đầu tư phát triển nguồn nhân lực cho nông nghiệp - nông thôn; đẩy mạnh việc thực hiện Chương trình phát triển nông thôn; xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển thị trường, hoàn thiện hệ thống tổ chức kinh doanh tiêu thụ nông lâm sản hàng hoá trong nước và xuất khẩu, chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới; tăng cường hợp tác quốc tế và hội nhập để tăng thêm nguồn lực cho phát triển của ngành trong những năm trước mắt cũng như lâu dài; hoàn thiện và đổi mới các chính sách, tiếp tục tạo động lực thúc đẩy sản xuất hàng hoá nông nghiệp phát triển.
- Nghiên cứu của PGS. Phan Thúc Huân (2007) cho ra rằng SXNN có các đặc điểm: Ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu, vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động; đối tượng của SXNN là những cơ thể sống có nhu cầu khác nhau về môi trường, điều kiện ngoại cảnh; SXNN có tính thời vụ; SXNN trên địa bàn được phân bố trên phạm vi và không gian rộng lớn; phần lớn nông trại là những đơn vị kinh doanh nhỏ; cung và cầu có tính không co giãn; SXNN phải đương đầu với nhiều rũi ro, tài trợ cho SXNN là công việc phức tạp và nhiều rủi ro; SXNN không đòi hỏi trình độ văn hoá cao. Nguyễn Trần Trọng (2012) bài viết “Phát triển nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2011-2020” đề cập đến phương pháp tiếp cận phát triển Luan van 5 nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam dưới góc độ thị trường; góc độ công nghiệp; góc độ môi sinh và những định hướng chủ yếu phát triển nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2011-2020 gồm: Tiếp tục đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp hàng hoá theo hướng kinh tế thị trường, từng bước chuyển các đơn vị, ngành, vùng nông nghiệp còn căn bản tự cấp, tự túc ở các tỉnh miền núi, vùng dân tộc ít người lên sản xuất hàng hoá, xây dựng các vùng sản xuất nông sản xuất khẩu tập trung; hoàn thiện cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển toàn diện trên cơ sở chuyên môn hóa, tập trung hóa trong từng ngành, từng vùng sản xuất nông nghiệp; tiếp tục đẩy mạnh tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng năng suất ruộng đất, đồng thời chú ý tới tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất trên một đơn vị nông sản; xây dựng các loại hình thức kinh tế phù hợp trong nông nghiệp; phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, xây dựng các vùng nguyên liệu vững chắc, nâng cao chất lượng sản phẩm chế biến; thực hiện một số chính sách thúc đẩy phát triển nông nghiệp; bảo vệ môi trường sinh thái trong nông nghiệp theo hướng phát triển nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sạch. Các tác phẩm, bài viết và tác giả nêu trên đã đề cập một cách khái quát, khá toàn diện hoặc đi vào phân tích từng mặt của phát triển nông nghiệp, nông thôn.
Ngoài ra, có nhiều bài viết của các tác giả khác, với nhiều cách tiếp cận khác nhau đã nêu nhiều vấn đề về lý luận và những nội dung cơ bản của phát triển nông nghiệp qua các giai đoạn, góp phần giải quyết những vấn đề thực tiễn của phát triển nông nghiệp tại Việt Nam nói chung và một số địa phương nói riêng. Tuy nhiên, trên góc độ tổng kết và hệ thống hóa các vấn đề về lý luận và nội dung của phát triển nông nghiệp tỉnh Đắk Lắk hiện vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu hoàn chỉnh về vấn đề này. Vì vậy, tác giả đã kế thừa và chọn lọc những công trình đã nghiên cứu ở trên và các nghiên cứu khác để thực hiện đề tài này. Luan van 6 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 1.
KHÁI QUÁT VỀ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 1. Một số khái niệm a. Nông nghiệp Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, theo nghĩa rộng, ngành nông nghiệp gồm ba lĩnh vực là nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi), lâm nghiệp và ngư nghiệp. Theo nghĩa hẹp, ngành nông nghiệp gồm hai lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi.
Trong quá trình phát triển, nông nghiệp đã đi từ phương thức sản xuất tự cung tự cấp, tiến đến một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa và phát triển cao để trở thành một nền nông nghiệp thương mại hóa có phạm vi không chỉ trong một quốc gia mà phát triển trên phạm vi toàn cầu. Nông nghiệp tự cung tự cấp là hình thức người nông dân hay cộng đồng nông nghiệp tự sản xuất để đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm, vải vóc, xây nhà cửa và sinh sống mà không cần đến các hoạt động mua bán trên thị trường. Đặc điểm của nó là sản xuất gia đình thống trị, quyết định sản xuất cái gì hoàn toàn phụ thuộc vào sự đáp ứng đủ nhu cầu của gia đình trong hiện tại và dự trữ đủ lương thực, thực phẩm cho đến mùa giáp hạt và nông nghiệp được xem là một sinh kế của gia đình và cộng đồng. Nông nghiệp hàng hóa là hình thức sản xuất lấy việc trao đổi hay mua bán nông sản trên thị trường làm mục tiêu để phát triển.
Nông nghiệp hàng hóa xuất hiện khi có sự phân công lao động xã hội và sản phẩm nông nghiệp không những đủ cung cấp cho người sản xuất mà còn có dư thừa để Luan van 7 trao đổi. Xét về quy mô và phạm vi, nông nghiệp hàng hóa ở mức thấp của quá trình thương mại hóa trong nông nghiệp. Nông nghiệp hàng hóa vẫn còn là một sinh kế của gia đình và có thu nhập nhờ bán được nông sản dư thừa cho thị trường. Trồng trọt là ngành sử dụng đất đai và cây trồng làm nguyên liệu chính để sản xuất ra lương thực, thực phẩm, tư liệu cho công nghiệp, đáp ứng các nhu cầu về vui chơi giải trí, tạo cảnh quan (vườn hoa, công viên.
Ngành nông học phân loại cây trồng dựa trên: - Phương pháp canh tác chia ra gồm cây trồng nông học với các nhóm cây hạt ngũ cốc, nhóm cây đậu cho hạt, nhóm cây cho sợi, nhóm cây lấy củ; nhóm cây công nghiệp; nhóm cây đồng cỏ và thức ăn gia súc hay cây trồng nghề vườn có các nhóm: nhóm rau, nhóm cây ăn trái, nhóm hoa kiểng, nhóm cây đồn điền, cây công nghiệp. - Công dụng, gồm nhóm cây lương thực, cây cho sợi, cây cho dầu và cây làm thuốc. - Yêu cầu về điều kiện khí hậu gồm cây ôn đới, cây á nhiệt đới, cây nhiệt đới. - Thời gian của chu kỳ sinh trưởng có cây hàng năm, cây lâu năm.
Chăn nuôi là một trong hai ngành sản xuất chủ yếu của nông nghiệp, với đối tượng sản xuất là các loại động vật nuôi nhằm cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người. Ngành chăn nuôi cung cấp các sản phẩm có giá trị kinh tế cao như thịt, trứng, sữa.nhằm đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng thiết yếu hàng ngày của người dân. Xu hướng tiêu dùng có tính qui luật chung là khi xã hội phát triển thì nhu cầu tiêu dùng về các sản phẩm chăn nuôi ngày càng tăng lên một cách tuyệt đối so với các sản phẩm nông nghiệp nói chung. Chăn nuôi là ngành cung cấp nhiều sản phẩm làm nguyên liệu quí giá cho các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm và dược liệu.
Chăn nuôi là ngành Luan van 8 ngày càng có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các sản phẩm đặc sản tươi sống và sản phẩm chế biến có giá trị cho xuất khẩu. Xã hội càng phát triển, mức tiêu dùng của người dân về các sản phẩm chăn nuôi ngày càng tăng lên cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu sản phẩm. Do vậy mức đầu tư của xã hội cho ngành chăn nuôi có xu hướng tăng nhanh và ngày càng cao ở hầu hết mọi nền nông nghiệp. Sự chuyển đổi có tính qui luật trong đầu tư phát triển SXNN là chuyển dần từ sản xuất trồng trọt sang phát triển chăn nuôi.
Trong ngành trồng trọt, các hoạt động chuyển hướng sang phát triển cây trồng làm thức ăn chăn nuôi. Phát triển nông nghiệp Thuật ngữ phát triển nông nghiệp được dùng nhiều trong đời sống kinh tế và xã hội.TS Đỗ Kim Chung cho rằng: Phát triển nông nghiệp thể hiện quá trình thay đổi của nền nông nghiệp ở giai đoạn này so với giai đoạn trước đó và thường đạt ở mức độ cao hơn cả về lượng và về chất.