Tổng quan nghiên cứu

Nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đến phát triển sản xuất nông nghiệp là một trong những nhiệm vụ cấp thiết mang tính sống còn đối với an ninh lương thực. Theo đánh giá từ Ngân hàng Thế giới, Việt Nam là một trong 5 quốc gia chịu tổn thương nặng nề nhất; khi mực nước biển dâng cao 1m, ước tính có khoảng 5% tổng diện tích đất bị ngập, 11% dân số chịu ảnh hưởng trực tiếp và quy mô thiệt hại có thể làm giảm tới 10% tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Nằm ở hạ lưu đồng bằng sông Hồng, Thái Bình là tỉnh thuần nông với khoảng 63% đến 65% lực lượng lao động toàn tỉnh tập trung trong khu vực nông nghiệp.

Tuy nhiên, nền sản xuất nông nghiệp địa phương đang bộc lộ dấu hiệu suy giảm tốc độ tăng trưởng trước các hiện tượng thời tiết cực đoan. Nước mặn với nồng độ trên 1‰ đã xâm nhập sâu từ 15km đến 20km vào các cửa sông chính, đỉnh điểm trong vụ xuân năm 2010 đã lấn sâu tới cống Vũ Đoài cách cửa biển 35km, làm suy giảm diện tích đất canh tác màu mỡ. Mục tiêu cụ thể của luận văn là làm rõ cơ sở lý luận triết học và thực tiễn về phát triển sản xuất nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu, đánh giá thực trạng giai đoạn 2000-2015 và dự báo xu hướng đến năm 2020. Phạm vi không gian bao quát toàn tỉnh Thái Bình với 8 đơn vị hành chính cấp huyện. Ý nghĩa nghiên cứu hướng tới việc xác lập hệ thống giải pháp toàn diện, bảo đảm sinh kế bền vững cho hơn 60% dân cư nông thôn và nâng cao năng lực ứng phó thiên tai của tỉnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong Triết học Mác - Lênin. Trọng tâm lý luận dựa trên nguyên lý về sự phát triển và quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong điều kiện môi trường tự nhiên biến đổi. Luận văn tiếp cận quan điểm phát triển là quá trình vận động đi lên từ thấp đến cao, giải quyết các mâu thuẫn nội tại giữa hoạt động kinh tế của con người và quy luật sinh thái tự nhiên.

Bên cạnh đó, đề tài tích hợp lý thuyết phát triển nông nghiệp bền vững từ Chương trình Nghị sự 21 của Liên Hợp Quốc và đường lối chỉ đạo tại Nghị quyết 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (Tam nông). Khung phân tích làm rõ ba khái niệm then chốt: phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững (sự tăng trưởng hài hòa giữa kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường), biến đổi khí hậu (trạng thái biến động khí hậu kéo dài qua nhiều thập kỷ) và tính dễ bị tổn thương sinh kế nông thôn.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu sơ cấp và thứ cấp được tổng hợp từ Tổng cục Thống kê, Niên giám Thống kê tỉnh Thái Bình, số liệu Tổng điều tra Nông nghiệp và Nông thôn các năm 2001 và 2010, cùng báo cáo chuyên ngành của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giai đoạn 2000-2014. Cỡ mẫu nghiên cứu bao phủ 100% địa bàn gồm 8 đơn vị hành chính cấp huyện (7 huyện và 1 thành phố) với 267 xã, phường, thị trấn; kết hợp khảo sát hệ thống hợp tác xã và trang trại nông nghiệp đại diện.

Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng theo vùng sinh thái: vùng ven biển chịu ảnh hưởng mặn (Tiền Hải, Thái Thụy) và vùng đồng bằng nội đồng (Vũ Thư, Kiến Xương, Đông Hưng, Hưng Hà, Quỳnh Phụ). Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, so sánh chuỗi thời gian kết hợp tổng hợp biện chứng là nhằm lượng hóa chính xác mối tương quan giữa biến thiên khí hậu (nhiệt độ tăng, lượng mưa thay đổi) với sự suy giảm tăng trưởng kinh tế nông nghiệp (từ 3,83% xuống 2,8%). Cách tiếp cận này bảo đảm tính khách quan, giúp nhận diện quy luật chuyển dịch cơ cấu kinh tế xuyên suốt lộ trình nghiên cứu từ năm 2000 đến năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp suy giảm liên tục qua các giai đoạn. Trên phạm vi cả nước, tốc độ tăng GDP nông nghiệp giảm từ 3,83%/năm giai đoạn 2001-2005 xuống 3,3%/năm giai đoạn 2006-2010 và chỉ còn 2,8% vào năm 2013. Tại Thái Bình, giá trị gia tăng nông nghiệp có dấu hiệu chững lại rõ nét do phương thức sản xuất manh mún và chi phí khắc phục thiên tai tăng cao.

Thứ hai, các yếu tố khí hậu cực đoan tác động sâu sắc đến hệ sinh thái canh tác. Dữ liệu quan trắc khí tượng giai đoạn 1960-2010 ghi nhận nhiệt độ trung bình năm tại Thái Bình tăng 0,4°C (trung bình tăng 0,1°C mỗi thập kỷ), tổng lượng mưa 50 năm qua giảm khoảng 9% nhưng các đợt mưa lớn cực đoan lại gia tăng. Xâm nhập mặn với nồng độ trên 1‰ tiến sâu 15km đến 20km vào hệ thống sông chính, cá biệt vụ xuân năm 2010 mặn đã xâm nhập tới 35km tại cống Vũ Đoài.

Thứ ba, cơ cấu lao động nông thôn đối mặt với nguy cơ già hóa và thiếu hụt nhân lực chất lượng cao. Nông nghiệp vẫn là sinh kế chủ đạo của 63% đến 65% lực lượng lao động tỉnh, nhưng làn sóng chuyển dịch lao động trẻ sang các khu công nghiệp đã để lại lực lượng sản xuất phần lớn là người cao tuổi, làm hạn chế khả năng ứng dụng kỹ thuật và thích ứng thiên tai.

Thứ tư, kết cấu hạ tầng nông nghiệp bị tàn phá nặng nề. Thiệt hại do thiên tai trên cả nước ước tính chiếm khoảng 1,5% GDP hàng năm. Tại địa bàn nghiên cứu, các đợt bão lớn (điển hình như bão số 5) đã gây ngập úng diện rộng, tàn phá hệ thống đê điều, kênh mương và làm sụt giảm nghiêm trọng sản lượng hoa màu vụ đông.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng trên là do mâu thuẫn giữa quy mô canh tác hộ nhỏ lẻ với đòi hỏi hiện đại hóa công nghệ để ứng phó biến đổi khí hậu. Trong nghiên cứu, dữ liệu được trực quan hóa thông qua biểu đồ đường thể hiện tương quan nghịch biến giữa mức tăng nhiệt độ 0,4°C và độ suy giảm GDP nông nghiệp xuống 2,8%. Bảng phân loại 267 xã theo cấp độ rủi ro ngập mặn cung cấp bức tranh sinh thái rõ nét từng tiểu vùng.

Phát hiện này củng cố các cảnh báo của Lê Văn Khoa (2008) về nguy cơ thoái hóa đất canh tác và nghiên cứu của Võ Quý (2009) về tổn thất 50% diện tích đất ngập nước ven biển. Tuy nhiên, luận văn đem lại đóng góp mới từ góc độ triết học khi chứng minh rằng giải quyết bài toán biến đổi khí hậu tại Thái Bình đòi hỏi phải đồng thời đổi mới quan hệ sản xuất, tập trung ruộng đất và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Đề xuất và khuyến nghị

Một là, cơ cấu lại cây trồng mùa vụ và ứng dụng tiến bộ sinh học. Chuyển đổi ít nhất 15% diện tích đất lúa trũng thấp thường xuyên ngập mặn sang mô hình lúa - cá kết hợp hoặc cây trồng chịu hạn; giảm 20% đến 25% lượng phân bón hóa học nhằm phục hồi độ phì của đất, giữ vững năng suất lúa ổn định ở mức 13 tấn/ha/năm cho hai vụ. Thời gian thực hiện từ năm 2016 đến năm 2020; cơ quan chủ trì là Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thái Bình.

Hai là, hiện đại hóa hệ thống thủy lợi và củng cố công trình đê kè. Nâng cấp đồng bộ các tuyến đê biển, đê sông xung yếu và các cống ngăn mặn lớn tại 7 huyện và 1 thành phố, đặc biệt gia cố cống Vũ Đoài và đê biển Tiền Hải, Thái Thụy; hoàn thành bê tông hóa 100% hệ thống kênh mương tưới tiêu nội đồng cấp 1 và cấp 2. Thời gian triển khai giai đoạn 2016-2022; cơ quan chỉ đạo là Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn tỉnh phối hợp với Sở Nông nghiệp.

Ba là, đẩy mạnh tích tụ đất đai và đổi mới kinh tế hợp tác xã. Ban hành chính sách dồn điền đổi thửa, hình thành các vùng chuyên canh hàng hóa lớn quy mô từ 50ha đến 100ha; mở rộng liên kết doanh nghiệp chế biến để đạt trên 40% sản lượng nông sản tiêu thụ qua hợp đồng bao tiêu vào năm 2020. Chủ thể chịu trách nhiệm là Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình và Hội Nông dân tỉnh.

Bốn là, đào tạo nghề và chuyển dịch lao động nông nghiệp. Xây dựng các chương trình đào tạo kỹ thuật nông nghiệp công nghệ cao và kỹ năng dịch vụ nông thôn, phấn đấu giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp thuần túy từ 65% xuống dưới 50% vào năm 2020. Chủ thể thực hiện là Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với các Trung tâm Chính trị huyện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cán bộ lãnh đạo và chuyên viên hoạch định chính sách tại các cơ quan quản lý nhà nước tỉnh Thái Bình và vùng đồng bằng sông Hồng. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn phục vụ việc cụ thể hóa Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó biến đổi khí hậu và xây dựng quy hoạch nông nghiệp địa phương giai đoạn 2016-2020.

Thứ hai, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học các ngành Triết học, Kinh tế phát triển và Khoa học môi trường. Tài liệu mang lại khung phân tích liên ngành hữu ích về phép biện chứng giữa con người và tự nhiên, giúp khai thác phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp lý luận triết học trong đánh giá kinh tế nông thôn.

Thứ ba, báo cáo viên và giảng viên tại Trường Chính trị tỉnh và các Trung tâm Bồi dưỡng chính trị cấp huyện. Nội dung luận văn là nguồn dẫn chứng sinh động để giảng dạy các chuyên đề về Nghị quyết 26-NQ/TW (Tam nông) và các chính sách công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.

Thứ tư, ban quản trị các hợp tác xã nông nghiệp, chủ trang trại và doanh nghiệp chế biến nông sản. Đây là cẩm nang định hướng xây dựng chuỗi liên kết sản xuất quy mô lớn, lựa chọn giống cây trồng thích ứng mặn và quy hoạch tưới tiêu chủ động trước rủi ro xâm nhập mặn 15km đến 35km.

Câu hỏi thường gặp

Biến đổi khí hậu ảnh hưởng rõ nhất đến nông nghiệp Thái Bình ở những khía cạnh nào? Tác động rõ nét nhất là nền nhiệt tăng 0,4°C qua các thập kỷ và xâm nhập mặn nồng độ trên 1‰ lấn sâu 15km đến 20km vào sông nội địa. Đặc biệt trong vụ xuân năm 2010, mặn xâm nhập tới 35km tại cống Vũ Đoài làm tê liệt nguồn cấp nước ngọt tưới tiêu cho nhiều vùng sản xuất.

Vì sao một luận văn thạc sĩ triết học lại nghiên cứu vấn đề biến đổi khí hậu và nông nghiệp? Nghiên cứu ứng dụng phép duy vật biện chứng để phân tích sự tương tác giữa giới tự nhiên và xã hội. Luận văn chứng minh biến đổi khí hậu là điều kiện khách quan buộc phải điều chỉnh lực lượng sản xuất và hoàn thiện quan hệ sản xuất nhằm bảo đảm nông nghiệp phát triển bền vững.

Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp giai đoạn nghiên cứu có xu hướng biến động ra sao? Tốc độ tăng trưởng GDP nông nghiệp toàn quốc giảm từ 3,83%/năm giai đoạn 2001-2005 xuống 3,3%/năm giai đoạn 2006-2010 và còn 2,8% năm 2013. Tình trạng tương tự diễn ra tại Thái Bình, phản ánh sự suy giảm hiệu quả của phương thức sản xuất manh mún trước áp lực thiên tai.

Tỷ lệ 63% đến 65% lao động làm nông nghiệp tạo ra rủi ro gì trước thiên tai? Tỷ lệ lao động cao nhưng đang bị già hóa nhanh do lao động trẻ chuyển dịch sang công nghiệp. Lực lượng lao động lớn tuổi tại chỗ gặp khó khăn trong việc tiếp cận công nghệ mới và ứng phó các trận bão lũ lớn như bão số 5, dẫn đến nguy cơ mất an toàn sinh kế.

Giải pháp nào mang tính đột phá để nâng cao hiệu quả nông nghiệp Thái Bình? Giải pháp then chốt là dồn điền đổi thửa tạo vùng chuyên canh 50ha đến 100ha kết hợp bê tông hóa 100% kênh mương nội đồng. Cùng với đó là chuyển dịch lao động để giảm tỷ lệ làm nông nghiệp xuống dưới 50% vào năm 2020 nhằm tăng năng suất lao động.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện tác động kép của biến đổi khí hậu (nhiệt độ tăng 0,4°C, xâm mặn sâu 35km) và sự sụt giảm tăng trưởng nông nghiệp (GDP nông nghiệp giảm còn 2,8% năm 2013).
  • Vận dụng thành công phương pháp luận duy vật biện chứng để làm sáng tỏ mối quan hệ hữu cơ giữa con người, tự nhiên và phương thức sản xuất nông nghiệp.
  • Khảo sát thực trạng nguồn nhân lực nông nghiệp chiếm 63% đến 65% và khẳng định tính tất yếu của việc tái cơ cấu lao động nông thôn.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về kỹ thuật mùa vụ, kiên cố hóa đê kè thủy lợi, tích tụ đất đai và đào tạo nghề.
  • Cung cấp cơ sở khoa học phục vụ triển khai Nghị quyết 26-NQ/TW về Tam nông và Kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Thái Bình giai đoạn 2016-2020.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là lấp đầy khoảng trống lý luận triết học về phát triển sinh thái nông nghiệp tại một tỉnh đồng bằng sông Hồng chịu ảnh hưởng nặng nề của thiên tai. Bước tiếp theo, các địa phương cần khẩn trương hoàn thiện quy hoạch phân vùng sinh thái thích ứng khí hậu cho giai đoạn 2016-2020, tầm nhìn 2030. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp hãy kết nối chặt chẽ để sớm đưa các giải pháp vào thực tiễn sản xuất, kiến tạo nền nông nghiệp Thái Bình hiện đại và bền vững.