phần mở đầu và kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và các bảng biểu phụ lục kèm theo, cấu trúc luận văn này gồm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về phát triển nông nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng phát triển nông nghiệp trên địa bàn huyện Phƣớc Sơn, tỉnh Quảng Nam Chƣơng 3: Giải pháp đẩy mạnh phát triển nông nghiệp trên địa bàn huyện Phƣớc Sơn. Tổng quan tài liệu nghiên cứu - Theo Kuznets (1964) cho rằng: trong quá trình tiến hành công nghiệp hóa đã đẩy nhanh tốc độ phát triển công nghiệp mà không có phát triển song song nông nghiệp sẽ bị rơi vào cái bẫy của việc xem nhẹ vai trò đóng góp nông nghiệp [1]. - Theo Todaro (1990) cho rằng phát triển nông nghiệp trải qua 3 giai đoạn, tuần tự từ thấp đến cao [16, tr. - Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế của Ôx-trây-lia (ACIAR) kết hợp với Khoa Kinh tế và phát triển nông thôn, Trƣờng Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội (2007) nghiên cứu về “Phát triển nông nghiệp và chính sách Luan van 4 đất đai ở Việt Nam” đã đƣa ra những quan điểm về sự phụ thuộc của phát triển nông nghiệp Việt Nam vào sự sử dụng có hiệu quả nguồn đất đai.
Qua đó đã nêu lên tầm quan trọng của việc sử dụng linh hoạt đất nông nghiệp trong nền kinh tế thị trƣờng và khuyến nghị Chính phủ trong việc ban hành chính sách về giá nông nghiệp, chính sách lãi suất, chinh sách đất nông nghiệp…, đồng thời dự báo về những gì có thể xảy ra với thị trƣờng đất đai và sự phát triển nông nghiệp của Việt Nam [33, tr. - Trong giáo trình Kinh tế nông nghiệp do Vũ Đình Thắng chủ biên (2006) cho rằng nông nghiệp không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học - kỹ thuật, bởi vì một mặt cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học - cây trồng, vật nuôi.Ngoài ra, giáo trình còn nêu lên những đặc trƣng của hệ thống kinh tế nông nghiệp Việt Nam: thứ nhất, là hệ thống kinh tế nông nghiệp mang tính hỗn hợp với nhiều hình thức sở hữu rất đa dạng: sở hữu nhà nƣớc, sở hữu tập thể, sở hữu cá thể tƣ nhân và sở hữu hỗn hợp; thứ hai, tƣơng ứng với các hình thức sở hữu nói trên sẽ hình thành và phát triển nhiều hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh đa dạng và năng động; thứ ba, tất cả các chủ thể kinh tế trong hệ thống đều tự do kinh doanh theo pháp luật, có quyền bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi trƣớc pháp luật; thứ tư, đặc trƣng về chế độ quản lý hệ thống kinh tế nông nghiệp [26, tr. - Hội thảo khoa học “Tác động của biến đổi cơ cấu xã hội đến nông nghiệp, nông dân và nông thôn các tỉnh phía Nam trong thời kỳ đổi mới” do Tạ Ngọc Tấn, Trƣơng Giang Long, Bùi Chí Bửu, Bùi Thế Cƣờng đồng chủ trì (2009) đề cập đến khu vực nông nghiệp và nông thôn là một trong những khu vực có những biến động và chịu tác động nhiều nhất của biến đổi cơ cấu xã hội [23]. - Bài viết “Phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn nƣớc ta trong Luan van 5 quá trình hội nhập quốc tế” của Nguyễn Thị Thanh Huyền (2015) đã đề cập đến những tác động của hội nhập quốc tế đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn cũng nhƣ chỉ ra những thành tựu và thách thức của nông nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập.
Từ đó đƣa ra định hƣớng nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững trong quá trình hội nhập [17]. - Đinh Văn Thông trong đề tài “Nông nghiệp Việt Nam qua 25 năm đổi mới kinh tế (1986-2010)” đã tổng kết, hệ thống hóa những thành tựu phát triển nông nghiệp Việt Nam qua 25 năm đổi mới kinh tế, phân tích những xu hƣớng vận động và phát triển của nền nông nghiệp nƣớc ta. Trên cơ sở đó để đƣa ra những khuyến nghị và giải pháp nhằm thúc đẩy nền kinh tế nông nghiệp nƣớc ta tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới [27]. - Hội thảo khoa học “Giới, Di cƣ và Phát triển nông thôn” do Khoa Lý luận Chính trị và Xã hội, Học viện Nông nghiệp Việt Nam tổ chức (2015) đã Luan van 6 phân tích những ảnh hƣởng của di cƣ đến sự chuyển dịch của phân công lao động trong gia đình, sử dụng đất đai, sự thay đổi về tổ chức và thể chế nông thôn.
để đƣa ra những đề xuất nhằm giảm thiểu phí tổn và tối đa hóa lợi ích của di cƣ [13]. - Một số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ về phát triển kinh tế nông thôn hoặc phát triển nông nghiệp. Luận văn thạc sĩ của Võ Tấn Lộc (2013), Văn Thị Hiền (2014), luận án tiến sĩ của Đoàn Tranh (2012), … Luan van 7 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 1. VAI TRÒ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 1.
Một số khái niệm a. Nông nghiệp Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất chủ yếu của nền kinh tế. Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học – kỹ thuật, bởi vì một mặt cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học – cây trồng, vật nuôi [26]. Nông nghiệp hiểu theo nghĩa hẹp bao gồm hai lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi.
Nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng bao gồm ba lĩnh vực: nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản. Trong tiến trình phát triển nông nghiệp cũng có hai giai đoạn chính, việc xác định sản xuất nông nghiệp thuộc giai đoạn nào cũng rất quan trọng: Nông nhiệp thuần nông hay nông nhiệp sinh nhai là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi ngƣời nông dân. Không có sự cơ giới hóa trong nông nghiệp sinh nhai. Nông nghiệp chuyên sâu: là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp đƣợc chuyên môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp.
Nông nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả việc sử dụng hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc, lại tạo giống, nghiên cứu các giống mới và mức độ cơ giới hóa cao. Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thƣơng mại, làm hàng hóa bán ra trên thị trƣờng Luan van 8 hay xuất khẩu. Các hoạt động trên trong sản xuất nông nghiệp chuyên sâu là sự cố gắng tìm mọi cách để có nguồn thu nhập tài chính cao nhất từ ngũ cốc, các sản phẩm đƣợc chế biến từ ngũ cốc hay vật nuôi. Trồng trọt là ngành sử dụng đất đai với cây trồng làm đối tƣợng chính để sản xuất ra lƣơng thực, thực phẩm, tƣ liệu cho công nghiệp, và thỏa mãn các nhu cầu về vui chơi giải trí, tạo cảnh quan (hoa viên, cây kiểng, sân banh, sân golf).
Ngành nông học phân loại cây trồng theo nhiều cách hoặc là 1) dựa trên phƣơng pháp canh tác chia ra cây trồng nông học (gồm các nhóm cây hạt ngũ cốc, nhóm cây đậu cho hạt, nhóm cây cho sợi, nhóm cây lấy củ, nhóm cây công nghiệp, nhóm cây đồng cỏ và thức ăn gia súc) hay cây trồng nghề vƣờn (gồm các nhóm rau, nhóm cây ăn trái, nhóm hoa kiểng, nhóm cây đồn điền/cây công nghiệp); 2) dựa trên công dụng chia ra cây lƣơng thực, cây công nghiệp, cây ăn quả, cây rau và hoa, cây trồng làm thứ ăn gia súc và cây dƣợc liệu; 3) dựa trên yêu cầu về điều kiện khí hậu chia ra cây ôn đới, cây á nhiệt đới, cây nhiệt đới; hoặc 4) dựa trên thời gian của chu kỳ sinh trƣởng chia ra cây hàng năm, cây lâu năm. Chăn nuôi là một trong hai ngành sản xuất chủ yếu của nông nghiệp (theo nghĩa hẹp), với đối tƣợng sản xuất là các loại động vật nuôi. Ngành chăn nuôi cung cấp thực phẩm nhiều chất đạm nhƣ thịt, sữa, trứng; cung cấp da, len, lông; sản phẩm phụ của chăn nuôi dùng làm phân bón; đại gia súc dùng làm sức kéo. Nguồn thức ăn cho chăn nuôi chủ yếu lấy từ ngành trồng trọt, nên chăn nuôi phát triển sẽ góp phần làm gia tăng hiệu quả của sản phẩm trồng trọt.
Ngành chăn nuôi ngày càng chiếm tỷ trọng cao so với ngành trồng trọt trong cơ cấu ngành nông nghiệp vì trong khẩu phần ăn của con ngƣời đang ngày càng thay đổi. Ngư nghiệp bao gồm đánh bắt và nuôi trồng thủy sản. Đánh bắt là hoạt động có từ lâu đời của con ngƣời nhằm cung cấp thực phẩm cho mình thông Luan van 9 qua các hình thức đánh bắt cá và các sinh vật thủy khác; việc đánh bắt phải kết hợp với hoạt động bảo vệ nguồn lợi thủy sản nhằm bảo vệ môi trƣờng và duy trì nguồn thủy sản đánh bắt trong tƣơng lai. Nuôi trồng thủy sản là hình thức canh tác thủy sản có kiểm soát.
Nuôi cá là hình thức cơ bản của nuôi trồng thủy sản, trong đó có nuôi cá nƣớc mặn, nƣớc lợ và nƣớc ngọt; ngoài ra, còn có nuôi rong, nuôi tôm, nuôi sò, nuôi ngọc trai. Lâm nghiệp là các hoạt động chăm sóc nuôi dƣỡng và bảo vệ rừng; khai thác, vận chuyển và chế biến các sản phẩm từ rừng; trồng cây, tái tạo rừng, duy trì tác dụng phòng hộ nhiều mặt của rừng (Bùi Minh Vũ, 2001, tr. Theo luật bảo vệ và phát triển rừng của Việt Nam (2004), rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trƣờng khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trƣng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên. Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng.
Phát triển nông nghiệp Để hiểu rõ hơn về phát triển nông nghiệp, chúng ta sẽ đi từ các khái niệm liên quan đến phát triển: - Phát triển: Hiện tại có nhiều quan niệm khác nhau về phát triển. Trong phép biện chứng duy vật, khái niệm phát triển dùng để chỉ quá trình vận động theo chiều hƣớng đi lên của sự vật: từ trình độ thấp lên trình độ cao hơn.