Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển nông nghiệp Chương 2: Thực trạng phát triển nông nghiệp huyện Hoằng Hóa giai đoạn 2010 - 2018 Chương 3: Đề xuất giải pháp phát triển nông nghiệp huyện Hoằng Hóa đến năm 2025 định hƣớng đến 2030 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 1. Tổng quan các công trình nghi n cứu theo hƣớng nghi n cứu của đề t i 1. Trên thế giới Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng của thế giới cũng nhƣ nền kinh tế của nhiều quốc gia mà không có ngành nào thay thế đƣợc đặc biệt là trong các thế kỷ trƣớc đây khi công nghiệp chƣa phát triển; và ngày nay khi dân số thế giới ngày càng tăng nhanh. Vì vậy nông nghiệp đƣợc rất nhiều các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm dƣới nhiều góc độ khác nhau.
Ngay từ thế kỉ 18 Chủ nghĩa trọng nông đã hình thành ở Đức, Ba Lan, Thụy Sĩ và nhiều nƣớc khác nhƣng đặc biệt phát triển ở Pháp. Ngƣời đầu tiên và tiêu biểu cho học thuyết này là chuyên gia kinh tế học ngƣời Pháp Francois Quesnay (1694-1774). Chủ nghĩa trọng nông cho rằng nguồn gốc thuần túy của sự giàu có của mỗi quốc gia là từ sản xuất nông nghiệp hay các dạng phát triển đất đai khác. Những tƣ tƣởng kinh tế của Francois Ques nay đƣợc coi là một trong những tiền thân của trƣờng phái kinh tế học cổ điển sau này mà đại diện tiêu biểu là AdamSmith [14].
Jean Fourastie - một nhà kinh tế học ngƣời Pháp ở thế kỉ 18 đã nghiên cứu một cách tổng hợp có hệ thống và đƣa ra lý thuyết “ba khu vực hoạt động kinh tế - xã hội”. Theo lý thuyết này tất cả các hoạt động kinh tế đƣợc chia thành 3 khu vực hoạt động cơ bản (nông nghiệp công nghiệp - xây dựng dịch vụ). Trong đó nông nghiệp là ngành cung cấp tư liệu sinh hoạt cho con người, … và việc sản xuất ra tư liệu sinh hoạt là điều kiện đầu tiên cho sự sống của họ và của mọi lĩnh vực sản xuất nói chung. Mác trong “Học thuyết kinh tế” lại nhấn mạnh: Sự phát triển nông nghiệp giữ vai tr rất quan trọng đối v i sự sinh tồn và phát triển của xã hội loài người bởi v con người trư c hết phải có ăn rồi sau đó m i đến các hoạt động khác.
Vai trò của nông nghiệp sau này đƣợc kế thừa phát huy bởi Ănghen và nhiều nhà khoa học khác trên thế giới [14]. Nhà lịch sử kinh tế Mỹ Walter W.Rostow trong cuốn “ Những giai đoạn phát triển kinh tế” (1960) đã đƣa ra một cách tổng hợp theo lịch sử về những bƣớc khởi đầu về quá trình phát triển kinh tế hiện đại ở 5 châu lục. Theo mô hình 7 Rostow quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia đƣợc chia thành năm giai đoạn và tƣơng ứng với mỗi giai đoạn là một dạng cơ cấu kinh tế đặc trƣng thể hiện bản chất phát triển của giai đoạn ấy. Ở xã hội truyền thống hoạt động nông nghiệp thuần túy và mang những đặc trƣng nổi bật nhƣng năng suất thấp không có tích lũy tự cấp tự túc sản lƣợng nông nghiệp có thể tăng do mở rộng diện tích đất canh tác (quảng canh) hoặc bắt đầu có cải tiến về tƣới tiêu thủy lợi giống cây trồng mới.
Đến các giai đoạn sau nông nghiệp đƣợc đầu tƣ KHKT và thƣơng mại hóa giữ vai trò quan trọng trong nấc thang phát triển nhân loại [24]. Nghiên cứu nông nghiệp dƣới góc độ Địa lí học đã có nhiều công trình, tiêu biểu là Grigg D và Singh J.S, trong đó những cơ sở lí luận của Địa lí nông nghiệp nhƣ: khái niệm hƣớng tiếp cận và phƣơng pháp nghiên cứu các nhân tố kinh tế - xã hội ảnh hƣởng tới phát triển nông nghiệp tác động của nông nghiệp đến môi trƣờng thực trạng phát triển và sự phân hóa sản xuất nông nghiệp theo không gian đã đƣợc đề cập chi tiết [29]. Ngƣời đầu tiên đƣa ra ý tƣởng về tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp là nhà khoa học ngƣời Đức J.Von Thunen (1783 - 1850); đầu những năm 1800 ông đã đề xuất "lí thuyết vành đai giữa trung tâm và ngoại vi"; mô hình 5 vành đai nông nghiệp thể hiện bƣớc đầu về ý tƣởng tổ chức lãnh thổ. Một trong những chuyên gia Xô Viết hàng đầu nghiên cứu về tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp là K.Ivanov; ông xây dựng cơ sở cho phƣơng pháp dòng (băng chuyền) trong việc tổ chức sản xuất của nhiều phân ngành nông nghiệp.
Nhiều tƣ tƣởng và quan niệm mới của ông đã đƣợc ứng dụng trong lĩnh vực lập mô hình các hệ thống lãnh thổ [26]. Ở Việt Nam Ở Việt Nam cho đến nay (2018) nông nghiệp giữ vai trò quan trọng thu hút hơn 40 0% lao động đang làm việc với gần 22 0 triệu ngƣời 14 6% GDP và 16 4% giá trị xuất khẩu hàng hóa với hơn 40 0 tỷ USD [30]. Trong các văn kiện của Đại hội Đảng các chiến lƣợc phát triển KT-XH của chính phủ đều chú trọng đến nông nghiệp nông thôn. Nông nghiệp cũng là lĩnh vực đƣợc đề cập trong rất nhiều các công trình nghiên cứu.
Dƣới góc độ kinh tế nông nghiệp; các công trình nghiên cứu về nông nghiệp bàn về những vấn đề lí luận cơ bản nhƣ khái niệm đặc điểm vai trò các 8 nguồn lực chủ yếu lý thuyết cung cầu trong nông nghiệp; những vấn đề tổ chức sản xuất và quản lý nông nghiệp; tiêu biểu là các ấn phẩm: Giáo tr nh “kinh tế nông nghiệp”, ”Kinh tế phát triển” của Vũ Đình Thắng, Nguyễn Đình Thắng Hoàng Văn Định. Dƣới góc độ địa lí học, các ấn phẩm: “Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam” của Lê Thông (chủ biên) [34], Giáo tr nh Địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam của Nguyễn Viết Thịnh Đỗ Thị Minh Đức [30],“Địa lí kinh tế - xã hội đại cương” của Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên) [35], và điển hình là cuốn“Địa lí nông, lâm, thủy sản Việt Nam” của tác giả Nguyễn Minh Tuệ [36] đã hệ thống vai trò đặc điểm các nhân tố ảnh hƣởng đến phát triển và phân bố nông nghiệp các vùng nông nghiệp ở Việt Nam. Đây là những cơ sở lí luận có tính chất định hƣớng các vấn đề để học viên vận dụng vào luận văn. Trong cuốn “Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp Việt Nam” của Đặng Văn Phan [21] đã đề cập đến các vấn đề lí luận và thực tiễn của TCLTNN nhƣ khái niệm nhân tố và hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp nói chung thực trạng TCLTNN Việt Nam nói riêng.
Nghiên cứu nông nghiệp dƣới góc độ địa lí học còn có hàng loạt các công trình là luận án tiến sĩ nghiên cứu về vấn đề phát triển nông nghiệp và tổ chức lãnh thổ nông nghiệp của Nguyễn Thị Trang Thanh Lê Kim Chi Đào Thanh Xuân Trịnh Văn Thơm… [7], [26], [33]. Dƣới góc độ sinh thái nông nghiệp điển hình là Đào Thế Tuấn Bùi Huy Đáp… cũng có nhiều công trình nghiên cứu hệ thống nông nghiệp trong đó tập trung vào nghiên cứu hệ thống canh tác biện pháp kĩ thuật trong nông nghiệp. Dƣới góc độ nghiên cứu chính sách nông nghiệp điển hình là trong các nghiên cứu của Đặng Kim Sơn về vấn đề tam nông công nghiệp hóa nông nghiệp [24]. Ở huyện Hoằng Hóa Nhìn chung các công trình nghiên cứu về nông nghiệp Hoằng Hóa chƣa có nhiều đặc biệt là dƣới góc độ địa lí học; chủ yếu vẫn là một số sách tham khảo chung về dân cƣ kinh tế xã hội nhƣ “Dƣ địa chí huyện Hoằng Hóa hoặc Địa chí Thanh Hóa (chƣơng Kinh tế) [31].
Cũng đã có một số công trình luận văn thạc sĩ nghiên cứu về những vấn 9 đề liên quan đến nông nghiệp huyện Hoằng Hóa [19], [22]…. Tuy nhiên chủ yếu là nghiên cứu dƣới góc độ kinh tế nông nghiệp chƣa đề cập sâu đến vấn đề phân bố sản xuất tổ chức lãnh thổ nông nghiệp. Ngoài ra xuất phát từ vấn đề lí luận và thực tiễn về phát triển nông nghiệp huyện Hoằng Hóa hiện nay cần tiếp tục làm sáng tỏ nhƣ vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế của huyện hiệu quả sản xuất nông nghiệp khai thác hiệu quả tài nguyên thiên nhiên… Tác giả kế thừa những lí luận phù hợp với đề tài để nghiên cứu một cách khách quan cụ thể về phát triển nông nghiệp huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2010 – 2018. Cơ sở lí luận về nông nghiệp v phát triển nông nghiệp 1.
Khái niệm nông nghiệp và phát triển nông nghiệp 1. Khái niệm về nông nghiệp Theo Từ điển Tiếng Việt: nông nghiệp “là ngành sản xuất chủ yếu của xã hội, có nhiệm vụ cung cấp sản phẩm ngành trồng trọt và chăn nuôi” [39]. Từ điển kinh tế học quan niệm: “nông nghiệp là quá tr nh sản xuất lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc, tơ sợi và sản phẩm mong muốn khác bởi trồng trọt những cây trồng chính và chăn nuôi đàn gia súc” [20]. Trong xu thế phát triển bền vững khái niệm nông nghiệp đã có thêm những nội dung mới và phù hợp.
Nông nghiệp là một khâu sản xuất của ngành kinh tế cơ sở của CNH HĐH (cung cấp lƣơng thực thực phẩm nguyên liệu đất lao động thị trƣờng tiền vốn cho các ngành khác nhất là công nghiệp…) đảm bảo an ninh lƣơng thực thực phẩm và là một quá trình quan trọng trong việc giảm tỉ lệ nghèo đó cũng là nơi bảo quản và cung cấp tài nguyên thiên nhiên, dịch vụ và bảo vệ môi trƣờng [18]. Nông nghiệp cũng là ngành đƣợc phát triển dƣới nhiều loại hình khác nhau gắn với các khái niệm nhƣ: nông nghiệp sinh thái nông nghiệp hàng hóa nông nghiệp hữu cơ nông nghiệp sạch… Nông nghiệp sinh thái là “nền nông nghiệp kết hợp hài hòa các ƣu điểm tích cực của hai nền nông nghiệp (nông nghiệp hóa học và nông nghiệp hữu cơ) một cách hợp lý và có chọn lọc nhằm thỏa mãn nhu cầu hiện tại nhƣng không gây thiệt hại đến các nhu cầu của các thế hệ tƣơng lai; thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của con ngƣời về sản phẩm nông nghiệp nghĩa là phải đạt năng suất cao phẩm chất nông sản tốt với mức đầu tƣ vật chất ít và hiệu quả kinh tế cao” [33]. 10 Nông nghiệp hàng hóa là “một nền nông nghiệp hình thành và phát triển đa dạng vật nuôi và cây trồng một cách hợp lý. Trên cơ sở chuyên môn hóa theo ngành vùng với ƣu thế nội lực gắn với công nghiệp chế biến và thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm theo lộ trình của ngành, của vùng đạt hiệu quả cao” [33].