Luận văn: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thúc đẩy CNH, HĐH TP.HCM

Luận văn thạc sĩ phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao TP.HCM, thúc đẩy CNH, HĐH đến năm 2025.

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

107
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Nguồn nhân lực chất lượng cao (NNL CLC) là những cá nhân có năng lực thể chất, trí lực, kinh nghiệm sống và phẩm chất đạo đức vượt trội, góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Tại TP.HCM, phát triển NNL CLC không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là chìa khóa để nâng cao năng lực cạnh tranh kinh tế. Tiêu thức xác định NNL CLC bao gồm trình độ học vấn cao, kỹ năng chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn và khả năng thích ứng với thay đổi công nghệ. Chỉ số phát triển nhân lực (HDI) cho thấy tầm quan trọng của đầu tư vào đào tạo và phát triển nhân lực bền vững.

1.1. Định nghĩa và đặc điểm nguồn nhân lực chất lượng cao

NNL CLC là những lao động có trình độ học vấn từ cao đẳng trở lên, sở hữu kỹ năng kỹ thuật chuyên biệt, kiến thức chuyên sâu và khả năng sáng tạo. Họ được xác định qua nhiều tiêu chí: năng lực thể chất tốt, trí lực phát triển, chỉ số HDI cao, kinh nghiệm thực tiễn phong phú, phẩm chất đạo đức vững chắc và thái độ làm việc chuyên nghiệp. Ở TP.HCM, nhóm NNL này đóng vai trò nòng cốt trong sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ hiện đại.

1.2. Vai trò NNL chất lượng cao trong công nghiệp hóa hiện đại hóa

Phát triển NNL CLC thúc đẩy CNH, HĐH tại TP.HCM là nhu cầu bức thiết của quá trình hội nhập quốc tế. NNL CLC là động lực chính tạo ra giá trị gia tăng cao, ứng dụng công nghệ tiên tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Những nhân lực có trình độ cao và kỹ năng chuyên môn giúp doanh nghiệp cải tiến quy trình sản xuất, quản lý hiệu quả và thích ứng với xu hướng thị trường toàn cầu.

II. Thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại TP

Thực trạng phát triển NNL CLC ở TP.HCM cho thấy những điểm sáng nhưng cũng tồn tại nhiều thách thức. Hệ thống đào tạo trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học đã phát triển khá, tuy nhiên chất lượng vẫn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của các doanh nghiệp. Quy mô NNL CLC tăng dần nhưng sự chuyển dịch cơ cấu theo ngành kinh tế vẫn chậm. Chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao còn hạn chế so với các thành phố khác trong khu vực. Ngoài ra, sự kết nối giữa đào tạo và nhu cầu thực tiễn của công nghiệp hóa, hiện đại hóa chưa đủ sâu sắc.

2.1. Hệ thống đào tạo và quy mô nhân lực chất lượng cao

Hệ thống đào tạo NNL CLC tại TP.HCM bao gồm hệ trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và sau đại học. Có hơn 100 cơ sở đào tạo chính quy, với tổng sinh viên trên 300.000. Tuy nhiên, cơ cấu đào tạo còn chênh lệch giữa các ngành, trong đó ngành công nghệ thông tin, kỹ thuật điện tử được ưu tiên. Chất lượng đào tạo vẫn phụ thuộc lớn vào đầu tư cơ sở vật chất và năng lực giảng viên.

2.2. Những bất cập và thách thức trong phát triển nhân lực

Những bất cập chính bao gồm: sự bất mạnh của kỹ năng thực hành so với lý thuyết, khoảng cách giữa chương trình đào tạo và yêu cầu của công nghiệp 4.0, hạn chế trong thu hút giáo sư, chuyên gia nước ngoài, và sự mất cân đối trong cơ cấu ngành. Thêm vào đó, chính sách đãi ngộ chưa cạnh tranh với các nước phát triển, dẫn đến tình trạng di cư nhân tài.

III. Dự báo nhu cầu và phương hướng phát triển đến năm 2025

Dự báo nhu cầu NNL CLC thúc đẩy CNH, HĐH tại TP.HCM đến 2025 cho thấy sự gia tăng mạnh mẽ. Giai đoạn 2017-2025, nhu cầu nhân lực các ngành trọng điểm như công nghệ thông tin, năng lượng tái tạo, sản xuất xanh sẽ tăng vọt. Phương hướng cơ bản là hội nhập quốc tế sâu rộng, mở rộng thị trường lao động chất lượng cao, và phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất hiện đại. Mục tiêu chính là có 40-50% lực lượng lao động có trình độ cao đẳng trở lên, tăng tỷ lệ nhân lực kỹ thuật từ 25% lên 35%. TP.HCM cần xây dựng chiến lược phát triển NNL CLC đồng bộ, lâu dài nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động toàn cầu.

3.1. Dự báo nhu cầu nhân lực các ngành trọng điểm

Dự báo cho thấy nhu cầu NNL CLC tại TP.HCM giai đoạn 2025 tập trung vào: công nghệ thông tin (tăng 45%), năng lượng tái tạo (tăng 35%), sản xuất xanh (tăng 40%), hàng không vũ trụ, và y tế hiện đại. Các ngành này yêu cầu nhân lực có kỹ năng chuyên môn cao, khả năng sáng tạo, và thích ứng nhanh với thay đổi công nghệ. Đây là cơ hội lớn nhưng cũng là thách thức đối với hệ thống giáo dục.

3.2. Mục tiêu và chiến lược phát triển bền vững

Mục tiêu chủ yếu đến 2025 là nâng tỷ lệ NNL CLC lên 50% lực lượng lao động, tăng số thạc sĩ, tiến sĩ gấp 1,5 lần, và cải thiện chất lượng đào tạo theo chuẩn quốc tế. Chiến lược bao gồm: cải cách giáo dục phù hợp yêu cầu hiện đại hóa, tăng cường liên kết đào tạo-doanh nghiệp, nâng lương, đãi ngộ chuyên gia, và phát triển các trung tâm nghiên cứu chất lượng cao tại TP.HCM.

IV. Các giải pháp cơ bản phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Để phát triển NNL CLC thúc đẩy CNH, HĐH tại TP.HCM đến 2025, cần áp dụng một số giải pháp cơ bản và chiến lược. Thứ nhất, xác định vai trò quyết định của phát triển NNL CLC trong kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội tổng thể. Thứ hai, hoạch định chính sách phát triển NNL CLC hợp lý, bao gồm tăng cường đầu tư giáo dục, cải thiện cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Thứ ba, cải cách giáo dục phù hợp với yêu cầu đổi mới công nghệ, nhấn mạnh kỹ năng thực hành, tư duy sáng tạo, và khả năng làm việc theo nhóm. Thứ tư, xây dựng chiến lược bồi dưỡng, sử dụng và phát triển NNL CLC hợp lý, đồng bộ với hệ thống chuẩn chỉ quốc tế.

4.1. Cải cách giáo dục và đào tạo chuyên môn kỹ thuật

Cải cách giáo dục tại TP.HCM cần tập trung vào: điều chỉnh chương trình học theo nhu cầu công nghiệp 4.0, tăng kỹ năng thực hành từ 30% lên 50%, đưa công nghệ mới vào giảng dạy, đặc biệt AI, big data, và lập trình. Cần phát triển các trường chuyên biệt về kỹ thuật, công nghệ với cơ sở vật chất hiện đại. Đồng thời, tăng cường liên kết đào tạo-doanh nghiệp qua các chương trình học kỳ làm việc, thực tập tại doanh nghiệp, và đạo tạo song song.

4.2. Chính sách thu hút duy trì và phát triển nhân lực xuất sắc

Cần xây dựng chính sách ưu đãi để thu hút và duy trì NNL CLC tại TP.HCM: tăng mức lương, cấp bằng cấp hợp lý, cung cấp nhà ở giá tốt, hỗ trợ gia đình, cơ hội học tập nước ngoài, và nhấn mạnh phát triển sự nghiệp dài hạn. Cần có chương trình tài trợ cho các nhân tài, học bổng tiếp tục học cao hơn, và các hoạt động kết nối nhà khoa học-doanh nhân.

22/12/2025
Luận văn thạc sĩ phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thúc đẩy công nghiệp hóa hiện đại hóa tại thành phố hồ chí minh đến năm 2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC, NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO THÚC ĐẨY CNH, HĐH 1.1 LÝ LUẬN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO VÀ CÁC TIÊU THỨC XÁC ĐỊNH 1.1 Quan niệm về nguồn nhân lực (Human resource-HR) Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực (Trần Xuân Cầu, 2008), nguồn nhân lực là nguồn lực con người, nguồn nhân lực nằm ngay trong bản thân con người, khác nhau cơ bản với các nguồn lực khác (nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất.) là ở chỗ: trong quá trình vận động, NNL chịu tác động của yếu tố tự nhiên (sinh ra, chết đi.) và yếu tố xã hội (việc làm, thất nghiệp). NNL còn được hiểu như là yếu tố tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển kinh tế xã hội, là tổng thể những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động. Với cách hiểu này, NNL là năng lực lao động của xã hội, bao gồm những người có khả năng lao động - bộ phận chủ yếu trong NNL. Trong lý luận về lực lượng sản xuất (LLSX), con người là yếu tố quan trọng trong LLSX, quyết định sự vận động và phát triển của LLSX, quyết định quá trình sản xuất và do đó quyết định năng suất lao động và tiến bộ xã hội.

Lênin đã chỉ rõ “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động”. Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO), NNL của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng lao động. NNL được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, NNL bao gồm, nguồn lao động cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội và cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Do đó, NNL bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường.

Theo nghĩa hẹp, NNL là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, như các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động sản xuất, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động, 14 tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động. Theo nghĩa này, NNL được sử dụng phổ biến trong các lý thuyết lao động xã hội và trong các cuộc điều tra lao động – việc làm. Trong thuyết về tăng trưởng kinh tế, NNL là nguồn lực chủ yếu tạo động lực cho sự phát triển. Do vậy, bất cứ hiện tượng thiếu hoặc thừa sức lao động đều ảnh hưởng đến tốc độ tăng trường kinh tế.

Theo thuyết về vốn con người (Human resource), thì yếu tố con người được xem như là một trong các nguồn lực khác (vốn, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên.) và là yếu tố quan trọng nhất của quá trình sản xuất, là phương tiện để phát triển kinh tế - xã hội. Đầu tư cho con người có tỷ lệ thu hồi vốn cao và mang lại nguồn lợi lớn hơn so với đầu tư vật chất. Ngân hàng thế giới (WB) cho rằng: NNL được hiểu là toàn bộ vốn con người (bao gồm thể lực, trí tuệ, kỹ năng nghề nghiệp) mà mỗi cá nhân sở hữu. Nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các nguồn vốn vật chất khác như tiền, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên.

Đầu tư cho con người là đầu tư quan trọng nhất trong các loại đầu tư và được coi là vững chắc cho sự phát triển bền vững. Liên Hợp quốc coi nguồn lực con người là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước. Quan niệm này xem xét NNL chủ yếu ở phương diện chất lượng con người và vai trò, sức mạnh của nó đối với sự phát triển xã hội. Do vậy, tập trung phát triển con người sẽ đem lại tốc độ phát triển cao, ổn định và công bằng hơn trong phân phối lợi ích của sự phát triển.

Ở Việt Nam, theo Hoàng Chí Bảo (1993): NNL là sự kết hợp giữa thể lực và trí lực thể hiện khả năng sáng tạo, chất lượng, hiệu quả hoạt động và triển vọng mới phát triển của con người. Phạm Minh Hạc và cộng sự (1996), cho rằng, NNL là số dân và chất lượng con người bao gồm cả thể chất là tinh thần, sức khỏe và trí tuệ năng lực phẩm chất. Nguồn lực con người là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương tức là nguồn lao động được chuẩn bị ở các mức khác nhau, sẵn sàng tham gia vào một công việc lao động nào đó, tức là người lao động 15 có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của chuyển đổi cơ cấu lao động, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH; Nguyễn Bình Đức (2012), thì nhân lực là nguồn lực trong mỗi con người. Đó là tổng thể thống nhất hữu cơ giữa tiềm năng lao động với năng lực lao động hiện có của con người hình thành nên năng lực lao động của họ.

Như vậy, nghiên cứu NNL của một quốc gia có những đặc điểm quan trọng là: NNL là con người, là yếu tố cơ bản, quyết định quá trình sản xuất; NNL là tổng hòa giữa năng lực xã hội và tính năng động xã hội của con người; Là một bộ phận dân số, là nguồn cung cấp sức lao động của xã hội do đó có tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế; Là tiềm năng và sức mạnh của con người, phản ánh khả năng lao động của xã hội, là tổng hòa thể lực và trí lực của lực lượng lao động. Từ những quan niệm trên về nguồn nhân lực, tiếp cận dưới góc độ của Kinh tế chính trị có thể hiểu: NNL là tổng hòa thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước (Vũ Đình Tấn, 2010). Với cách tiếp cận này, con người được coi là “tài nguyên đặc biệt”, một nguồn lực cho sự phát triển kinh tế. Phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực.2 Nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 1.1 Nguồn nhân lực chất lượng cao Theo quan điểm của C.Mác, những người có trình độ, có khả năng ứng dụng những thành tựu của khoa học – kỹ thuật vào sản xuất, đó là những người có năng lực phát triển toàn diện, đủ đức tinh thông và nắm nhanh chóng toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn (C.

Phạm Đình Hạt (2003), NNL CLC là đội ngũ nhân lực có trình độ và năng lực cao, là lực lượng xung kích tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến, thực hiện có 16 kết quả việc ứng dụng vào điều kiện nước ta, là hạt nhân lĩnh vực của mình vào CNH, HĐH được mở rộng theo kiểu “vết dầu loang” bằng cách dẫn dắt những bộ phận công nhân có trình độ và năng lực thấp hơn, đi lên tốc độ nhanh. Nguồn nhân lực chất lượng cao còn được hiểu như một khái niệm là vốn con người. Trần Thọ Đạt (2007) cho rằng vốn con người là kết quả của quá trình đầu tư vào các hoạt động nhằm nâng cao năng suất lao động cá nhân như giáo dục, y tế, đào tạo tại chỗ. Bùi Thị Ngọc Lan (trích dẫn: Nguyễn Thị Thanh Liên, 2011) nhân lực chất lượng cao phải có đủ kiến thức và kỹ năng chuyên môn nghề nghiệp; làm chủ được các thiết bị, công nghệ hiện đại; sử dụng được một ngoại ngữ trong chuyên môn giao tiếp; có kỹ năng xã hội, giao tiếp, ứng xử, hợp tác, năng lực hoạt động sáng tạo; tác phong lao động công nghiệp, có lương tâm nghề nghiệp và sức khỏe tốt.

Nguyễn Trọng Chuẩn (trích: Lê Thị Thanh Mai, 2011) cho rằng NNL CLC là khái niệm chỉ lực lượng lao động có học vấn, có trình độ chuyên môn cao và nhất là có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất, là một yếu tố then chốt nhằm phát triển kinh tế bền vững. Đinh Sơn Hùng và Trần Gia Đinh (2011) cho rằng NNL CLC là khái niệm để chỉ những người lao động đã được đào tạo, có trình độ học vấn, trình độ tay nghề cao (về chuyên môn và kỹ thuật) tương ứng với một nghề cụ thể theo một tiêu chí phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định (đại học, trên đại học, cao đẳng, lao động kỹ thuật lành nghề) và trên thực tế có kỹ năng lao động giỏi. Chu Hảo (2012) cho rằng NNL CLC trước hết phải được thừa nhận trên thực tế, không phải ở dạng tiềm năng. Có nghĩa là không đồng nghĩa với học vị cao.

NNL CLC là những người có năng lực thực tế hoàn thành nhiệm vụ được giao một cách xuất sắc nhất, sáng tạo và có đóng góp thực sự hữu ích cho công việc xã hội. Qua những quan niệm trên, có thể hiểu nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ một người, một lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn kỹ thuật nhất định (lao động kỹ thuật lành nghề, trên đại học). Giữa chất lượng NNL và 17 NNL CLC có quan hệ chặt chẽ với nhau trong mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng. Nói đến chất lượng NNL là muốn nói đến tổng thể NNL của một quốc gia, trong đó NNL CLC là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng, là nhóm tinh túy nhất, có chất lượng nhất, cho nên khi nói về NNL CLC không thể đặt nó trong tổng thể vấn đề chất lượng NNL nói chung của đất nước (Nguyễn Đình Luận, 2005).

Nguồn nhân lực chất lượng cao là NNL phải đáp ứng được yêu cầu của thị trường (yêu cầu của doanh nghiệp trong và ngoài nước), đó là: có kiến thức: chuyên môn, kinh tế, tin học; có kỹ năng, kỹ thuật, tìm và tự tạo việc làm; có thái độ, tác phong làm việc tốt, trách nhiệm với công việc (Hoàng Văn Liên, 2006).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ