phần mở đầu, kết luận danh mục tài liệu tham khảo và mục lục, luận văn được kết cấu gồm 2 chương với 4 tiết. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. NỘI DUNG Chƣơng 1: NGUỒN NHÂN LỰC VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở TỈNH SƠN LA HIỆN NAY 1. Quan niệm, đặc điểm của nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội 1.
Quan niệm về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực Thứ nhất, quan niệm về nguồn nhân lực Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực của sự phát triển kinh tế như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người,. Trong các nguồn lực đó, nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chất quyết định đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay. Một nước cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc, kỹ thuật hiện đại nhưng không có những con người có trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó thì khó có khả năng có thể đạt được sự phát triển như mong muốn. Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, Đảng ta luôn xác định: con người Việt Nam có truyền thống yêu nước, cần cù, sáng tạo, có nền tảng văn hóa, giáo dục, có khả năng bắt nhanh khoa học và công nghệ là nguồn lực quan trọng nhất - nguồn năng lực nội sinh.
Vậy nguồn nhân lực là gì ? Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Theo Liên Hợp Quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước” [63, tr. Ngân hàng thế giới (WB) cho rằng, nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp,. của mỗi cá nhân.
Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com công nghệ, tài nguyên thiên nhiên [63, tr. Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO), nguồn nhân lực là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động [60, tr. Ở đây, nguồn nhân lực được hiểu ở hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường.
Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân có thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực, tâm lực của họ được huy động vào quá trình lao động. Kinh tế học phát triển cho rằng, nguồn nhân lực là một bộ phận dân cư trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực được xem xét, đánh giá ở hai phương diện: số lượng và chất lượng. Số lượng nguồn nhân lực là chỉ quy mô, cơ cấu tuổi, giới tính; chất lượng nguồn nhân lực là khả năng tổng hợp về thể lực, trí lực, kỹ năng, phong cách, đặc điểm lối sống, tinh thần và đặc biệt là khả năng nghiên cứu, sáng tạo, tiếp thu tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ mới phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Nguồn lao động là tổng số những người trong độ tuổi lao động đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm. Nguồn lao động cũng được hiểu trên hai phương diện: số lượng và chất lượng. Như vậy, có một bộ phận người lao động được tính là nguồn nhân lực nhưng lại không phải là nguồn lao động, đó là những người không có việc làm nhưng không có nhu cầu tìm việc làm, những người trong độ tuổi lao động nhưng đang đi học,…. Bảo đảm nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế, xã hội, chính là đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng cả về số lượng và chất lượng.
Theo thuyết về vốn con người (Human resource), thì yếu tố con người được coi là yếu tố quan trọng nhất của quá trình sản xuất, là phương tiện để 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn nhân lực được coi như mọi nguồn lực khác (như vốn, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên, đất đai.), cho nên cần phải đầu tư cho con người. Trên thực tế việc đầu tư cho con người có tỷ lệ thu hồi vốn khá cao và mang lại nguồn lợi lớn hơn so với đầu tư vật chất [60, tr. Từ những quan niệm trên, và tiếp cận dưới góc độ chính trị - xã hội có thể hiểu: Nguồn nhân lực là tổng hòa thể lực, trí lực, kỹ năng, tinh thần và số lượng, cơ cấu của lực lượng lao động xã hội tại một quốc gia (hay một địa phương), được sử dụng, khai thác, phát triển và phát huy trong các hoạt động kinh tế, xã hội, để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội trong hiện tại và tương lai.
Thứ hai, quan niệm về phát triển nguồn nhân lực Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một “tài nguyên đặc biệt”, một nguồn lực của sự phát triển kinh tế. Bởi vậy việc phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực. Chăm lo đầy đủ con người là yếu tố bảo đảm chắc chắn nhất cho sự phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia. Đầu tư cho con người là đầu tư có tính chiến lược, là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững.
Cho đến nay, do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau, nên vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau khi bàn về phát triển nguồn nhân lực. Theo TS Phạm Tất Thắng trong bài viết “đổi mới giáo dục để phát triển nguồn nhân lực phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa” phát triển nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa. Với nghĩa hẹp: đó là một quá trình giáo dục, đào tạo và đào tạo lại; trang bị, bổ sung thêm nhiều kiến thức, kỹ năng. để con người có cơ hội tìm việc làm mới và hoàn thành nhiệm vụ mà họ đang thực thi trong một tổ chức.
Với nghĩa rộng: phát triển nguồn nhân lực còn bao gồm cả yếu tố sử dụng nhân lực một cách hợp lý, tạo môi trường làm việc thuận lợi để con người lao động có hiệu quả [60, tr. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Có quan điểm cho rằng, “phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các cơ chế, chính sách và biện pháp hoàn thiện, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của toàn xã hội (phẩm chất về trí tuệ, thể chất, tâm lý - xã hội) và điều chỉnh hợp lý về số lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển” [24, tr. Một số tác giả khác lại quan niệm: phát triển nguồn nhân lực chính là sự biến đổi số lượng và chất lượng nguồn nhân lực về các mặt cơ cấu, thể lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần v. cần thiết cho công việc, nhờ vậy mà phát triển được năng lực của họ, ổn định được công ăn việc làm, nâng cao địa vị kinh tế - xã hội và cuối cùng là đóng góp cho sự phát triển xã hội [63, tr.
Vũ Văn Phúc trong báo cáo đề dẫn hội thảo khoa học: “Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” phát triển nguồn nhân lực là sự biến đổi về số lượng và chất lượng trên các mặt thể lực, trí lực, kỹ năng và tinh thần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu nhân lực. Nói một cách khái quát nhất, phát triển nguồn nhân lực chính là quá trình tạo lập và sử dụng năng lực toàn diện của con người, vì sự tiến bộ kinh tế, xã hội [60, tr. Từ những luận điểm trình bày trên, có thể quan niệm: Phát triển nguồn nhân lực là sự biến đổi nguồn nhân lực về thể lực, trí lực, kỹ năng, tinh thần và số lượng, cơ cấu của đội ngũ lao động, nhằm sử dụng, phát triển và phát huy toàn diện nhân tố con người vì sự tiến bộ kinh tế, xã hội và sự hoàn thiện bản thân mỗi con người. Do vậy, nội dung cơ bản phát triển nhân lực của tỉnh Sơn La cần tập trung vào các vấn đề chủ yếu sau: thứ nhất, gia tăng về số lượng nhân lực có trình độ chuyên môn, nghề nghiệp; thứ hai, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; thứ ba, chuyền dịch cơ cấu nhân lực theo hướng tiến bộ; thứ tư, phát huy một số tố chất tích cực tiêu biểu của nhân lực tỉnh Sơn La.
14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khi xem xét nguồn lực con người, đòi hỏi có quan điểm toàn diện, phải nhìn nhận con người với tất cả hiện trạng, tiềm năng, đặc điểm và sức mạnh của nó đối với sự phát triển xã hội ở cả phương diện là chủ thể lẫn phương diện là khách thể. Phát triển nguồn lực con người, ngoài việc quan tâm nâng cao mặt bằng và đỉnh cao dân trí, bồi dưỡng và nâng cao sức khỏe cho mỗi cá nhân, cho cộng đồng xã hội, còn phải chú ý đến việc xây dựng đạo đức, nhân cách, lý tưởng cao quý của con người. Như vậy, phát triển nguồn nhân lực với nội hàm trên đây thực chất là đề cập đến vấn đề chất lượng nguồn nhân lực và khía cạnh xã hội của nguồn nhân lực của một quốc gia. Nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ những người lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định (Đại học, trên đại học, cao đẳng, lao động kỹ thuật lành nghề).
Giữa chất lượng nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng.