phần mở đầu, kết luận và danh mục tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 7 tiết, 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Vấn để phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước có ý nghĩa rất quan trọng cho sự phát triển của đất nước nên đã được nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu trên nhiều phương diện khác nhau: Thứ nhất: Về lý luận nguồn nhân lực với tư cách là động lực cho phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế Việt Nam, gắn liền với sự nghiệp công. nghiệp hóa, hiện đại hóa dat nước được phân tích va thể hiện trong các công, trình sau: “Sit dụng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hỏa, hién dai hóa ở nước ta” của Trần Kim Hải (Luận án Tin sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1999); “lấn để phát huy và sử dụng đúng đắn vai trò động lực của con người trong sự phát triển kinh tế - xã hội" (Đề tài khoa học cấp nhà nước KX.Lé Hau Ting làm chủ nhiệm); lực con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá (Đoàn Văn Khái, luận án tiến sĩ triết học, bảo vệ nãm 2000) “Phat triển nguôn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá" (Nguyễn Thanh, luận án tiến sĩ triết học, bảo vệ năm 2002); “Vai trò của nhân tố chủ quan trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay” (Nguyễn Thị Bích Thuỷ, luận án tiến sĩ triết học, bảo vệ năm 2006) “Lại bàn về phát triển nhân lực” (Lê Bách, Tạp chỉ phát triển nhân lực, s6 (2) - 2007); “Van dé xây dung con người và phát triển nguỗn nhân lực trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam " (TS. Hà Văn Ánh, Tạp chí Phát triển nhân lực, số (1) - 2007); “Nguồn lực và động lực cho phát triển phát triển nhanh và bên vững.
nên kinh tễ Việt Nam giai đoạn 2011-2020” của PGS. TS, Ngô Doãn Vịnh chủ biên, (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011) và các công trình khác. “Trong những công trình nói trên, tiếp cận dưới góc độ Triết học, Kinh tế học và Xã hội học, các tác giả đã làm rõ: Bản chất của con người trong các quá trình xã hội; nguồn lực con người, phát huy nguồn lực con người như thế nào; các khái niệm “nguồn nhân lực” và “phát triển nguồn nhân lực”; nguồn nhân lực với tư cách vừa là chủ thể vừa là động lực của quá trình công nghiệp. hoá, hiện đại hoá, đồng thời là sản phẩm của quá trình này.
Các tác giả đều nhất trí rằng, phát triển ở Việt Nam không thể thành công nếu thiếu một nguồn nhân lực đổi đào về số lượng, mạnh vẻ chất lượng với cơ cấu ngảnh nghề hợp lý. Tuy nhiên, các công trình nói trên chi tập trung phân tích kỹ vẻ số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực, mã chưa đi sâu phân tích đến hai phương. diện quan trọng khác liên quan trực tiếp đến nguồn nhân lực: 1 - Cơ cấu nguồn nhân lực (cơ cấu về độ tuổi, về trình độ, phân bố về ngành nghề lãnh. thổ của nguồn nhãn lực); 2 - Vấn đẻ sử dụng nguồn nhân lực.
Trong luận văn, tác giả sẽ chú ý nhiều đến hai phương diện nảy khi bản vẻ phát triển nguồn nhân lực của Quảng Nam. Thứ hai, về chiến lược, con đường và giải pháp phát triển nguồn nhân lực được thể hiện trong những công trình tiêu biểu sau: “Giáo dục - đảo tạo với phát triển nhân lực đáp ứng yêu câu đổi mới và hội nhập quốc tế của đắt nước" (Hà Minh, Tạp chí phát triển nhân lực, số (1) - 2007); “Ởfiện đại hóa giáo dục - phát triển nguôn nhân lực, chủ động hội nhập vào nên kinh tế thế giới" (Vũ Thị Mai Oanh, Tạp chí Phát triển nhân lực, số (1) - 2007): “Đội ngữ khoa học và công nghệ - thực trạng, chính sách và kiến nghị” (GS. Nguyễn Duy Quy, Tạp chí Phát triển nhân lực, số (3) - 2007); “Máy suy nghĩ vẻ vấn để trọng dụng nhân tài ở nước ta hiện nay” (TS. Phạm Công Nhất, Tạp chí Phát triển nhân lực, số (3) - 2007); “Dao tao, bôi dưỡng và tái bôi dưỡng cán bộ, công chức là một công cụ phát triển nhân lực ” (Nguyễn Thanh Bình, Tạp chí Phát triển nhân lực, số (6) - 2008; “Khai thác và phát triển tài nguyên nhân lực Việt Nam " của Bộ kế hoạch và đầu tư, trung tâm thông tin và dự báo kinh tế - xã hội quốc gia, PGS.Nguyễn Văn Phúc, Th.S Mai Thị Thu đồng chủ biên (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012); “Phát triển nguồn nhân lực đáp tứng yêu cẩu công nghiệp hoá, hiện đại hoá vẻ hội nhập quốc tế” tại Hội thảo.
khoa học - thực tiễn đăng trên Tạp chí Công sản số (9) 2012) và những công trình khác. Trong các công trình nói trên, các tác giả đều đánh giá cao vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển của đất nước; đồng thời khẳng định vai trò quyết định của giáo dục - đảo tạo đối với sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực. Nhiều công trình đã đề xuất các giải pháp kinh tế, chính sách, giáo dục, văn hoá để phát triển nguồn nhân lực. Thứ ba, vẫn đề phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở cấp vùng, tỉnh, thành phố đã có một số công trình khoa học.
và luận án nghiên cứu như: “Chiến lược phát triển nguôn nhân lực đáp ứng. êu câu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn đồng bằng sông. Cửu Long đến năm 2010” (Nguyễn Đình Luận, luận án tiến sĩ kinh tế, bảo vệ năm 2005); “Giải pháp phát triển lực lượng lao động ngành công nghiệp của thành phố Hồ Chí Minh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá" (Đăng Ngoc Tùng, luận án tiền sĩ kinh tế, bảo vệ năm 2004); “Phát triển nguồn nhân luc ving đồng bằng sông Cứu Long đến năm 2020” (Bùi Thị Thanh, luận án tiền sĩ kinh tế, bảo vệ năm 2005); “Phát triển nguôn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Tây Nguyên” (Lê Văn Thanh, luận án tiễn sĩ triết học, bảo vệ nam 2007); “Dau ne phat trién ngudn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên địa bàn tính Quảng Nam ” (Nguyễn Văn Sỹ, tạp chí cộng sản số (10) 2011 ) "Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện dai hod ở thành phố Đà Nẵng” của TS. Dương Anh Hoàng (Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012); và các công trình khác. Các luận án nói trên đã đi sâu phân tích đặc điểm công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên địa bàn vùng (hoặc tỉnh, thành); lảm rõ thực trạng nguồn nhân lực ở các địa phương; và trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực phục vụ công. nghiệp hoá, hiện đại hoá ở các địa phương đỏ. Tuy nhién, cho đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nảo nghiên cứu về vấn để phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự phát triển ở Quảng Nam một cách toàn diện.
Vì vậy, luận văn này sẽ kế thừa và vận dụng sáng tạo những thành tựu của các công trình khoa học đã công bố để làm sáng tỏ đặc điểm phát triển cùng thực trạng phát triển nguồn nhân lực của Quảng Nam. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp mang tính định hướng đề góp phần thúc đây sự phát triển nguồn nhân lực ở Quảng Nam. CHƯƠNG L CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ PHÁT TRIÊN NGUÒN NHÂN LỤ 1.1, QUAN DIEM VE BẢN CHÁT CON NGƯỜI TRONG LỊCH SỈ 1. Các quan điểm trước Mác về bản chất con người Con người luôn là chủ đề trung tâm, muôn thuở của mọi thời đại.
Từ thời cỗ đại, các trường phái triết học đã tìm cách lý giải bản chất con người, mỗi quan hệ giữa con người đối với thể giới xung quanh. Các trường phái triết học Phương Đông như Phật giáo, Hồi giáo nhận thức bản chất con người trên cơ sở thế giới quan duy tâm thần bí hoặc nhị nguyên luận. Kinh Brahman, Upanshad cho rằng: con người bao gồm thể xác và linh hỗn. Khi nhận thức được Brahman, người ta sẽ nhận thức được mọi cái còn lại và có thể giải thoát được linh hồn khỏi sự ràng buộc của thể xác và mọi khô não của đời sống trằn tục.
Linh hồn con người (Atman) chỉ là biểu hiện, là một bộ phận của “tinh thần tối cao”. Thể xác chỉ là vỏ bọc của linh hồn, là nơi trú ngụ của linh hồn. 'VẺ bản chất, linh hồn con người là đồng nhất với “linh hồn tối cao”, cũng như vạn vật trong vũ trụ chỉ là biểu hiện của Brahman. Không Tử cho rằng: con người là kết quả của âm dương trời đắt tương khắc mà thành.
Vì vậy con người phải tuân theo ý trời, hợp với đạo trung hỏa. Con người sống hay chết, giàu hay nghèo, thành hay bại. đều do “thiên mệnh” quy định. Trong triết học Phật giáo, con người là sự kết hợp giữa thê xác và linh hỗn (vật chất và tỉnh thần), hai phần nảy tồn tại độc lập với nhau.
Đời sống con người trên tran thé chi là ao giác hư vô. Vì vậy cuộc đời con người khi còn sống chỉ là “tầm gửi”, tạm bợ. Cuộc sống vĩnh hằng là phải hướng tới côi Niết bản, nơi tỉnh thần con người được giải thoát để trở thành bắt diệt. 'Các học thuyết triết học tôn giáo phương Đông đều phản ánh sai lầm về bản chất con người, hướng con người tới thể giới thần linh.
Đối với chủ nghĩa duy vật tắm thường thì họ cho rằng con người là sản phẩm tự nhiên, nhưng họ lại tách rời con người với xã hội. Con người chỉ là con người trừu tượng, con người không phụ thuộc vào thời đại, giai cap nao của bất kỳ một giai đoạn lịch sử nhất định Với Phoiơbắc - nhà triết học cỗ điển Đức cho rằng, con người sản phẩm tự nhiên, là “cái gương của vũ trụ”, thông qua đó con người nhận thức được chính bản than minh. Ban chất con người là tổng thể khả năng, nhu cầu, ham muốn cũng như năng lực tưởng tượng của mình. Những điều kiện bên ngoài như môi trường, hoàn cảnh tác động lớn đến ý thức và tư duy của con người.
Qua đó, ta thấy hạt nhân hợp lý trong quan niệm con người của ông là: khẳng định con người, xã hội loài người là sản phẩm, là một bộ phận của giới tự nhiên và năng lực của cá nhân con người trong môi trường tự nhiên đó.