CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Nguồn nhân lực trường trung học cơ sở 1. Khái niệm nhân lực, nguồn nhân lực a) Nhân lực Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đắc Hưng “Nhân lực chỉ người lao động kỹ thuật được đào tạo trong nguồn nhân lực ở một trình độ nào đó để có năng lực tham gia vào lao động xã hội. Năng lực của người lao động kỹ thuật được cấu thành bởi các yếu tố: kiến thức, kỹ năng, thái độ và thói quen làm việc”.TS Trần Xuân Cầu và PGS.TS Mai Quốc Chánh: “Nhân lực là sức lực con người, năm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động.
Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động – con người có sức lao động”.TS Nguyễn Tiệp lại cho rằng “Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người, mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực”.88] Như vậy, có thể hiểu “Nhân lực” là sức lực để hoạt động của mỗi con người, hay giải thích một cách đơn giản hơn “Nhân lực” chính là nguồn lực của mỗi con người, nguồn lực này bao gồm cả thể lực và trí lực của họ được vận dụng vào trong quá trình lao động sản xuất. Nhân lực có ảnh hưởng rất quan trọng, tác động đến nhiều mặt của tổ chức như: trình độ quản lý, trình độ sử dụng các yếu tố kinh doanh, quá trình sản xuất kinh doanh…. 12 b) Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau, phụ thuộc vào những cách tiếp cận khác nhau mà có những quan điểm khác nhau về khái niệm nguồn nhân lực. Theo Liên Hợp quốc, “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”.
Ngân hàng thế giới (WB – World Bank) lại cho rằng: “Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân.” Theo Tổ chức Lao động quốc tế - ILO (International Labour Organization), “nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng tham gia lao động”. Tại Việt Nam, khái niệm NNL cũng được sử dụng rộng rãi với nhiều góc tiếp cận khác nhau.TS Trần Xuân Cầu và PGS.TS Mai Quốc Chánh: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, nguồn lực đó được xem xét ở hai khía cạnh. Trước hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, nguồn nhân lực là nơi phát sinh ra nguồn lực nằm ngay trong bản thân con người, đó cũng là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác. Thứ hai, nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể nguồn lực của từng cá nhân con người.
Với tư cách là một nguồn lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định”[2,tr.9] Tác giả Phạm Minh Hạc trong “Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực trong thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa” cho rằng: “Nguồn nhân lực 13 cần được hiểu là dân số và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của con người lao động. Nó là tổng thể nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một số quốc gia hay địa phương nào đó.269] Tựu chung lại, nguồn nhân lực có thể được hiểu theo hai nghĩa: - Theo nghĩa rộng, NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Nguồn nhân lực chỉ toàn bộ số lượng dân cư phát triển bình thường, có thể làm việc khi cần thiết. - Theo nghĩa hẹp, NNL là khả năng lao động của xã hội, là những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động theo pháp luật quy định, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động.
Nguồn nhân lực trong tổ chức là nguồn nhân lực làm việc cho tổ chức và do tổ chức trả lương. Khái niệm nguồn nhân lực trường trung học cơ sở Trong Luật Giáo dục năm 2019, Quốc hội đã đưa ra một số quy định về trường công lập: Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 47 Luật Giáo dục năm 2019 do Quốc hội ban hành quy định về các loại hình nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân “Điều 47. Loại hình nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân 1. Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân được tổ chức theo các loại hình sau đây: a) Trường công lập do Nhà nước đầu tư, bảo đảm điều kiện hoạt động và đại diện chủ sở hữu;” 14 Tại điểm a, khoản 1 Điều 52 Luật Giáo dục năm 2019 do Quốc hội ban hành quy định về thẩm quyền, thủ tục thành lập hoặc cho phép thành lập trường như sau: “Điều 52.
Thẩm quyền, thủ tục thành lập hoặc cho phép thành lập; cho phép hoạt động giáo dục, đình chỉ hoạt động giáo dục; sáp nhập, chia, tách, giải thể nhà trường 1. Thẩm quyền thành lập trường công lập và cho phép thành lập trường dân lập, trường tư thục được quy định như sau: a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định đối với trường mầm non, trường mẫu giáo, trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường phổ thông có nhiều cấp học có cấp học cao nhất là trung học cơ sở, trường phổ thông dân tộc bán trú, trừ trường hợp quy định tại điểm d khoản này;” Khoản 1 Điều 101 Luật Giáo dục 2019: “Điều 101. Chế độ tài chính đối với cơ sở giáo dục 1. Cơ sở giáo dục công lập thực hiện quản lý các khoản thu, chi tài chính, quản lý sử dụng tài sản theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật Quản lý sử dụng tài sản công và quy định khác của pháp luật có liên quan; thực hiện chế độ kế toán, kiểm toán, thuế và công khai tài chính theo quy định của pháp luật.” Và một số quy định khác về trường công lập có thể nhắc đến như: Về nguồn tài chính, hầu hết các trường công lập hiện nay vẫn đang sử dụng nguồn tài chính chính từ ngân sách Nhà nước; Chương trình đào tạo do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định và ban hành; UBND các cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo dục đối với các trường học công lập; Có tổ chức Đảng trong nhà trường; Mức lương được quy định bởi Chính phủ… Như vậy xét theo các điều kiện trên trường THCS là một trong những trường học do Nhà nước đầu tư, thành lập, bảo đảm điều kiện hoạt động và 15 đại diện chủ sở hữu; tài chính, chương trình đào tạo, tiền lương,… do Nhà nước quy định.
Có thể nói trường THCS là một đơn vị sự nghiệp của nhà nước (hay còn gọi là đơn vị sự nghiệp công lập) cung cấp dịch vụ về giáo dục. Theo Giáo trình Quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức công của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, phạm vi của tổ chức công khá rộng và liên quan đến các tổ chức: “- Cơ quan hành chính nhà nước ở Trung Ương, - Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, - Các đơn vị sự nghiệp của nhà nước cung cấp dịch vụ công: bệnh viện và các cơ sở y tế công, các cơ sở giáo dục và đào tạo công, - Các đoanh nghiệp nhà nước cung cấp các địch vụ công.2] Tựu chung lại, trường THCS là một tổ chức công và nguồn nhân lực trường THCS chính là nguồn nhân lực trong tổ chức công.TS Trần Thị Thu & PGS.TS Vũ Hoàng Ngân, “nguồn nhân lực trong tổ chức công là những người làm việc trong các tổ chức công nêu trên” [5,tr.2] Điều 2, chương I Luật Viên chức số 58/2010/QH12 do Quốc hội ban hành năm 2010, viên chức được xác định là “công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.” Từ quy định trên có thể thấy viên chức là người làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập; trong đó đơn vị sự nghiệp công lập gồm có: bệnh viện và các cơ sở y tế công, các cơ sở giáo dục và đào tạo công. Như vậy, có thể nói nguồn nhân lực trong trường THCS chính là viên chức làm việc tại các đơn vị sự nghiệp giáo dục THCS công lập. Đặc điểm nguồn nhân lực trường trung học cơ sở Nguồn nhân lực trường THCS hay viên chức ngành giáo dục cấp THCS mang những đặc điểm riêng.
Thứ nhất, về số lượng nguồn nhân lực. Khác với các tổ chức, doanh nghiệp số lượng nhân lực trường THCS hay số lượng viên chức của mỗi trường được quy định cụ thể theo định mức của cơ quan Nhà nước. Định mức số lượng theo vị trí việc làm tại trường THCS Vị trí việc làm Định mức số lượng Hiệu trưởng 01 Giáo viên 1,9 x số lớp Tổng phụ trách Đội 01 Thiết bị, thí nghiệm 01 Giáo vụ 01 Tư vấn học sinh 01 Văn thư, thủ quỹ, kế 02 toán Dưới 20 học sinh khuyết Từ 20 học sinh khuyết tật Hỗ trợ giáo dục tật học hòa nhập học hòa nhập trở lên người khuyết tật 01 02 Trường THCS có từ 27 Trường THCS có từ 28 lớp trở xuống thuộc vùng lớp trở lên thuộc vùng 3, Thư viện, quản trị 3, có từ 18 lớp trở xuống có từ 19 lớp trở lên thuộc công sở thuộc vùng 1 và vùng 2 vùng 1 và vùng 2 01 02 (Đơn vị tính: người) Nguồn: Thông tư số 20/2023/TT-BGDĐT 17 Hai là, chất lượng nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực trường THCS có thể được đánh giá thông qua một số tiêu chí: phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm, tác phong làm việc… Phẩm chất đạo đức, lối sống đối với mỗi viên chức nhà giáo chính là điều kiện tiên quyết, quyết định đến chất lượng, hiệu quả hoạt động sư phạm, nâng cao chất lượng giáo dục.
Đây là một trong những phẩm chất cơ bản mà nguồn nhân lực giáo dục nói chung và nguồn nhân lực trường THCS cần có.