mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực tại các Cục Thuế. - Chƣơng 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực tại Cục Thuế tỉnh Thanh Hóa. - Chƣơng 3: Giải pháp phát triển nguồn nhân lực của Cục Thuế tỉnh Thanh Hóa. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÁC CỤC THUẾ 1.
Khái quát về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 1. Một số khái niệm về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực. - Khái niệm nguồn nhân lực: Về ý nghĩa sinh học, nguồn nhân lực là nguồn lực sống, là thực thể thống nhất của cái sinh vật và cái xã hội. Mác đã khẳng định: "Trong tính hiện thực của nó, bản chất con ngƣời là tổng hòa các quan hệ xã hội".
Về ý nghĩa kinh tế, nguồn nhân lực là "tổng hợp các năng lực lao động trong mỗi con ngƣời của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, địa phƣơng, đã đƣợc chuẩn bị ở mức độ nhất định và có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc hoặc vùng địa phƣơng cụ thể" [2; tr 22]. Qua quan điểm trên, có thể nói: Nguồn nhân lực đƣợc hiểu là lực lƣợng lao động xã hội, là những ngƣời lao động cụ thể và chỉ thuần túy về mặt số lƣợng ngƣời lao động. Theo quan điểm của kinh tế học phát triển, nguồn nhân lực là nguồn tài nguyên nhân sự của quốc gia hoặc của một tổ chức, là vốn nhân lực. Ở tầm vĩ mô đó là nguồn lực xã hội, ở tầm vi mô đó là một tập hợp của rất nhiều cá nhân, nhân cách khác nhau với những nhu cầu và tâm lý khác nhau, là toàn bộ đội ngũ nhân viên của tổ chức, vừa có tƣ cách là khách thể của hoạt động quản lý vừa là chủ thể hoạt động và là động lực của tổ chức đó.
Từ góc độ hạch toán kinh tế, coi đó là vốn lao động, với phần đóng góp chi phí của nguồn vốn lao động trong sản phẩm sản xuất ra. Từ góc độ của kinh tế phát triển, ngƣời lao động trong một tổ chức đƣợc coi là nguồn nhân lực với những khả năng thay đổi về số lƣợng và chất lƣợng của đội ngũ trong quá trình phát triển của tổ chức, hay còn gọi là "vốn nhân lực, đƣợc hiểu là tiềm năng, khả năng phát huy tiềm năng của ngƣời lao động, là cái mang lại nhiều lợi ích hơn trong tƣơng lai so với những lợi ích hiện tại". Theo định nghĩa của Chƣơng trình phát triển Liên Hiệp quốc: "Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con ngƣời hiện có thực tế hoặc đang là tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội 8 trong một cộng đồng". Thực chất nguồn nhân lực là tiềm năng của con ngƣời về số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu.
Tiềm năng về thể lực con ngƣời thể hiện qua tình trạng sức khỏe của cộng đồng, tỷ lệ sinh, mức độ dinh dƣỡng của xã hội. Cơ cấu dân số thể hiện qua tháp tuổi của dân số. Năng lực thể chất của con ngƣời là nền tảng và cơ sở để các năng lực về trí tuệ và nhân cách phát triển. Tiềm năng về trí lực là trình độ dân trí và trình độ chuyên môn kỹ thuật hiện có, cũng nhƣ khả năng tiếp thu tri thức, khả năng phát triển tri thức của nguồn nhân lực.
Năng lực về nhân cách đƣợc kết tinh trong mỗi con ngƣời và cộng đồng, tạo nên bản lĩnh và tính cách đặc trƣng của con ngƣời lao động. Quan điểm trên đây nhìn nhận nguồn nhân lực một cách toàn diện, coi nguồn nhân lực không chỉ trên giác độ số lƣợng (nguồn lực lao động) mà cả về chất lƣợng (tiềm năng phát triển). Theo cách tiếp cận này, cho rằng nguồn nhân lực là tất cả các kỹ năng và năng lực của con ngƣời liên quan tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của quốc gia. Về mặt chất lƣợng của nguồn nhân lực, yếu tố trình độ chuyên môn, kỹ năng chuyên nghiệp, nhân cách, phẩm chất là những tiêu chí quan trọng trong việc đánh giá thực trạng và khả năng phát triển nguồn nhân lực của tổ chức hoặc của từng quốc gia.
Nhƣ vậy: Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động con người của một quốc gia đã được chuẩn bị ở một mức độ nhất định, có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế- xã hội của đất nước; tiềm năng đó bao hàm tổng hòa các năng lực về thể lực, trí lực, nhân cách con người của một quốc gia, đáp ứng với một cơ cấu nhất định của lao động do nền kinh tế đòi hỏi. - Khái niệm phát triển nguồn nhân lực: Từ quan điểm coi con ngƣời là trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội, phát triển nguồn nhân lực là quá trình gia tăng về kiến thức kỹ năng và năng lực của mọi ngƣời trong xã hội. Dƣới góc độ kinh tế, quá trình này đƣợc mô tả nhƣ sự tích lũy vốn con ngƣời và sự đầu tƣ vốn đó một cách hiệu quả vào sự phát triển của nền kinh tế. Dƣới góc độ của chính trị, phát triển nguồn nhân lực là nhằm chuẩn bị cho con ngƣời tham gia chín chắn vào hoạt động chính trị nhƣ là công dân của một nền dân chủ.
Dƣới góc độ của xã hội học thì phát 9 triển nguồn nhân lực là góp phần giúp mọi ngƣời biết sống một cuộc sống trọn vẹn, phong phú hơn; con ngƣời tiến từ cá nhân thành nhân cách, thành con người xã hội. Phát triển nguồn nhân lực đƣợc hiểu là "cả một quá trình quan trọng mà qua đó sự lớn mạnh của cá nhân hay tổ chức có thể đạt đƣợc những tiềm năng đầy đủ nhất của họ theo thời gian" [12; tr 23]. Phát triển nguồn nhân lực là một "quá trình làm biến đổi về số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của nền kinh tế- xã hội", đó là tổng thể các hình thức, phƣơng pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao số lƣợng, chất lƣợng cho nguồn nhân lực (trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý - xã hội) nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển. Với quan niệm con ngƣời là động lực và đồng thời là mục tiêu của sự phát triển thì phát triển nguồn nhân lực không chỉ có mục đích làm gia tăng về thu nhập của cải vật chất, mà là mở rộng và nâng cao khả năng lựa chọn của con ngƣời đối với môi trƣờng xung quanh; tạo cho họ có cơ hội tiếp cận với điều kiện và môi trƣờng sống tốt hơn, đồng thời qua đó tăng cƣờng năng lực và tiềm năng của con ngƣời phù hợp hơn với yêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Quá trình phát triển nguồn nhân lực gồm phát triển về thể lực, trí lực, khả năng nhận thức, tiếp thu kiến thức, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con ngƣời. Nhƣ vậy, trên giác độ vĩ mô, phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động đầu tƣ nhằm tạo ra nguồn nhân lực xã hội với số lƣợng và chất lƣợng đáp ứng đƣợc nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân phù hợp với yêu cầu của môi trƣờng. Phát triển nguồn nhân lực có các cách thức sau: + Phát triển về số lƣợng: Là sự gia tăng về số lƣợng và thay đổi cơ cấu của đội ngũ nhân lực theo hƣớng phù hợp với môi trƣờng và điều kiện hoạt động mới. Sự thay đổi về cơ cấu nhân lực của quốc gia diễn ra theo cơ cấu độ tuổi, cơ cấu khu vực phân bố nhân lực và cơ cấu về giới.
+ Phát triển về chất lƣợng: Là sự gia tăng mức sống, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật và sức khỏe của các thành viên trong xã hội 10 hoặc trong tổ chức. Phát triển nguồn nhân lực là một hoạt động hƣớng đích, phát triển nguồn nhân lực có các mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn. Có thể nêu một số mục tiêu ngắn hạn của phát triển nguồn nhân lực trong một tổ chức nhƣ sau: + Chuẩn bị nhân sự để đảm nhận những nhiệm vụ trách nhiệm mới; + Đào tạo nhân sự mới để thích nghi với hệ thống và quá trình tổ chức của đơn vị. Nâng cao năng lực và kỹ năng của đội ngũ nhân lực để họ có thể thực hiện nhiệm vụ một cách hiệu quả hơn.
Xây dựng đội ngũ nhân lực cho những thử thách mới của tổ chức trong điều kiện hoạt động mới, hoặc cho sự sự phát triển tăng tiến của chính nhân sự đó. + Tạo môi trƣờng thuận lợi về vật chất tinh thần cho sự phát triển của đội ngũ nhân viên. Ý nghĩa của phát triển nguồn nhân lực. - Đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Phát triển kinh tế - xã hội đƣợc dựa trên nhiều nguồn lực: Nhân lực (nguồn lực con ngƣời), vật lực (nguồn lực vật chất), tài lực nguồn lực về tài chính, tiền tệ), vv., song chỉ có nguồn lực con ngƣời mới tạo ra động lực cho sự phát triển, những nguồn lực khác muốn phát huy đƣợc tác dụng chỉ có thể thông qua nguồn lực con ngƣời.
Đối với nƣớc ta có nền kinh tế đang phát triển, dân số đông, nguồn nhân lực dồi dào đã trở thành nguồn nội lực quan trọng nhất. Nếu biết khai thác nó sẽ tạo nên một động lực to lớn cho sự phát triển. Phát triển kinh tế - xã hội là nhằm mục tiêu phục vụ con ngƣời, làm cho cuộc sống con ngƣời ngày càng trở lên tốt hơn, xã hội ngày càng văn minh. Con ngƣời không chỉ là mục tiêu, động lực của sự phát triển, thể hiện mức độ chế ngự tự nhiên, bắt thiên nhiên phải phục vụ con ngƣời mà còn tạo ra những điều kiển để hoàn thiện chính bản thân con ngƣời.
Trong thế giới hiện đại, con ngƣời ngày càng nhận thức r hơn về vai trò quyết định của nguồn nhân lực trong quá trình phát triển. Một nền kinh tế muốn tăng trƣởng nhanh và bền vững phải dựa vào ít nhất ba trụ cột cơ bản, đó là: Áp dụng công nghệ mới; phát triển hạ tầng cơ sở và phát triển nguồn 11 nhân lực. Trong đó, nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực là yếu tố quyết định nhất, then chốt nhất.