phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc chia thành 03 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tài liệu và một số vấn đề lý luận cơ bản về phát triển nguồn nhân lực. Chƣơng 2: Phân tích, đánh giá hoạt động phát triển nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần Thực phẩm Sữa TH. Chƣơng 3: Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần Thực phẩm Sữa TH. 8 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1.1 Nguồn nhân lực 1.1 Khái niệm Nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực là một trong những vấn đề cốt lõi của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia nói chung và của doanh nghiệp nói riêng.
Cho đến nay, khái niệm nguồn nhân lực đang đƣợc hiểu theo nhiều quan điểm khác nhau. Về ý nghĩa kinh tế, nguồn nhân lực là tổng hợp các năng lực lao động trong mỗi con ngƣời của mỗi quốc gia, một vùng lãnh thổ, địa phƣơng, đã đƣợc chuẩn bị ở mức độ nhất định và có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc hoặc vùng địa phƣơng cụ thể [1]. Theo UNDP: “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con ngƣời hiện có thực tế hoặc đang là tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng”. Nhƣ vậy, nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động con ngƣời của một quốc gia đã đƣợc chuẩn bị ở một mức độ nhất định, có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc; “tiềm năng đó bao hàm tổng hòa các năng lực về thể lực, trí lực, nhân cách con ngƣời của một quốc gia, đáp ứng với một cơ cấu nhất định của lao động do nền kinh tế đòi hỏi.
Thực chất đó là tiềm năng của con ngƣời về số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu” [4]. Tiềm năng về thể lực con ngƣời thể hiện qua tình trạng sức khỏe của cộng đồng, tỷ lệ sinh, mức độ dinh dƣỡng của xã hội. Cơ cấu dân số thể hiện qua tháp tuổi của dân số. Năng lực thể chất của con ngƣời là nền tảng và cơ sở để các năng lực về trí tuệ và nhân cách phát triển.
Tiềm năng về trí lực là trình độ dân trí và trình độ chuyên môn kỹ thuật hiện có, cũng nhƣ khả năng tiếp thu tri thức, khả năng phát triển tri thức của nguồn nhân lực. Năng lực về nhân cách liên quan đến 9 truyền thống lịch sử và nền văn hóa của từng quốc gia. Nó đƣợc kết tinh trong mỗi con ngƣời và cộng đồng, tạo nên bản lĩnh và tính cách đặc trƣng của con ngƣời lao động trong quốc gia đó. Nói tóm lại, khái niệm nguồn nhân lực nên đƣợc hiểu một cách ngắn gọn là nguồn lực con ngƣời.
Đề cập đến nguồn lực con ngƣời, không chỉ có trí lực (thể hiện kỹ năng lao động, năng lực tổ chức và quản lý), thể lực mà còn có phẩm chất đạo đức, nhân cách thẩm mỹ, tác phong làm việc và sự kết hợp giữa các yếu tố đó phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở từng thời kỳ nhất định. Khái niệm nguồn nhân lực đƣợc đề cập đến trong các công trình nghiên cứu sau: “Hoàn thiện quản trị nguồn nhân lực ngành hàng không Việt Nam đến năm 2015”; “Hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực của Công ty Cổ phần Bê tông Xây dựng Hà Nội”; “Phát triển nguồn nhân lực của ngân hàng nhà nước Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”.2 Vai trò của nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Trong thế giới ngày nay, vai trò của nguồn nhân lực đang ngày càng đƣợc thừa nhận nhƣ một yếu tố quan trọng bên cạnh vốn và công nghệ của mọi sự tăng trƣởng. Do vậy, một trong những yêu cầu để hòa nhập vào nền kinh tế khu vực cũng nhƣ thế giới là phải có đƣợc một nguồn nhân lực có đủ sức đáp ứng đƣợc những yêu cầu của trình độ phát triển của khu vực, của thế giới và của thời đại. Đối với đất nƣớc, vai trò của nguồn lực con ngƣời đƣợc thể hiện trên một số phƣơng diện: (1) Trong lĩnh vực kinh tế: là một bộ phận của lực lƣợng sản xuất.
Trong xã hội, nguồn lực con ngƣời đƣợc huy động một cách đầy đủ, toàn diện và phát huy một cách có hiệu quả nhất; (2) Trong lĩnh vực chính trị: trong sự nghiệp xây dựng Nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa, con ngƣời đã đấu tranh để bảo vệ những thành quả cách mạng, đấu tranh làm thất bại mọi âm mƣu của kẻ thù và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; (3) Trong lĩnh vực văn hóa: con ngƣời sáng tạo ra những giá trị văn hóa, bảo vệ những giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc, tiếp thu những tinh hoa văn hóa của thế giới. Đối với doanh nghiệp, vai trò của nguồn nhân lực đƣợc thể hiện: (1) Nguồn nhân lực là nhân tố chủ yếu tạo lợi nhuận cho doanh nghiệp: Nguồn nhân lực 10 đảm bảo mọi nguồn sáng tạo trong tổ chức. Chỉ có con ngƣời mới sáng tạo ra các hàng hoá, dịch vụ và kiểm tra đƣợc quá trình sản xuất kinh doanh đó. Mặc dù trang thiết bị, tài sản, nguồn tài chính là những nguồn tài nguyên mà các tổ chức đều cần phải có, nhƣng trong đó tài nguyên nhân văn - con ngƣời lại đặc biệt quan trọng.
Không có những con ngƣời làm việc hiệu quả thì tổ chức đó không thể nào đạt tới mục tiêu. (2) Nguồn nhân lực là nguồn lực mang tính chiến lƣợc: Trong điều kiện xã hội đang chuyển sang nền kinh tế tri thức, thì các nhân tố công nghệ, vốn, nguyên vật liệu đang giảm dần vai trò của nó. Bên cạnh đó, nhân tố tri thức của con ngƣời ngày càng chiếm vị trí quan trọng: Nguồn nhân lực có tính năng động, sáng tạo và hoạt động trí óc của con ngƣời ngày càng trở nên quan trọng. (3) Nguồn nhân lực là nguồn lực vô tận: Xã hội không ngừng tiến lên, doanh nghiệp ngày càng phát triển và nguồn lực con ngƣời là vô tận.
Nếu biết khai thác nguồn lực này đúng cách sẽ tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của con ngƣời.2 Phát triển nguồn nhân lực 1.1 Khái niệm Theo quan điểm sử dụng năng lực con ngƣời của ILO: Phát triển nguồn nhân lực bao hàm không chỉ sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề, mà bên cạnh phát triển năng lực là làm cho con ngƣời có nhu cầu sử dụng năng lực đó để tiến đến có đƣợc việc làm hiệu quả cũng nhƣ thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân. Theo GS - TSKH Nguyễn Minh Đƣờng, “Phát triển nguồn nhân lực đƣợc hiểu là sự gia tăng giá trị cho con ngƣời trên các mặt trí tuệ, kỹ năng lao động, thể lực, đạo đức, tâm hồn… để họ có thể tham gia vào lực lƣợng lao động làm giàu cho đất nƣớc, góp phần cải tạo xã hội, cũng nhƣ phát huy truyền thống của dân tộc và góp phần tô điểm thêm bức tranh muôn màu của nhân loại. Do vậy, phát triển nguồn nhân lực phải đƣợc tiến hành trên cả 3 mặt: Phát triển nhân cách, phát triển sinh thể, đồng thời tạo ra môi trƣờng xã hội thuận lợi cho nguồn lực phát triển” [9] Phát triển nguồn nhân lực đƣợc hiểu là “cả một quá trình quan trọng mà qua đó sự lớn mạnh của cá nhân hay tổ chức có thể đạt đƣợc những tiềm năng đầy đủ nhất của họ theo thời gian” [15]. Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, các quốc gia 11 trên thế giới đều quan tâm đến sự phát triển nguồn nhân lực, tạo ra đội ngũ nhân lực có chất lƣợng, có trình độ cao, có khả năng nắm bắt khoa học công nghệ mới và ứng dụng vào sản xuất đời sống.
Phát triển nguồn nhân lực là một “quá trình làm biển đối về số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của nền kinh tế - xã hội” [15], đó là tổng thể các hình thức, phƣơng pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lƣợng cho nguồn nhân lực (trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý - xã hội) nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển. Với quan niệm con ngƣời là động lực và đồng thời là mục tiêu của sự phát triển thì phát triển nguồn nhân lực không chỉ có mục đích làm gia tăng về thu nhập, của cải vật chất mà là mở rộng và nâng cao khả năng lựa chọn của con ngƣời đối với môi trƣờng xung quanh, tạo cho họ có cơ hội tiếp cận với điều kiện và môi trƣờng sống tốt hơn, đồng thời qua đó tăng cƣờng năng lực và tiềm năng của con ngƣời phù hợp hơn với yêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế - xã hội. Quá trình phát triển nguồn nhân lực gồm phát triển về thể lực, trí lực, khả năng nhận thức, tiếp thu kiến thức, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con ngƣời. Nhƣ vậy, trên góc độ vĩ mô, phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động đầu tƣ nhằm tạo ra nguồn nhân lực xã hội với số lƣợng và chất lƣợng đáp ứng đƣợc nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân phù hợp với yêu cầu của môi trƣờng.
Phát triển nguồn nhân lực có các cách thức sau: o Phát triển về số lƣợng: là sự gia tăng về số lƣợng và thay đổi cơ cấu của đội ngũ nhân lực theo hƣớng phù hợp với môi trƣờng và điều kiện hoạt động mới. Sự thay đổi về cơ cấu nhân lực của quốc gia diễn ra theo cơ cấu độ tuổi, cơ cấu khu vực phân bố nhân lực và cơ cấu thế giới. o Phát triển về chất lƣợng: là sự gia tăng mức sống, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật và sức khỏe của các thành viên trong xã hội hoặc trong tổ chức. Trong mỗi tổ chức, phát triển nguồn nhân lực là việc phát triển về số lƣợng và chất lƣợng thông qua thực hiện các chức năng của công tác phát triển nguồn 12 nhân lực, nhằm có đƣợc một đội ngũ nhân lực phù hợp với mục tiêu và định hƣớng phát triển của tổ chức trong từng thời gian nhất định.