Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần Tiên Sơn Thanh Hóa. Chương 3: Giải pháp phát triển nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần Tiên Sơn Thanh Hóa. Luan van 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Một số khái niệm có liên quan 1. Doanh nghiệp Ngày nay, các doanh nghiệp đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế của mỗi một đất nước. Doanh nghiệp tạo ra của cải vật chất đáp ứng mọi nhu cầu đa dạng của xã hội, tạo ra việc làm và thu nhập cho hàng triệu người. Sự tăng trưởng và phát triển của mỗi đất nước phụ thuộc rất lớn vào sự vững mạnh của hệ thống các doanh nghiệp.
Vậy doanh nghiệp là gì? Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập để thực hiện các chức năng kinh doanh như sản xuất, lưu thông hàng hóa hoặc làm dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người và xã hội, và thông qua hoạt động của mình nhằm thu được lợi nhuận, lợi ích cho chủ sở hữu. Theo Khoản 10 Điều 4 của Luật doanh nghiệp năm 2020 thì doanh nghiệp được định nghĩa như sau: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” [21, tr. Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Về ý nghĩa sinh học, nguồn nhân lực là nguồn lực sống, là thực thể thống nhất của sinh vật và xã hội. Mác đã khẳng định: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các quan hệ xã hội”.
Về ý nghĩa kinh tế, nguồn nhân lực là “tổng hợp các năng lực lao động trong mỗi con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, địa phương, đã được chuẩn bị ở mức độ nhất định và có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước hoặc vùng địa phương cụ thể” [28, tr. Theo quan niệm của ILO thì lực lượng lao động là dân số trong độ tuổi lao động thực tế có việc làm và những người thất nghiệp. Đây là khái niệm về Luan van 10 nguồn nhân lực theo nghĩa tương đối hẹp, coi nguồn nhân lực là nguồn lao động hoặc là toàn bộ lực lượng lao động trong nền kinh tế quốc dân. Trong số liệu thống kê, Tổng cục Thống kê Việt Nam qui định nguồn nhân lực xã hội là những người trong độ tuổi lao động đang có việc làm và cả những người ngoài độ tuổi lao động thực tế đang làm việc và những người thất nghiệp.
Những quan điểm trên, dưới góc độ nào đấy thì nguồn nhân lực được hiểu là lực lượng lao động xã hội, là những người lao động cụ thể và chỉ thuần túy về mặt số lượng người lao động. Theo kinh tế học phát triển, nguồn nhân lực là nguồn tài nguyên về nhân sự của quốc gia hay của một tổ chức, là vốn nhân lực. Xét ở tầm vĩ mô đó là nguồn lực xã hội, ở tầm vi mô đó là một tập hợp của nhiều cá nhân, nhân cách với những nhu cầu và tâm lý khác nhau, là toàn bộ đội ngũ nhân viên của tổ chức, là khách thể của hoạt động quản lý, là chủ thể hoạt động và là động lực của tổ chức đó. Ở góc độ hạch toán kinh tế, đó là vốn lao động, với đóng góp chi phí của nguồn vốn lao động trong sản phẩm sản xuất ra.
Như vậy “vốn nhân lực, được hiểu là tiềm năng, khả năng phát huy tiềm năng của người lao động, là cái mang lại nhiều lợi ích hơn trong tương lai so với những lợi ích hiện tại” [8, tr. Theo Bùi Văn Nhơn trong sách “Quản lý và phát triển NNL xã hội” xuất bản năm 2006: “NNL doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương” [20, tr. Trong giáo trình “Quản trị nhân lực” của Đại học Kinh tế quốc dân, do Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân chủ biên (xuất bản năm 2007) thì “NNL của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này bao gồm trí lực và thể lực” [8, tr. Qua nghiên cứu về các khái niệm về NNL nêu trên, khái niệm NNL theo cách hiểu của tác giả: “NNL của một tổ chức bao gồm quy mô Luan van 11 số lượng và chất lượng của tập thể người lao động cùng làm việc trong một tổ chức, nhằm hoàn thành yêu cầu sản xuất kinh doanh của tổ chức đó”.
Nguồn nhân lực của xã hội bao gồm những người trong độ tuổi lao động (theo Bộ Luật Lao động) còn ngoài độ tuổi lao động thì phải có khả năng hoặc sẽ tham gia lao động. Số lượng nguồn nhân lực phụ thuộc vào tỷ lệ tăng dân số tự nhiên và độ tuổi lao động, chất lượng nguồn nhân lực phụ thuộc vào giáo dục đào tạo và thể chất người lao động, yếu tố di truyền, nhu cầu sử dụng lao động tại thời điểm nhất định. Ở khía cạnh nào đó có thể hiểu nguồn nhân lực đồng nghĩa với nguồn lao động, nhưng nói về nguồn nhân lực là nói tới chất lượng của lao động. Ngày nay, thế giới đang bước vào kỷ nguyên của trí tuệ và nền kinh tế trí thức đang là xu hướng của sự phát triển.
Các thành tựu khoa học đang trở thành yếu tố sản xuất và cấu thành của sản phẩm. Hàm lượng chất xám chiếm tỷ trọng trong mỗi sản phẩm cao hay thấp thể hiện khả năng cạnh tranh của ngành nghề hay quốc gia đó. Vì vậy, chất lượng của nguồn nhân lực, yếu tố trình độ chuyên môn, kỹ năng chuyên nghiệp, nhân cách phẩm chất là những tiêu chí rất quan trọng trong việc đánh giá thực trạng và khả năng phát triển nguồn nhân lực của các tổ chức hoặc của từng quốc gia. Tuỳ theo góc độ nghiên cứu nguồn nhân lực được chia theo các tiêu thức khác nhau.
- Căn cứ vào nguồn gốc: Nguồn nhân lực bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động; Hay là, nguồn nhân lực tham gia hoạt động kinh tế còn gọi là dân số hoạt động kinh tế, là số người có công ăn việc làm, đang hoạt động trong các ngành kinh tế quốc dân; hoặc là, nguồn nhân lực dự trữ gồm những người trong độ tuổi lao động nhưng vì lý do khác nhau nên chưa tham gia hoạt động kinh tế và khi cần có thể huy động, ví dụ như người làm công việc nội trợ trong gia đình, người đã tốt nghiệp trung học phổ thông và chuyên nghiệp nhưng chưa có việc làm, những người đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự. Luan van 12 - Căn cứ vào vai trò: nguồn nhân lực chính là bộ phận nằm trong độ tuổi lao động là bộ phận quan trọng nhất; Nguồn nhân lực phụ là bộ phận dân cư nằm ngoài độ tuổi lao động có thể và sẽ tham gia vào nền sản xuất xã hội đặc biệt ở các nước lạc hậu; Nguồn nhân lực bổ sung là bộ phận được bổ sung từ các nguồn khác (ví dụ như những người hết thời hạn nghĩa vụ quân sự, số người trong độ tuổi thôi học ra trường, lao động nước ngoài trở về. Phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Phát triển nguồn nhân lực là làm gia tăng giá trị cho con người trên các mặt đạo đức, trí tuệ, kỹ năng lao động, thể lực, tâm hồn… Để họ có thể tham gia vào lực lượng lao động, thực hiện tốt quá trình sản xuất và tái sản xuất tạo ra nhiều sản phẩm, góp phần làm giàu cho xã hội. Như vậy, phát triển nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể tất cả những hoạt động được doanh nghiệp hay cơ quan Nhà Nước, tổ chức trong một khoảng thời gian nhất định đạt mục đích là tạo ra những sự thay đổi tích cực trong hành vi nghề nghiệp của người lao động.
Những hoạt động này trong mục tiêu phát triển nguồn lao động sẽ do doanh nghiệp đứng ra tổ chức cho người lao động. Đó là các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong khoảng thời gian nhất định nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động theo hướng tích cực. Các hoạt động này diễn ra vài giờ, vài ngày, vài tháng hoặc thậm chí kéo dài một vài năm, nó tùy vào tính chất công việc cũng như kế hoạch đào tạo của doanh nghiệp. Từ đó nâng cao chất lượng lao động và hiệu quả sản xuất, kinh doanh cho doanh nghiệp.
Do vậy, phát triển nguồn nhân lực phải bao hàm toàn bộ các hoạt động tạo ra và đảm bảo môi trường làm việc tốt hơn cho tất cả người lao động như: Nâng cao chất lượng đào tạo và bồi dưỡng kiến thức cho người lao động; Phát triển số lượng người lao động; Xây dựng môi trường làm việc thân thiện với nhân viên. Luan van 13 Xét ở góc độ vĩ mô, phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động đầu tư nhằm tạo ra nguồn nhân lực xã hội về số lượng và chất lượng phải đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời phải đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân. Phát triển nguồn nhân lực được nhìn nhận ở hai mặt chất và mặt lượng: - Phát triển về mặt số lượng: là sự gia tăng về số lượng, thay đổi cơ cấu của đội ngũ nhân lực theo hướng phù hợp với môi trường, điều kiện hoạt động. Sự thay đổi về cơ cấu nhân lực của quốc gia theo cơ cấu độ tuổi, khu vực và cơ cấu về giới.
- Phát triển về chất lượng: là sự gia tăng mức sống, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, sức khoẻ lao động trong xã hội hoặc tổ chức. Thước đo sự phát triển nguồn nhân lực qua các thời kỳ phát triển của một quốc gia hoặc giữa các quốc gia là chỉ số phát triển con người của Liên hợp quốc. Đối với mỗi tổ chức, phát triển nguồn nhân lực là phát triển về số lượng và chất lượng thực hiện thông qua các chức năng của việc phát triển nguồn nhân lực, nhằm có một đội ngũ nhân lực phù hợp với mục tiêu và định hướng phát triển của tổ chức đó trong một thời gian nhất định.