CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. Khái niệm nguồn nhân lực Nhân lực là nguồn lực của mỗi người bao gồm cả thể lực và trí lực, thể lực thể hiện là sức khoẻ, khả năng sử dụng cơ bắp, chân tay. Nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: Gen, tầm vóc người, chế độ ăn uống, nghỉ ngơi, giới tính.
Trí lực: là suy nghĩ, sự hiểu biết của con người (bao gồm tài năng, năng khiếu, quan điểm, tính cách, lòng tin,.), khi nói đến trí lực tức là muốn nói tới khả năng làm việc bằng trí óc của con người. Như vậy, nhân lực phản ánh khả năng lao động của con người và là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình lao động sản xuất của xã hội. Về ý nghĩa sinh học, nguồn nhân lực là nguồn lực sống, là thực thể thống nhất của cái sinh vật và cái xã hội.Mác đã khẳng định: "Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội". Về ý nghĩa kinh tế, nguồn nhân lực là "tổng hợp các năng lực lao động trong mỗi con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, địa phương, đã được chuẩn bị ở mức độ nhất định và có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước hoặc vùng địa phương cụ thể".
Tài nguyên nhân lực là tất cả các thành viên trong tổ chức sử dụng kiến thức, khả năng hành vi ứng xử, giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển tổ chức. Nhân sự của một tổ chức được hình thành trên cơ sở các tác nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Tài nguyên nhân lực của các tổ chức khác nhau thì khác nhau, và do chính đặc điểm của các cá nhân trong tổ chức tạo nên. Những cá nhân của các tổ chức có năng lực, đặc điểm, tiềm năng phát triển khác nhau nên cũng tạo ra Luan van 11 những tiềm lực khác nhau về nguồn nhân lực cho mỗi tổ chức.
Việc đánh giá chính xác giá trị nguồn tài nguyên nhân sự trong một tổ chức có ý nghĩa lớn vì trên cơ sở đó nhà quản trị sẽ thực hiện có hiệu quả trong công tác quản trị nguồn nhân sự. - Theo quan niệm của Việt Nam: Nguồn lao động gồm những người đủ 15 tuổi trở lên có làm việc (gồm cả những người trên tuổi lao động thực tế đang làm việc) và những người trong tuổi lao động nhưng chưa có việc do: đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu làm việc. - Theo nghĩa tương đối hẹp: Nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lao động. - Theo nghĩa hẹp hơn: Nguồn nhân lực là toàn bộ lực lượng lao động trong nền kinh tế quốc dân (dân số hoạt động kinh tế) nghĩa là bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động đang làm việc và những người thất nghiệp.
- Theo nghĩa rộng: Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng (lao động) của con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phương đã được chuẩn bị ở một mức độ nào đó có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế xã hội. - Quan điểm của Tổng cục thống kê: Nguồn nhân lực xã hội, khi tính toán còn bao gồm những người ngoài tuổi lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân. Một số quốc gia quan niệm nguồn nhân lực quốc gia là toàn bộ những người bước vào tuổi lao động trở lên, có khả năng lao động. - Quan điểm của các doanh nghiệp: Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là số người trong danh sách các doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương.
Theo cơ cấu chức năng, nguồn nhân lực chia làm 2 loại: viên chức quản lý và công nhân. Theo thời gian làm việc, nguồn nhân lực được phân thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn, xác định thời hạn và lao động vụ việc. Luan van 12 - Theo quan điểm của kinh tế học phát triển: Nguồn nhân lực là nguồn tài nguyên nhân sự của quốc gia hoặc của tổ chức, là vốn nhân lực. Ở tầm vĩ mô đó là nguồn lực xã hội, ở tầm vi mô đó là tập hợp của rất nhiều cá nhân, nhân cách khác nhau với những nhu cầu và tâm lý khác nhau, là toàn bộ đội ngũ nhân viên của tổ chức, vừa có tư cách là khách thể của hoạt động quản lý vừa là chủ thể hoạt động và là động lực của tổ chức đó.
Từ góc độ hạch toán kinh tế, coi đó là vốn lao động, với phần đóng góp chi phí của nguồn vốn lao động trong sản phẩm sản xuất ra. Từ góc độ của kinh tế phát triển, người lao động trong một tổ chức được coi là nguồn nhân lực với những khả năng thay đổi về số lượng và chất lượng của đội ngũ trong quá trình phát triển của tổ chức, hay còn gọi là "vốn nhân lực, được hiểu là tiềm năng, khả năng phát huy tiềm năng của người lao động, là cái mang lại nhiều lợi ích hơn trong tương lai so với những lợi ích hiện tại". Từ các vấn đề trên, chúng ta có thể hiểu nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người, bao gồm cả phẩm chất, trình độ chuyên môn, kiến thức, óc sáng tạo, năng lượng, nhiệt huyết và kinh nghiệm sống của con người, nhằm đáp ứng cơ cấu kinh tế xã hội đòi hỏi. Tóm lại, Nguồn nhân lực bao gồm tất cả những người lao động trong một tổ chức, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động, là động lực nội sinh quan trọng nhất, được nghiên cứu trên góc độ số lượng, chất lượng và cơ cấu, trong đó trí tuệ, thể lực và phẩm chất, đạo đức, kỹ năng nghề nghiệp và sự tương tác giữa các cá nhân trong cộng đồng, là tổng thể các tiềm năng lao động của một ngành, một tổ chức, một địa phương hay của một quốc gia.
Phát triển nguồn nhân lực - Nguồn nhân lực là nguồn lực căn bản của mọi tổ chức: Như chúng ta đã biết, sự phát triển của tri thức là vô hạn, con người luôn phải tự tìm kiếm và khám phá ra cái mới, quá trình này luôn tiếp diễn và được thừa kế và phát Luan van 13 triển từ thế hệ này qua thế hệ khác. Khi xã hội không ngừng tiến lên, tổ chức không ngừng phát triển và con người luôn đồng hành với sự tiến lên và phát triển đó. Do đó, nguồn nhân lực là nguồn lực căn bản, không bao giờ cạn kiệt đối với mọi tổ chức. Nếu tổ chức biết cách đào tạo và khai thác tốt thì nguồn nhân lực có đóng góp rất lớn và quyết định đến sự thành công của tổ chức trong hiện tại cũng như trong tương lai.
Khi xem xét nguồn nhân lực dưới góc độ là nguồn lực của mọi tổ chức, thì năng lực lao động của con người trở thành năng lực nghề nghiệp của một nhân viên và người có năng lực nghề nghiệp tốt phải là người: có cơ thể khoẻ mạnh, có tinh thần chủ động làm việc, có ý thức sáng tạo, có khả năng thích ứng với môi trường tổ chức và văn hoá doanh nghiệp. - Nguồn nhân lực là nguồn lực năng động: Giá trị của nguồn lực con người được thể hiện dưới năng lực lao động của con người, mà năng lực lao động của con người không thể tồn tại độc lập ngoài cơ thể sống hay nói cách khác nguồn nhân lực là nguồn lực con người, mà con người thì luôn trong trạng thái động và biến chuyển phức tạp. Ngoài ra, khi nghiên cứu về giá trị của hàng hoá ta thấy rằng giá trị của hàng hoá được cấu thành bởi 2 bộ phận là “giá trị chuyển dịch” và “giá trị gia tăng”. Giá trị chuyển dịch là giá trị của những yếu tố sản xuất như: nguyên vật liệu, thiết bị.
thông qua quá trình sản xuất đã chuyển hoá giá trị vốn của nó vào sản phẩm. Do đó, giá trị chuyển dịch không tạo ra lợi nhuận. Giá trị gia tăng là phần chênh lệch giữa giá trị hàng hoá và giá trị chuyển dịch. Phần giá trị này về cơ bản là do lao động sáng tạo ra, đó chính là nguồn gốc lợi nhuận của doanh nghiệp.
Giá trị gia tăng của doanh nghiệp càng cao thì lợi nhuận sẽ càng lớn, mà muốn có giá trị gia tăng cao thì phải dựa vào kết quả và chất lượng của nguồn nhân lực. Chính vì thế, nguồn nhân lực là một nguồn lực năng động, là nguồn lực chính tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp. Luan van 14 - Nguồn nhân lực là nguồn lực mang tính chiến lược: Nguồn nhân lực là nguồn lực tích cực và năng động nhất trong các hoạt động kinh tế xã hội. Đặc biệt trong thời đại kinh tế tri thức như ngày nay, thì nguồn nhân lực ngày càng khẳng định được vai trò của nó trong tổ chức, thông qua các giá trị mà nó tạo ra.
Bên cạnh đó, nguồn nhân lực là nguồn lực cốt lõi tạo ra được nét độc đáo, sáng tạo của tổ chức. Do đó, nguồn nhân lực là nguồn lực có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của tổ chức. Đây là nguồn lực mang tính chiến lược. Như vậy, phát triển nguồn nhân lực là phát huy nhân tố con người, gia tăng toàn diện giá trị con người trên các mặt trí tuệ, thể lực, năng lực lao động, sáng tạo và bản lĩnh chính trị,.
để họ trở thành những người có năng lực, phẩm chất phù hợp với sự phát triển của doanh nghiệp nói riêng và xã hội nói chung. Hay nói cách khác, phát triển nguồn nhân lực chính là toàn bộ những hoạt động học tập được tổ chức bởi doanh nghiệp và xã hội,. các hoạt động đó có thể cung cấp trong vài giờ, vài ngày hoặc vài năm, tuỳ thuộc vào mục tiêu học tập và nhằm tao ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp cho con người theo hướng đi lên và phát triển, tức là nhằm nâng cao khả năng và trình độ nghề nghiệp của họ. Quá trình phát triển nguồn nhân lực được chia thành 3 bộ phận: Giáo dục, đào tạo và phát triển.
Các khái niệm giáo dục, đào tạo và phát triển được hiểu như sau: - Giáo dục: Là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người bước vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề mới, thích hợp hơn trong tương lai. Giáo dục nguồn nhân lực là quá trình cung cấp cho người lao động những kỹ năng cần thiết giúp họ hoàn thiện những mặt yếu kém trong công việc.