Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Giáo dục và đào tạo nghề trong phát triển nguồn nhân lực ở nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào hiện nay" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Phonvilay Phomviengxay, dưới sự hướng dẫn khoa học của Bùi Thị Ngọc Lan, bảo vệ năm 2021 tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học (mã số 9 22 90 08).

Về tính cấp thiết, văn bản chỉ rõ nguồn nhân lực là yếu tố cấu thành quan trọng của lực lượng sản xuất, quyết định sức mạnh phát triển của mỗi quốc gia trong bối cảnh kinh tế tri thức và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Tại nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân (CHDCND) Lào, công tác giáo dục và đào tạo nghề bước đầu cung cấp lực lượng lao động cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH). Tuy nhiên, chất lượng đào tạo, nhất là ở bậc cao đẳng kỹ thuật, nhìn chung còn thấp; sinh viên sau khi tốt nghiệp còn hạn chế về kỹ năng thực tế; quy mô, cơ cấu ngành nghề chưa đồng bộ. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp bách nhằm phục vụ mục tiêu chiến lược của Lào: đến năm 2030 thoát khỏi tình trạng quốc gia kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình cao và đạt các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs). Khoảng trống nghiên cứu được xác định là sự thiếu vắng một công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện dưới góc độ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học về mối quan hệ giữa giáo dục nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực tại Lào trong giai đoạn đổi mới hiện nay.

Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực trạng giáo dục và đào tạo nghề trong phát triển nguồn nhân lực ở Lào, luận án đề xuất các quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nghề trong phát triển nguồn nhân lực ở nước CHDCND Lào đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế. Văn bản xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số thứ tự như sau:

  1. Tổng quan một số công trình tiêu biểu ở Lào và nước ngoài liên quan đến đề tài, đồng thời xác định rõ những nội dung cơ bản luận án cần tập trung làm rõ.
  2. Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về giáo dục và đào tạo nghề trong phát triển nguồn nhân lực ở nước CHDCND Lào.
  3. Phân tích thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với giáo dục và đào tạo nghề trong phát triển nguồn nhân lực ở nước CHDCND Lào hiện nay.
  4. Đề xuất một số quan điểm, những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nghề trong phát triển nguồn nhân lực ở nước CHDCND Lào hiện nay.

Đối tượng nghiên cứu: Giáo dục và đào tạo nghề trong phát triển nguồn nhân lực ở nước CHDCND Lào hiện nay.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Giới hạn về nội dung: Luận án không nghiên cứu toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân mà tập trung nghiên cứu lĩnh vực giáo dục và đào tạo nghề - một bộ phận cấu thành trong hệ thống giáo dục quốc dân Lào.
  • Giới hạn về địa bàn: Tập trung nghiên cứu tại các trường, trung tâm và cơ sở dạy nghề tại Thủ đô Viêng Chăn và một số tỉnh gồm Luông Pha Băng, Sa Văn Na Khết, Chăm Pa Sắc; kết hợp dữ liệu thống kê từ Bộ Giáo dục và Thể thao, Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội Lào.
  • Giới hạn về thời gian: Từ năm 2006 đến thời điểm thực hiện luận án (năm 2021). Năm 2006 là mốc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, dấu mốc tổng kết 20 năm đổi mới và xác định đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển nguồn nhân lực.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong Chương 1, tác giả phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan theo ba nhóm chủ đề chính:

Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu về giáo dục và đào tạo nghề:

  • Cayxon Phomvihan (1995) trong tác phẩm "Quyết tâm lấy giáo dục tiến lên một bước" đã khái quát thực trạng giáo dục Lào sau giải phóng, sự gia tăng tỷ lệ dân số biết chữ và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với củng cố cơ sở vật chất trường học.
  • Nguyễn Đức Trí (2010) với "Giáo dục nghề nghiệp - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" hệ thống hóa cấu trúc hệ thống, quản lý chất lượng và tiêu chuẩn kỹ năng nghề nghiệp quốc gia.
  • Soulikhamkone Sysoulath (2013) phân tích việc cải tiến chương trình, phương tiện dạy học tại Trung tâm Phát triển giáo dục nghề nghiệp Lào.
  • Kritsman Wattana Narong (2013) nghiên cứu xu hướng biến đổi nhu cầu lao động tay nghề tại Thái Lan.
  • Bùi Thị Ngọc Lan (2014) làm rõ chính sách đào tạo nghề và nâng cao dân trí cho đồng bào Khmer vùng Tây Nam Bộ Việt Nam.
  • Võ Thành Trí (2016) đề xuất giải pháp phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại tỉnh Long An.
  • Kumudini Rosa (2017) khảo sát kỹ năng tay nghề trong nông nghiệp và công nghiệp chế biến tại Lào theo khuôn khổ Dự án Hợp tác Lào - Đức.
  • Phouvieng Keosimixay (2017), Vongpheth Khounphome (2018), Hoàng Thị Minh Phương (2018), Outhong Phetsalath (2019), Bounphenh Somchanmavong (2019), Trần Văn Dàng (2019) tập trung vào đào tạo giáo viên dạy nghề, xây dựng hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở và trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên.

Nhóm 2: Các công trình về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực:

  • Đoàn chuyên gia kinh tế Việt Nam và Lào (2005) đánh giá kế hoạch nhân lực giai đoạn 2006–2010 của Lào.
  • Lưu Tiểu Bình (2011) nghiên cứu lý luận đánh giá nhân lực tại Trung Quốc.
  • Bùi Thị Ngọc Lan (2011, 2017), Đỗ Thị Thạch (2011), Nguyễn Duy Bắc (2012), Vũ Văn Phúc và Nguyễn Duy Hùng (2012) phân tích nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ CNH, HĐH tại Việt Nam.
  • Vũ Thanh Sơn (2011) nghiên cứu cạnh tranh tuyển chọn nhân lực; Đinh Ngọc Giang (2014) khảo sát thu hút nhân tài vùng Đồng bằng sông Hồng; Hoàng Thị Ngọc Loan (2016) tổng kết kinh nghiệm quốc tế; Sysomphone Vongphachanh (2017) nghiên cứu phát huy nhân tố con người trong phát triển kinh tế - xã hội Lào; Davone Butthanouvong (2018) nghiên cứu nguồn nhân lực chất lượng cao ở Lào dưới góc độ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học; Đề tài của Bộ Nội vụ CHDCND Lào nghiên cứu Chiến lược phát triển nguồn nhân lực đến năm 2020.

Nhóm 3: Các công trình về giáo dục và đào tạo nghề trong phát triển nguồn nhân lực:

  • Tuyển tập chính luận của Lý Quang Diệu (1994) đề cập chính sách trọng dụng nhân tài tại Singapore; nghiên cứu cấp nhà nước của Thái Lan (2003) phân tích chính sách nhân lực dưới nền kinh tế sáng tạo; báo cáo phát triển con người của UNDP, ILO và WHO về mối quan hệ giữa đào tạo kỹ năng với việc làm.
  • Các nghiên cứu của Nguyễn Huy Hiệu (2011), Đường Vinh Sường (2012), Bùi Mạnh Nhị (2012), Tạ Ngọc Tấn (2012), Trần Khánh Đức (2014), Trần Văn Phòng (2021) tại Việt Nam về đổi mới giáo dục nghề nghiệp gắn với thị trường lao động.
  • Tại Lào, các tác giả Khamphan Siththidampha (2012), Buahong Khamha (2015), Phouvieng Phoumilay (2016) tiếp cận vấn đề phát triển tay nghề lao động thanh niên phục vụ hội nhập kinh tế ASEAN.

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết: Đa số công trình tiếp cận giáo dục nghề nghiệp dưới góc độ kinh tế học, quản lý nhà nước hoặc khoa học giáo dục đơn thuần, hoặc nghiên cứu chung về nhân lực ở các quốc gia khác. Chưa có công trình khoa học nào tiếp cận một cách chuyên sâu, có hệ thống dưới góc độ lý luận Chủ nghĩa xã hội khoa học để làm rõ mối quan hệ tương hỗ giữa giáo dục nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực tại Lào từ năm 2006 đến năm 2020 dựa trên dữ liệu khảo sát thực tế đa chiều.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý luận, luận án dựa trên hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội, con người vừa là chủ thể vừa là sản phẩm của lịch sử; tư tưởng kết hợp lao động sản xuất với giáo dục, đào tạo lực lượng sản xuất trực tiếp. Công trình kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo kỹ thuật, ý thức kỷ luật lao động và tư tưởng Cayxon Phomvihan về tầm quan trọng sống còn của sự nghiệp giáo dục đối với tương lai chế độ dân chủ nhân dân Lào. Bên cạnh đó, luận án vận dụng các quan điểm, chỉ thị của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào từ Đại hội VIII (2006) đến Đại hội X (2016), Luật Dạy nghề năm 2011 của CHDCND Lào, kết hợp tham khảo các chỉ tiêu phát triển nhân lực của UNESCO, ILO và chỉ số HDI của UNDP. Về kinh nghiệm thực tiễn quốc tế, luận án phân tích mô hình đào tạo nghề và gắn kết doanh nghiệp của Canada, Singapore, Cộng hòa Liên bang Đức và Australia.

Về khái niệm và khung phân tích:

  • Giáo dục và đào tạo nghề trong phát triển nguồn nhân lực: Là quá trình đào tạo chuyên môn kỹ thuật, tay nghề, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp và đạo đức nghề nghiệp cho người lao động nhằm phát triển nguồn nhân lực có số lượng, chất lượng cao và cơ cấu phù hợp, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
  • Ba chủ thể tham gia: Nhà trường (nòng cốt là giáo viên và cán bộ quản lý), các doanh nghiệp/cơ sở sử dụng lao động, và bản thân người lao động.

Về phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin.
  • Phương pháp nghiên cứu lý luận: Lôgíc - lịch sử, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống cấu trúc, khảo cứu và so sánh.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Khảo sát thực tế bằng bảng hỏi đối với 6 nhóm đối tượng với tổng quy mô 600 phiếu khảo sát (thực hiện theo các mẫu phiếu tại Phụ lục 6 đến Phụ lục 11):
STT Nhóm đối tượng khảo sát Số lượng phiếu Số lượng câu hỏi
1 Cán bộ quản lý tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp 100 8
2 Giáo viên giảng dạy tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp 100 7
3 Cán bộ quản lý tại các cơ sở sử dụng nhân lực (doanh nghiệp) 50 5
4 Giáo viên tại các trường trung học phổ thông 50 8
5 Học sinh tại các trường trung học phổ thông 200 14
6 Học sinh tại các trường trung học cơ sở 100 7
Tổng 6 nhóm đối tượng điều tra 600 49

Nguồn dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp thu thập qua điều tra xã hội học tại Thủ đô Viêng Chăn, Luông Pha Băng, Sa Văn Na Khết và Chăm Pa Sắc; dữ liệu thứ cấp từ báo cáo định kỳ, niên giám thống kê của Bộ Giáo dục và Thể thao Lào, Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội Lào, số liệu thống kê giai đoạn 2006–2020.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương này tập trung tổng kết các xu hướng nghiên cứu về giáo dục nghề nghiệp, nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực qua công tác dạy nghề ở phạm vi quốc tế, khu vực và tại Lào. Tác giả chỉ ra rằng các công trình đã công bố đã làm rõ vị trí của nguồn nhân lực đối với phát triển lực lượng sản xuất xã hội, cũng như vai trò cung cấp kỹ năng của giáo dục nghề nghiệp. Tuy nhiên, các nghiên cứu tại Lào trước đây chủ yếu dừng lại ở các bài viết kỷ yếu, báo cáo chuyên đề mang tính mô tả tình huống kỹ thuật, chưa xây dựng được khung lý thuyết chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học để phân tích giáo dục nghề nghiệp như một phương thức phát triển giai cấp công nhân và người lao động trực tiếp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tại Lào. Từ đó, chương xác định các nhiệm vụ nghiên cứu trọng tâm mà luận án phải trực tiếp giải quyết.

Chương 2: Một số vấn đề lý luận về giáo dục và đào tạo nghề trong phát triển nguồn nhân lực ở nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào hiện nay

Nội dung chương 2 làm rõ bản chất, đặc điểm và các mối quan hệ lý luận cấu thành đề tài:

  • Phân tích khái niệm giáo dục, đào tạo, dạy nghề (theo Luật Dạy nghề 2011 của Lào và quy định của ILO), nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực. Tác giả luận giải phát triển nguồn nhân lực là quá trình biến đổi đồng bộ về thể lực, trí lực, tay nghề, phẩm chất đạo đức và cơ cấu lao động.
  • Xác định mục tiêu kép của giáo dục nghề nghiệp: Mục tiêu hệ thống (đáp ứng nhân lực kỹ thuật cho cơ cấu kinh tế) và mục tiêu nhân cách (chuẩn hóa năng lực nghề nghiệp, phẩm chất công dân).
  • Phân định vai trò và trách nhiệm của 3 chủ thể: Nhà trường giữ vai trò tổ chức giảng dạy có định hướng; doanh nghiệp giữ vai trò đồng đầu tư, tham gia xây dựng chuẩn đầu ra và tạo môi trường thực hành; người lao động là chủ thể của quá trình tự đào tạo và rèn luyện kỹ năng.
  • Phân tích 3 nội dung cơ bản của đào tạo nghề: Kiến thức - kỹ năng nghề; ý thức tổ chức kỷ luật và tác phong lao động công nghiệp; phẩm chất đạo đức nghề nghiệp.
  • Chỉ rõ 4 nhóm nhân tố chi phối quá trình giáo dục nghề nghiệp tại Lào: Điều kiện kinh tế - xã hội và thị trường lao động; sự lãnh đạo của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước; cơ sở vật chất và nguồn lực tài chính; nhận thức của xã hội và người học đối với học nghề.

Chương 3: Thực trạng giáo dục và đào tạo nghề trong phát triển nguồn nhân lực ở nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và những vấn đề đặt ra hiện nay

Chương 3 sử dụng số liệu thống kê ngành và kết quả điều tra xã hội học để đánh giá thực trạng công tác giáo dục và đào tạo nghề tại Lào giai đoạn 2006–2020:

  • Về thành tựu: Mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập và tư thục có bước phát triển về số lượng; đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý từng bước được bổ sung; quy mô đào tạo sinh viên nghề tăng lên; nhận thức của xã hội và học sinh phổ thông về việc học nghề có chuyển biến tích cực.
  • Về hạn chế: Chất lượng và khả năng đáp ứng yêu cầu công việc của học sinh, sinh viên tốt nghiệp còn thấp; cơ cấu ngành nghề đào tạo chưa cân đối giữa các ngành dịch vụ, công nghiệp và nông nghiệp; tỷ lệ thời lượng học thực hành chưa đảm bảo so với yêu cầu rèn luyện tay nghề; cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học tại các cơ sở đào tạo còn thiếu thốn và lạc hậu.

Các số liệu khảo sát và thống kê chính được trình bày qua hệ thống bảng và biểu đồ trong chương:

Ký hiệu Tên bảng / biểu đồ theo văn bản luận án Trang trong văn bản
Bảng 3.1 Số lượng các cơ sở giáo dục và đào tạo nghề cả công lập và tư thục từ năm 2013 - 2018 70
Bảng 3.2 Số lượng cán bộ, giáo viên tại các cơ sở giáo dục và đào tạo nghề công lập, tư thục từ năm 2010 đến năm 2018 72
Bảng 3.3 Đánh giá của các đối tượng khảo sát về tính tích cực, tự giác trong học tập, nâng cao trình độ kiến thức của học sinh/sinh viên học nghề 76
Bảng 3.4 Mức độ phù hợp của nội dung, chương trình Giáo dục và đào tạo nghề 78
Bảng 3.5 Đánh giá về thời lượng học lý thuyết và thực hành trong chương trình Giáo dục và đào tạo nghề 80
Biểu đồ 3.1 Số lượng sinh viên theo học tại các cơ sở giáo dục và đào tạo nghề công lập năm học từ năm 2010 - 2015 83
Bảng 3.6 Kết quả khảo sát về chất lượng, khả năng đáp ứng của nguồn nhân lực đã qua giáo dục và đào tạo nghề 85
Bảng 3.7 Kết quả khảo sát những phương thức giáo dục và đào tạo nghề ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào 92
Bảng 3.8 Những hạn chế về cơ sở vật chất của các cơ sở giáo dục và đào tạo nghề ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào 93
Biểu đồ 3.2 Nguồn kỹ năng công việc của đội ngũ công nhân ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào 96
  • Nguyên nhân của hạn chế: Đầu tư ngân sách nhà nước cho dạy nghề còn hạn hẹp; công tác phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và trung học phổ thông chưa hiệu quả; mối liên kết giữa cơ sở dạy nghề với doanh nghiệp và các đặc khu kinh tế (SEZ) còn lỏng lẻo; chế độ chính sách đãi ngộ đối với giáo viên dạy nghề chưa thỏa đáng.
  • Vấn đề đặt ra: Mâu thuẫn giữa nhu cầu lao động kỹ thuật cao phục vụ hội nhập kinh tế khu vực với năng lực đào tạo thực tế của hệ thống dạy nghề Lào; nguy cơ thiếu hụt lao động tay nghề trong nước dẫn đến sự phụ thuộc vào lao động nước ngoài.

Chương 4: Quan điểm, giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nghề trong phát triển nguồn nhân lực ở nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào hiện nay

Trên cơ sở đánh giá thực trạng và nhận diện các vấn đề đặt ra, chương 4 đề xuất hệ thống định hướng và giải pháp can thiệp:

  • Quan điểm chỉ đạo: Quán triệt đường lối phát triển giáo dục của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, coi phát triển nguồn nhân lực là khâu then chốt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; đổi mới giáo dục nghề nghiệp theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa và hội nhập; gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo nghề với quy hoạch phát triển kinh tế và nhu cầu của thị trường lao động; đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục nghề nghiệp đi đôi với bảo đảm bình đẳng xã hội trong tiếp cận nghề nghiệp cho người dân các bộ tộc Lào.
  • Hệ thống giải pháp cơ bản:
    1. Nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền, doanh nghiệp và toàn xã hội về vị trí của giáo dục và đào tạo nghề trong phát triển nguồn nhân lực.
    2. Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách tài chính và đầu tư phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp.
    3. Đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học nghề; tăng tỷ trọng thời lượng thực hành tay nghề; chuẩn hóa chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia và khu vực ASEAN.
    4. Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên dạy nghề và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục nghề nghiệp về cả trình độ chuyên môn, kỹ năng sư phạm và đạo đức nghề nghiệp.
    5. Tăng cường đầu tư hiện đại hóa cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ thực hành cho các trường, trung tâm dạy nghề.
    6. Xây dựng cơ chế hợp tác chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo nghề với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh và các đơn vị sử dụng lao động trong và ngoài nước.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án góp phần làm rõ quan niệm về giáo dục và đào tạo nghề trong phát triển nguồn nhân lực dưới góc độ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học; hệ thống hóa các mục tiêu, nội dung, chủ thể và điều kiện đảm bảo cho quá trình này trong bối cảnh cụ thể của một quốc gia đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội như Lào. Công trình luận giải mối quan hệ biện chứng giữa đào tạo nghề nghiệp và việc phát triển phẩm chất chính trị, tác phong công nghiệp của giai cấp công nhân và người lao động trực tiếp.

Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp bức tranh toàn diện và hệ thống dữ liệu khảo sát thực tế về mạng lưới trường lớp, đội ngũ giảng viên, chương trình đào tạo và mức độ đáp ứng kỹ năng của lao động học nghề tại Lào giai đoạn 2006–2020. Kết quả nghiên cứu chỉ ra những mâu thuẫn nội tại và nguyên nhân sâu xa của các tồn tại trong hệ thống dạy nghề tại 4 địa bàn trọng điểm (Thủ đô Viêng Chăn, Luông Pha Băng, Sa Văn Na Khết, Chăm Pa Sắc).

Về mặt giải pháp, luận án đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp đồng bộ, khả thi cung cấp luận cứ khoa học cho Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Nhà nước Lào trong việc hoạch định các chiến lược, kế hoạch phát triển nhân lực kỹ thuật, hoàn thiện chính sách xã hội hóa dạy nghề và xây dựng mô hình liên kết đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở lĩnh vực giáo dục và đào tạo nghề mà không bao quát toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân; địa bàn khảo sát tập trung tại Thủ đô Viêng Chăn và 3 tỉnh lớn (Luông Pha Băng, Sa Văn Na Khết, Chăm Pa Sắc) nên chưa phản ánh chi tiết điều kiện đào tạo nghề tại các tỉnh miền núi, vùng sâu vùng xa có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn. Bên cạnh đó, khung thời gian khảo sát thực tế dừng lại ở giai đoạn đến năm 2020.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể phát triển từ luận án:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát điều tra thực tế đến toàn bộ các tỉnh còn lại của Lào, tập trung nghiên cứu chính sách dạy nghề đặc thù cho lao động nông thôn và thanh niên các bộ tộc thiểu số.
  • Nghiên cứu chuyên sâu về tác động cụ thể của từng công nghệ trong Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (như trí tuệ nhân tạo, tự động hóa) đến sự biến đổi cơ cấu ngành nghề đào tạo tại các trường cao đẳng kỹ thuật ở Lào.
  • Khảo sát và xây dựng mô hình tài chính tự chủ cho các trường nghề công lập khi chuyển đổi sang cơ chế quản lý tự chủ tại Lào.

Giá trị tham khảo

Công trình có giá trị tham khảo thiết thực đối với:

  • Cơ quan hoạch định chính sách: Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Bộ Giáo dục và Thể thao, Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội Lào trong quá trình sửa đổi Luật Dạy nghề, xây dựng quy hoạch mạng lưới trường dạy nghề quốc gia và chiến lược việc làm đến năm 2030.
  • Cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Các học viện chính trị, trường đại học, viện nghiên cứu tại Lào và Việt Nam dùng làm tài liệu tham khảo cho giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh thuộc các chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học, Xây dựng Đảng, Quản lý giáo dục và Phát triển nguồn nhân lực.
  • Cán bộ quản lý trường nghề: Cung cấp góc nhìn thực tiễn về điều chỉnh tỷ lệ thời lượng lý thuyết - thực hành (theo số liệu Bảng 3.5), đổi mới nội dung giáo trình (theo Bảng 3.4) và phương thức phối hợp với người sử dụng lao động (theo Bảng 3.6 và Bảng 3.7).

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án định nghĩa thế nào về giáo dục và đào tạo nghề trong phát triển nguồn nhân lực? Trả lời: Theo tác giả, giáo dục và đào tạo nghề trong phát triển nguồn nhân lực là quá trình đào tạo chuyên môn kỹ thuật, tay nghề, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp và đạo đức nghề nghiệp cho người lao động nhằm phát triển nguồn nhân lực có số lượng, chất lượng cao và cơ cấu phù hợp, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

  2. Mẫu điều tra xã hội học của luận án được phân bổ cho những đối tượng nào và tổng số lượng là bao nhiêu? Trả lời: Luận án khảo sát tổng cộng 600 phiếu hỏi, chia làm 6 nhóm đối tượng: 100 cán bộ quản lý cơ sở giáo dục nghề nghiệp; 100 giáo viên cơ sở giáo dục nghề nghiệp; 50 cán bộ quản lý doanh nghiệp (cơ sở sử dụng lao động); 50 giáo viên trường trung học phổ thông; 200 học sinh trường trung học phổ thông; và 100 học sinh trường trung học cơ sở.

  3. Vì sao luận án lựa chọn mốc thời gian nghiên cứu bắt đầu từ năm 2006? Trả lời: Năm 2006 là thời điểm diễn ra Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào. Trên cơ sở tổng kết 20 năm đổi mới, Đại hội VIII đã đề ra mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó nhấn mạnh vai trò quyết định của nguồn nhân lực có chất lượng cao.

  4. Luận án xác định những chủ thể nào trực tiếp tham gia quá trình giáo dục và đào tạo nghề trong phát triển nguồn nhân lực? Trả lời: Luận án xác định 3 chủ thể trực tiếp: Một là nhà trường (với nòng cốt là đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý); hai là các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh; ba là bản thân người lao động với tư cách vừa là đối tượng vừa là chủ thể tự đào tạo và phát triển bản thân.

  5. Những hạn chế cơ bản của nguồn nhân lực qua đào tạo nghề tại Lào được luận án chỉ ra là gì? Trả lời: Sinh viên sau khi ra trường còn hạn chế về trình độ chuyên môn và kỹ năng thực hành, khả năng thích nghi với thực tiễn sản xuất chưa cao; cơ cấu đào tạo chưa cân đối; nguồn nhân lực qua đào tạo nghề còn thiếu về số lượng, hạn chế về chất lượng và bất cập về cơ cấu ngành nghề.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Phonvilay Phomviengxay là công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu về giáo dục và đào tạo nghề trong phát triển nguồn nhân lực tại CHDCND Lào dưới góc độ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học. Bằng việc kết hợp phương pháp luận mácxít với dữ liệu điều tra xã hội học trên 600 mẫu tại 4 địa bàn trọng điểm, luận án đã làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng hệ thống dạy nghề giai đoạn 2006–2020 và xác định các nguyên nhân của hạn chế. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất hệ thống 6 nhóm giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề, đóng góp luận cứ khoa học phục vụ mục tiêu CNH, HĐH và hội nhập quốc tế của nước CHDCND Lào đến năm 2030.