CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KHO BẠC NHÀ NƯỚC 1. Nguồn nhân lực và sự cần thiết phát triển nguồn nhân lực Kho bạc Nhà nước 1.1 Một số vấn đề về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực Khái niệm NNL đã được đề cập đến từ lâu, tuy nhiên cho đến nay các khái niệm này đều chưa đi đến thống nhất. Tùy theo các mục tiêu cụ thể mà mỗi người có những nhận thức khác nhau về NNL, ở đây có thể nêu lên một số quan niệm như sau: Theo Liên Hợp Quốc: Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước. Theo Ngân hàng thế giới: Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân.
Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Theo tổ chức lao động quốc tế: Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. Theo giáo trình Quản trị nhân lực, Đại học Kinh tế quốc dân do ThS, Nguyễn Vân Điềm và PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân chủ biên, năm 2004 thì: “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người làm việc trong tổ chức đó” Từ những quan niệm trên, tiếp cận dưới góc độ của Kinh tế Chính trị có thể hiểu: nguồn nhân lực là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và 7 kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước. Nguồn nhân lực KBNN là toàn bộ cán bộ, công chức làm việc trong hệ thống KBNN bao gồm số lượng, chất lượng, năng lực hiện có và tiềm năng về thể lực, trí lực và tâm lực của mỗi công chức có thể đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của KBNN.
Phát triển nguồn nhân lực Kho bạc Nhà nước Thuật ngữ phát triển NNL gắn liền với sự nâng cao chất lượng và số lượng NNL, được thể hiện ở việc nâng cao trình độ văn hóa, kỹ thuật, chuyên môn, sức khoẻ và thể lực cũng như ý thức, đạo đức của người lao động. Do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau nên có nhiều cách hiểu khác nhau khi bàn về phát triển NNL. Theo quan niệm của Liên hiệp quốc: Phát triển NNL bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng NNL. UNESCO cho rằng: phát triển NNL như là toàn bộ kỹ năng của dân, liên quan đến sự phát triển của các quốc gia, phát triển con người toàn diện, trong đó phải quán triệt bản chất và ý nghĩa của các giá trị nhân văn, nhân đạo – đó là nguyên tắc chỉ đạo các con đường phát triển.
Dưới góc độ quản trị nhân sự: Phát triển NNL là toàn bộ các hoạt động của tổ chức nhằm thu hút các ứng viên có giá trị, đảm bảo việc hoàn thiện nhân viên và giữ cho năng suất lao động của họ đạt được mức cao. Trên giác độ vi mô cho rằng: Phát triển NNL của một tổ chức là quá trình thực hiện tổng thể các chính sách và biện pháp thu hút, duy trì và đào tạo NNL nhằm hoàn thiện, nâng cao chất lượng NNL trên cả ba phương diện thể lực, trí lực, tâm lực; điều chỉnh hợp lý quy mô, cơ cấu 8 NNL một cách bền vững và hiệu quả. Phát triển NNL luôn luôn gắn liền với sự phát triển của từng con người cụ thể trong tổ chức mà mục tiêu cao nhất là nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng NNL của tổ chức đó. Phát triển NNL phải được tiến hành trên cả ba mặt: Phát triển nhân cách, phát triển sinh thể, đồng thời tạo ra môi trường xã hội thuận lợi cho NNL phát triển.
Vậy, với cách tiếp cận của kinh tế chính trị chúng ta có thể hiểu: Phát triển NNL KBNN là tổng thể các biện pháp nhằm phát triển cả về số lượng, quy mô, thể lực, trí lực, tâm lực, cơ cấu NNL của hệ thống KBNN nhằm thực hiện tốt nhất mọi nhiệm vụ chiến lược của KBNN trong những thời kỳ nhất định.2 Sự cần thiết phát triển nguồn nhân lực Kho bạc Nhà nước 1. Kho bạc Nhà nước và vai trò của Kho bạc Nhà nước Kho bạc Nhà nước (State Treasury) đã có từ lâu. Thuật ngữ “Treasury” theo nguồn gốc La tinh có nghĩa là “vật quý” hay “kho báu”. Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, những vật quý tìm được ngày một nhiều hơn, dần dần được tập trung vào tay những người có thế lực, hình thành các kho cất giữ châu báu ở dạng phân tán.
Khi các bộ tộc xuất hiện, kho báu chính là nơi cất giữ tập trung các tài sản quý của cộng đồng bộ tộc. Cùng với sự ra đời của Nhà nước cổ đại, bộ máy quản lý tài sản của Nhà nước cũng được hình thành, theo đó, xuất hiện các tổ chức chuyên quản lý các loại tài sản quý của Nhà nước và các khoản thu nhập công (tô, thuế). Tổ chức này dần dần hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy để trở thành Ngân khố quốc gia hay Kho bạc Nhà nước sau này. Vai trò của Kho bạc Nhà nước Một là, KBNN có vai trò kinh tế quan trọng đối với sự phát triển KT-XH của đất nước.
Vai trò của KBNN được thể hiện tập trung như sau: 9 Tập trung nhanh, đầy đủ nguồn thu cho NSNN, đáp ứng kịp thời nhu cầu chi tiêu của Chính phủ, thực hiện các chính sách xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng. Hai là, huy động một lượng vốn lớn cho đầu tư phát triển. Tuy phát triển kinh tế xã hội của đất nước giúp phát triển kinh tế, thì sự phát triển y tế, giáo dục, quốc phòng, an ninh là hết sức quan trọng. Chi tiêu của Chính phủ cho phát triển y tế, giáo dục, an sinh xã hội, an ninh quốc phòng….cần có nguồn tài chính rất lớn, nguồn tài chính đó chỉ có thể có được từ nguồn NSNN.
Mà nguồn ngân sách đó chủ yếu là từ nguồn thuế, sự đóng góp của các Doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Các nguồn đó đều tập trung thông qua KBNN. Nếu không có KBNN thì sẽ không tập trung đầy đủ các nguồn thu trên đây và do đó không có nguồn tài chính để phát triển các lĩnh vực xã hội quốc phòng, an ninh….tất yếu sẽ kìm hãm sự phát triển của đất nước. KBNN đã thực hiện huy động được một khối lượng vốn lớn thông qua phát hành các loại trái phiếu Chính phủ, đáp ứng về cơ bản nhu cầu bù đắp bội chi NSNN và bổ sung vốn thực hiện các mục tiêu phát triển của Chính phủ; đồng thời, trái phiếu Chính phủ cũng đã trở thành công cụ giao dịch trên thị trường tiền tệ, giúp NHNN ổn định và điều hòa lưu thông tiền tệ.
Bên cạnh đó, cơ chế phát hành trái phiếu từng bước được cải tiến theo hướng hiện đại, minh bạch, hoạt động theo nguyên tắc thị trường và phù hợp với thông lệ chung của thế giới, cụ thể: lãi suất trái phiếu từng bước được nới lỏng để đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư cũng như nhu cầu vốn của NSNN; các trái phiếu Chính phủ đã cơ bản đáp ứng được các tiêu chuẩn kỹ thuật cần thiết để niêm yết và giao dịch tại Sở Giao dịch c hứng khoán; cơ cấu dư nợ trái phiếu đã dần được chuyển sang trung và dài hạn; việc tổ chức phát hành đã được thực hiện tương đối thường xuyên… 10 Ba là, đảm bảo cung cấp thông tin chính xác về tình hình thu chi Ngân sách phục vụ cho sự phát triển KT-XH. Sự chỉ đạo điều hành của các cơ quan Trung ương và chính quyền địa phương, góp phần đắc lực vào việc nâng cao chất lượng quản lý, hiệu quả sử dụng NSNN. Kế toán NSNN và hoạt động nghiệp vụ KBNN tiếp tục giữ vai trò là trung tâm trong việc cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin về tài chính – ngân sách cho các cấp chính quyền, cơ quan quản lý phục vụ cho việc quản lý và điều hành có hiệu quả ngân quỹ các cấp. Đặc biệt với việc xây dựng và triển khai TABMIS, kế toán NSNN và hoạt động nghiệp vụ KBNN đã có những cải cách căn bản theo hướng: chuyển từ kế toán trên cơ sở tiền mặt sang kế toán dồn tích điều chỉnh; mở rộng phạm vi áp dụng kế toán nhà nước; thống nhất về kế toán đồ (COA); tổ chức bộ máy kế toán nhà nước theo nguyên tắc tập trung, thống nhất vào KBNN,… Qua đó, từng bước định hình hệ thống kế toán nhà nước lấy kế toán NSNN làm trung tâm.2 Quan niệm và đặc điểm nguồn nhân lực Kho bạc Nhà nước KBNN có thể có những cách gọi tên khác nhau ở những quốc gia có hệ thống, chế độ chính trị và mô hình tổ chức kinh tế xã hội khác nhau như: Tổng cục tài chính công, Vụ quản lý tài chính công, Vụ Kế toán công, Vụ Quỹ ngân sách Nhà nước….Mô hình tổ chức bộ máy và chức năng, nhiệm vụ của Kho bạc Nhà nước ở các nước còn có nhiều điểm khác nhau: một số nước KBNN được tổ chức như một Bộ trực thuộc Chính Phủ, một số nước KBNN trực thuộc Bộ Tài chính, một số nước KBNN trực thuộc Ngân hàng Trung ương.
Ở Việt Nam, Kho bạc Nhà nước là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về quỹ ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước và các quỹ khác của Nhà nước được giao quản lý; quản lý ngân quỹ; tổng kế toán nhà nước; thực hiện việc huy động vốn cho ngân sách nhà nước và cho đầu tư 11 phát triển thông qua hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ theo quy định của pháp luật. Kho bạc Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: - Quản lý quỹ ngân sách nhà nước, quỹ tài chính nhà nước và các quỹ khác được giao theo quy định của pháp luật.