Luận văn thạc sĩ phát triển nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành may ở tỉnh hưng yên đến năm 2020

Luận văn thạc sĩ phân tích phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành may tại Hưng Yên đến năm 2020, đề xuất giải pháp hiệu quả.

Trường đại học

Đại học Thương mại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2013

125
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành may tại Hưng Yên

Phát triển nguồn nhân lực là yếu tố then chốt quyết định sự thành bại của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) trong ngành may tại Hưng Yên. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đến năm 2020. Các yếu tố như tăng cường đào tạo, quản lý nhân sự, và chiến lược phát triển được xem xét kỹ lưỡng để đảm bảo sự phát triển đồng bộ của ngành may tại địa phương.

1.1. Khái niệm và vai trò của phát triển nguồn nhân lực

Phát triển nguồn nhân lực trong DNNVV ngành may không chỉ là việc đào tạo kỹ năng nghề nghiệp mà còn bao gồm việc xây dựng chiến lược quản lý nhân sự hiệu quả. Nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố cốt lõi giúp doanh nghiệp tăng năng suất, cải thiện chất lượng sản phẩm và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường lao động. Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, việc phát triển nguồn nhân lực cần gắn liền với đổi mới công nghệhợp tác quốc tế.

1.2. Thực trạng phát triển nguồn nhân lực tại Hưng Yên

Thực trạng phát triển nguồn nhân lực trong các DNNVV ngành may tại Hưng Yên giai đoạn 2007-2012 cho thấy nhiều hạn chế. Mặc dù số lượng lao động tăng, chất lượng nguồn nhân lực vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường. Các doanh nghiệp thiếu chiến lược đào tạo bài bản, dẫn đến tình trạng lao động thiếu kỹ năng chuyên môn. Bên cạnh đó, chính sách hỗ trợ từ nhà nước và các tổ chức quốc tế chưa được khai thác hiệu quả, làm giảm khả năng cạnh tranh của ngành may tại địa phương.

II. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực đến năm 2020

Để đạt được mục tiêu phát triển bền vững nguồn nhân lực trong các DNNVV ngành may tại Hưng Yên đến năm 2020, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp. Trọng tâm là tăng cường đào tạo nghề, nâng cao kỹ năng quản lý nhân sự, và xây dựng chiến lược phát triển dài hạn. Các giải pháp này cần được hỗ trợ bởi chính sách vĩ mô từ nhà nước và sự hợp tác chặt chẽ với các tổ chức quốc tế.

2.1. Tăng cường đào tạo và nâng cao kỹ năng nghề nghiệp

Việc tăng cường đào tạo và nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho lao động trong ngành may là giải pháp cấp thiết. Các chương trình đào tạo cần được thiết kế phù hợp với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và xu hướng phát triển của ngành. Đồng thời, cần khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào đổi mới công nghệ để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

2.2. Xây dựng chiến lược quản lý nhân sự hiệu quả

Quản lý nhân sự hiệu quả là yếu tố quan trọng giúp các DNNVV ngành may tại Hưng Yên phát triển bền vững. Các doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược quản lý nhân sự dài hạn, bao gồm việc tuyển dụng, đào tạo, và giữ chân nhân tài. Bên cạnh đó, cần tạo môi trường làm việc chuyên nghiệp, khuyến khích sự sáng tạo và đóng góp của người lao động.

III. Kết luận và kiến nghị

Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng phát triển nguồn nhân lực là yếu tố then chốt giúp các DNNVV ngành may tại Hưng Yên phát triển bền vững đến năm 2020. Các giải pháp đề xuất bao gồm tăng cường đào tạo, quản lý nhân sự hiệu quả, và hợp tác quốc tế cần được thực hiện đồng bộ. Đồng thời, cần có sự hỗ trợ từ chính sách vĩ mô của nhà nước và sự tham gia tích cực của các tổ chức quốc tế.

3.1. Kiến nghị với chính phủ và địa phương

Để hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực trong các DNNVV ngành may tại Hưng Yên, chính phủ và địa phương cần ban hành các chính sách hỗ trợ cụ thể. Các chính sách này nên tập trung vào việc tăng cường đào tạo nghề, hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp, và thúc đẩy hợp tác quốc tế. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế giám sát và đánh giá hiệu quả của các chính sách này.

3.2. Kiến nghị với doanh nghiệp

Các DNNVV ngành may tại Hưng Yên cần chủ động xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực dài hạn. Điều này bao gồm việc đầu tư vào đào tạo, nâng cao kỹ năng quản lý nhân sự, và áp dụng đổi mới công nghệ. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần tạo môi trường làm việc chuyên nghiệp, khuyến khích sự sáng tạo và đóng góp của người lao động.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC DNNVV 1. Một số khái niệm cơ bản có liên quan đến PTNNL trong các DNNVV 1. Quan điểm tiếp cận , khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.Khái niệm DNNVV của một số nước trên thế giới Tiêu chí DNNVV thường là dựa vào qui mô sản xuất của doanh nghiệp. Nhìn chung, các nước trên thế giới sử dụng hai nhóm tiêu thức phổ biến là tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng để định nghĩa DNNVV.

Tiêu chí định tính dựa trên đặc trưng cơ bản của các DNNVV như chuyên môn hoá thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ phức tạp của quản lý thấp. Các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế. Do đó, nhóm tiêu thức này thường chỉ được dùng làm cơ sở tham khảo, kiểm chứng mà ít được sử dụng làm cơ sở để xác định quy mô doanh nghiệp. Tiêu chí định lượng thường bao gồm các nhóm chỉ tiêu về: số lao động, tổng giá trị tài sản (hay tổng vốn), doanh thu hoặc lợi nhuận.

Trong đó vốn và số lao động được áp dụng nhiều nhất làm tiêu chí xác định DNNVV. Thực tế mỗi nước có qui định khác nhau về số lao động và vốn cho DNNVV. Về số lao động thì thường dưới 100 người hoặc dưới 200 người. Có nước còn qui định số lao động cho ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp.

Khái niệm DNNVV của Việt Nam Ở Việt Nam trước đây có nhiều khái niệm khác nhau về doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, từ khi có Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2001 về trợ giúp phát triển DNNVV thì định nghĩa DNNVV đã được hiểu thống nhất: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là các cơ sở sản xuất - kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có số vốn 7 đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc có số lao động trung bình hàng năm không quá 300 lao động” [19]. Như vậy tiêu chí để xác định DNNVV là: - Có số vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng (khoảng 650.000 USD), hoặc - Có số lượng lao động dưới 300 người. Theo Điều 4: "Nghị định này áp dụng đối với các DNNVV bao gồm: Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp ; Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước; Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã ; Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 3/2/2000 của của Chính phủ" (Nghị định này được thay thế bởi Nghị định 109/2004/NĐ-CP).

Bên cạnh khái niệm trên, trong một số trường hợp người ta còn dùng thêm khái niệm doanh nghiệp cực nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa như sự phân loại của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam: - “Doanh nghiệp nhỏ và cực nhỏ là các cơ sở sản xuất kinh doanh có số lao động ít hơn 50 người. Các doanh nghiệp có số lao động từ 10 đến 49 lao động là doanh nghiệp nhỏ, các doanh nghiệp có số lao động từ 1 đến 9 người được coi là doanh nghiệp cực nhỏ” [16. - Với khái niệm này thì doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp còn lại trong khái niệm của nghị định 90 tức là doanh nghiệp có lao động từ 50 đến 299 người. Tuy nhiên qua 7 năm thực hiện, khái niệm DNVV của Nghị định 90 đã bộc lộ những điểm chưa hợp lý “có những doanh nghiệp có số lao động vượt xa con số 300 (có trường hợp 500-600 lao động), nhưng vì vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng nên vẫn dược coi DNNVV.

Ngược lại, có doanh nghiệp có mức vốn đăng ký hàng trăm tỷ đồng, nhưng số lao động thường xuyên thấp hơn 300 cũng được xếp vào “đội ngũ” DNNVV” [17. Mặt khác việc khái niệm DNNVV không phân theo lĩnh vực sản xuất cũng có hạn chế, vì “lĩnh vực sản xuất thì 10 tỷ đồng là ít, nhưng trong một số lĩnh vực dịch vụ thì lại nhiều”. Hơn nữa, tiêu chí phân loại doanh nghiệp theo vốn đăng ký do doanh 8 nghiệp tự khai thường “mang tính chủ quan, không chính xác và khó kiểm soát” [17. Điều này sẽ làm việc vận dụng chính sách hỗ trợ cụ thể cho DNNVV gặp nhiều khó khăn.

- Chính vì vậy, Chính phủ đã ban hành định nghĩa mới về DNNVV trong Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa [18]. Theo Nghị định này, DNNVV đã được phân theo khu vực kinh doanh và có phân loại cụ thể cho doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. - “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như bảng sau: Bảng 1.1: Tiêu thức phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh Quy mô nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Tổng Khu vực Số lao Số lao Tổng Số lao nguồn động động nguồn vốn động vốn từ trên I. Nông, lâm 20 tỷ từ trên 10 từ trên 20 10 người 200 người nghiệp và thủy đồng người đến tỷ đồng đến trở xuống đến 300 sản trở xuống 200 người 100 tỷ đồng người từ trên 20 tỷ từ trên 10 từ trên 20 II.

Công nghiệp 10 người 200 người đồng người đến tỷ đồng đến và xây dựng trở xuống đến 300 trở xuống 200 người 100 tỷ đồng người 10 tỷ từ trên 10 từ trên 10 từ trên III. Thương mại 10 người đồng người đến tỷ đồng đến 50 người đến và dịch vụ trở xuống trở xuống 50 người 50 tỷ đồng 100 người Nguồn: Khái niệm DNNVV trong Nghị định 56 [ 18. Khái niệm nguồn nhân lực và đặc điểm NNL của DNNNV Ở nước ta, khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi kể từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay. Theo nghĩa tương đối hẹp, nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lao động.

Do vậy, nó có thể lượng hóa được là một bộ phận của dân số bao gồm những người trong độ tuổi quy định, đủ 15 tuổi trở l ên có khả năng lao động hay còn gọi là lực lượng lao động. Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực được hiểu như nguồn lực con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động tổ chức để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội bên cạnh nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính. Chính vì vậy, nguồn nhân lực được nghiên cứu trên giác độ số lượng và chất lượng. Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô, tốc độ tăng và sự phân bố nguồn nhân lực theo khu vực, vùng lãnh thổ.

Chất lượng nguồn nhân lực được nghiên cứu trên các khía cạnh về trí lực, thể lực và nhân cách, thẩm mỹ của người lao động. Theo giáo trình kinh tế nguồn nhân lực của trường Đại học Kinh tế Quốc dân do PGS. Trần Xuân Cầu, PGS. Mai Quốc Chánh chủ biên, in năm 2008 thì: “Nguồn nhân lực” là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định” [3.

“Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội” [3. 10 Theo giáo trình nguồn nhân lực của trường Đại học Lao động - Xã hội do PGS. Nguyễn Tiệp chủ biên, in năm 2005 thì: - “Nguồn nhân lực” bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động” [8.

Khái niệm này chỉ nguồn nhân lực với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. - “Nguồn nhân lực” được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động” [8. Đặc điểm NNL của DNNVV: - Trình độ , năng lực của người lao động trong DNNVV thấp và yếu so với các DN có qui mô lớn : “Kết quả điều tra của Bộ kế hoạch và đầu tư tiến hành ở 63.000 DNNVV chỉ rõ, có tới 55,63% số chủ DN có trình độ học vấn từ trung cấp trở xuống, trong đó có 43,3% số chủ DN có trình độ học vấn từ sơ cấp và phổ thông các cấp, còn các DNNVV ở nông thôn, số người có trình độ trung cấp trở lên là 9,8%. - Cấu trúc lao động trong các DNNVV không cân đối: Tỷ lệ lao động quản lý tăng lên trong những năm gần đây, phần lớn lao động quản lý là nam giới.

- Thu nhập bình quân của người lao động trong các DNNVV thường thấp hơn so với các DN nhà nước và các DN lớn nước ngoài. Khái niệm và vai trò của phát triển nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp Khái niệm phát triển NNL được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và tiếp cận theo những góc độ khác nhau: Trong giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, trường đại học Kinh tế Quốc dân do PGS.TS Trần Xuân Cầu chủ biện năm 2008 thì: “Phát triển nguồn nhân lực là quá trình phát triển thể lực, trí lực khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người; nền văn hóa, truyền thống lịch sử….TS Bùi Văn Nhơn trong sách 11 quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội xuất bản 2006 thì: “Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho nguồn nhân lực( trí tuệ, thể chất và tâm lý xã hội) nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển”. Với cách tiếp cận phát triển từ góc độ xã hội, phát triển NNL là quá trình tăng lên về mặt số lượng(quy mô) nguồn nhân lực và nâng cao về mặt chất lượng NNL, tạo ra cơ cấu NNL ngày càng hợp lý.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Phát Triển Nguồn Nhân Lực Trong Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa Ngành May Tại Hưng Yên Đến 2020 là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào chiến lược phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực may mặc tại tỉnh Hưng Yên. Tài liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về thực trạng, thách thức và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển nguồn nhân lực, từ đó áp dụng vào thực tiễn để tối ưu hóa hiệu quả kinh doanh.

Để mở rộng kiến thức về quản lý kinh tế và phát triển tại Hưng Yên, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế tăng cường quản lý của ngân hàng nhà nước đối với quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn tỉnh hưng yên. Ngoài ra, nếu quan tâm đến các vấn đề liên quan đến quản lý nguồn vốn, Luận văn tốt nghiệp một số vấn đề cơ bản về vốn và kế toán huy động vốn tại chi nhánh nhnn ptnn quận tây hồ sẽ là tài liệu hữu ích. Cuối cùng, để hiểu sâu hơn về phát triển bền vững trong các ngành nghề, Luận án tiến sĩ nghiên cứu phát triển cụm làng nghề ở hà nội mang đến góc nhìn chi tiết và thực tiễn.