CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC DNNVV 1. Một số khái niệm cơ bản có liên quan đến PTNNL trong các DNNVV 1. Quan điểm tiếp cận , khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.Khái niệm DNNVV của một số nước trên thế giới Tiêu chí DNNVV thường là dựa vào qui mô sản xuất của doanh nghiệp. Nhìn chung, các nước trên thế giới sử dụng hai nhóm tiêu thức phổ biến là tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng để định nghĩa DNNVV.
Tiêu chí định tính dựa trên đặc trưng cơ bản của các DNNVV như chuyên môn hoá thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ phức tạp của quản lý thấp. Các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế. Do đó, nhóm tiêu thức này thường chỉ được dùng làm cơ sở tham khảo, kiểm chứng mà ít được sử dụng làm cơ sở để xác định quy mô doanh nghiệp. Tiêu chí định lượng thường bao gồm các nhóm chỉ tiêu về: số lao động, tổng giá trị tài sản (hay tổng vốn), doanh thu hoặc lợi nhuận.
Trong đó vốn và số lao động được áp dụng nhiều nhất làm tiêu chí xác định DNNVV. Thực tế mỗi nước có qui định khác nhau về số lao động và vốn cho DNNVV. Về số lao động thì thường dưới 100 người hoặc dưới 200 người. Có nước còn qui định số lao động cho ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp.
Khái niệm DNNVV của Việt Nam Ở Việt Nam trước đây có nhiều khái niệm khác nhau về doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, từ khi có Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2001 về trợ giúp phát triển DNNVV thì định nghĩa DNNVV đã được hiểu thống nhất: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là các cơ sở sản xuất - kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có số vốn 7 đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc có số lao động trung bình hàng năm không quá 300 lao động” [19]. Như vậy tiêu chí để xác định DNNVV là: - Có số vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng (khoảng 650.000 USD), hoặc - Có số lượng lao động dưới 300 người. Theo Điều 4: "Nghị định này áp dụng đối với các DNNVV bao gồm: Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp ; Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước; Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã ; Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 3/2/2000 của của Chính phủ" (Nghị định này được thay thế bởi Nghị định 109/2004/NĐ-CP).
Bên cạnh khái niệm trên, trong một số trường hợp người ta còn dùng thêm khái niệm doanh nghiệp cực nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa như sự phân loại của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam: - “Doanh nghiệp nhỏ và cực nhỏ là các cơ sở sản xuất kinh doanh có số lao động ít hơn 50 người. Các doanh nghiệp có số lao động từ 10 đến 49 lao động là doanh nghiệp nhỏ, các doanh nghiệp có số lao động từ 1 đến 9 người được coi là doanh nghiệp cực nhỏ” [16. - Với khái niệm này thì doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp còn lại trong khái niệm của nghị định 90 tức là doanh nghiệp có lao động từ 50 đến 299 người. Tuy nhiên qua 7 năm thực hiện, khái niệm DNVV của Nghị định 90 đã bộc lộ những điểm chưa hợp lý “có những doanh nghiệp có số lao động vượt xa con số 300 (có trường hợp 500-600 lao động), nhưng vì vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng nên vẫn dược coi DNNVV.
Ngược lại, có doanh nghiệp có mức vốn đăng ký hàng trăm tỷ đồng, nhưng số lao động thường xuyên thấp hơn 300 cũng được xếp vào “đội ngũ” DNNVV” [17. Mặt khác việc khái niệm DNNVV không phân theo lĩnh vực sản xuất cũng có hạn chế, vì “lĩnh vực sản xuất thì 10 tỷ đồng là ít, nhưng trong một số lĩnh vực dịch vụ thì lại nhiều”. Hơn nữa, tiêu chí phân loại doanh nghiệp theo vốn đăng ký do doanh 8 nghiệp tự khai thường “mang tính chủ quan, không chính xác và khó kiểm soát” [17. Điều này sẽ làm việc vận dụng chính sách hỗ trợ cụ thể cho DNNVV gặp nhiều khó khăn.
- Chính vì vậy, Chính phủ đã ban hành định nghĩa mới về DNNVV trong Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa [18]. Theo Nghị định này, DNNVV đã được phân theo khu vực kinh doanh và có phân loại cụ thể cho doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. - “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như bảng sau: Bảng 1.1: Tiêu thức phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh Quy mô nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Tổng Khu vực Số lao Số lao Tổng Số lao nguồn động động nguồn vốn động vốn từ trên I. Nông, lâm 20 tỷ từ trên 10 từ trên 20 10 người 200 người nghiệp và thủy đồng người đến tỷ đồng đến trở xuống đến 300 sản trở xuống 200 người 100 tỷ đồng người từ trên 20 tỷ từ trên 10 từ trên 20 II.
Công nghiệp 10 người 200 người đồng người đến tỷ đồng đến và xây dựng trở xuống đến 300 trở xuống 200 người 100 tỷ đồng người 10 tỷ từ trên 10 từ trên 10 từ trên III. Thương mại 10 người đồng người đến tỷ đồng đến 50 người đến và dịch vụ trở xuống trở xuống 50 người 50 tỷ đồng 100 người Nguồn: Khái niệm DNNVV trong Nghị định 56 [ 18. Khái niệm nguồn nhân lực và đặc điểm NNL của DNNNV Ở nước ta, khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi kể từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay. Theo nghĩa tương đối hẹp, nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lao động.
Do vậy, nó có thể lượng hóa được là một bộ phận của dân số bao gồm những người trong độ tuổi quy định, đủ 15 tuổi trở l ên có khả năng lao động hay còn gọi là lực lượng lao động. Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực được hiểu như nguồn lực con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động tổ chức để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội bên cạnh nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính. Chính vì vậy, nguồn nhân lực được nghiên cứu trên giác độ số lượng và chất lượng. Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô, tốc độ tăng và sự phân bố nguồn nhân lực theo khu vực, vùng lãnh thổ.
Chất lượng nguồn nhân lực được nghiên cứu trên các khía cạnh về trí lực, thể lực và nhân cách, thẩm mỹ của người lao động. Theo giáo trình kinh tế nguồn nhân lực của trường Đại học Kinh tế Quốc dân do PGS. Trần Xuân Cầu, PGS. Mai Quốc Chánh chủ biên, in năm 2008 thì: “Nguồn nhân lực” là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định” [3.
“Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội” [3. 10 Theo giáo trình nguồn nhân lực của trường Đại học Lao động - Xã hội do PGS. Nguyễn Tiệp chủ biên, in năm 2005 thì: - “Nguồn nhân lực” bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động” [8.
Khái niệm này chỉ nguồn nhân lực với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. - “Nguồn nhân lực” được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động” [8. Đặc điểm NNL của DNNVV: - Trình độ , năng lực của người lao động trong DNNVV thấp và yếu so với các DN có qui mô lớn : “Kết quả điều tra của Bộ kế hoạch và đầu tư tiến hành ở 63.000 DNNVV chỉ rõ, có tới 55,63% số chủ DN có trình độ học vấn từ trung cấp trở xuống, trong đó có 43,3% số chủ DN có trình độ học vấn từ sơ cấp và phổ thông các cấp, còn các DNNVV ở nông thôn, số người có trình độ trung cấp trở lên là 9,8%. - Cấu trúc lao động trong các DNNVV không cân đối: Tỷ lệ lao động quản lý tăng lên trong những năm gần đây, phần lớn lao động quản lý là nam giới.
- Thu nhập bình quân của người lao động trong các DNNVV thường thấp hơn so với các DN nhà nước và các DN lớn nước ngoài. Khái niệm và vai trò của phát triển nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp Khái niệm phát triển NNL được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và tiếp cận theo những góc độ khác nhau: Trong giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, trường đại học Kinh tế Quốc dân do PGS.TS Trần Xuân Cầu chủ biện năm 2008 thì: “Phát triển nguồn nhân lực là quá trình phát triển thể lực, trí lực khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người; nền văn hóa, truyền thống lịch sử….TS Bùi Văn Nhơn trong sách 11 quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội xuất bản 2006 thì: “Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho nguồn nhân lực( trí tuệ, thể chất và tâm lý xã hội) nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển”. Với cách tiếp cận phát triển từ góc độ xã hội, phát triển NNL là quá trình tăng lên về mặt số lượng(quy mô) nguồn nhân lực và nâng cao về mặt chất lượng NNL, tạo ra cơ cấu NNL ngày càng hợp lý.