MỞ ĐẦU 1. Tín cấp thiết của đề t Nhữn y u cầu từ lý luận Trong 20 năm qua, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng chiến lược quản trị nguồn nhân lực có khả năng là một trong những yếu tố quyết định quan trọng nhất đến hiệu suất tổ chức (Som, 2008). Quản trị nguồn nhân lực liên quan đến tất cả các quyết định quản trị và điều hành mà trực tiếp ảnh hưởng đến nguồn nhân lực, những người làm việc cho tổ chức. Nguồn nhân lực là đòn bẩy chiến lược quan trọng và nguồn lợi thế cạnh tranh bền vững.
Các tổ chức bắt đầu nhận ra rằng nguồn nhân lực là một tài sản quan trọng và bắt đầu phát triển các nhân viên, đặc biệt cải thiện thành tích và phát triển hoặc nâng cao kỹ năng của họ để tăng năng suất. Từ đó, phát triển nguồn nhân lực (PTNNL) được xem là một chiến lược kinh doanh quan trọng (Harrison, 2000). Nguồn nhân lực vẫn là yếu tố quan trọng, quyết định của sản phẩm du lịch và ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của điểm đến (Murphy và Price, 2005). Đầu tư vào PTNNL cho phép các tổ chức nâng cao kiến thức và khả năng của nhân viên, góp phần vào việc cung cấp chất lượng dịch vụ vượt trội và sự hài lòng của khách hàng (Aksu, 2005).
Như vậy ngoài cơ sở vật chất, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử thì yếu tố lao động trong các doanh nghiệp du lịch (DNDL) đóng một vai trò to lớn để thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch. Trong thực tế không có phương pháp hoàn hảo để phát triển nguồn lực con người, mỗi quốc gia và tổ chức với xem xét các mục tiêu và những vấn đề trong nước, môi trường để cung cấp các khóa học giáo dục thích hợp, cải tiến quy trình và các cơ sở để thúc đẩy các nhà quản lý, nhân viên của mình và phân bổ các nguồn lực tài chính (Mesbahi, 2008). N ữn y u cầu từ t ực t ễn Du lịch là một ngành công nghiệp phát triển nhanh và được mệnh danh là ngành công nghiệp không khói, lợi ích của nó mang lại vô cùng to lớn. Hiện nay, Việt Nam đang chú trọng vào việc phát triển ngành du lịch một cách bền vững.
Việt 2 Nam đã và đang đưa du lịch vào ngành kinh tế mũi nhọn để đầu tư phát triển trong định hướng phát triển của đất nước. Đại hội Đại biểu Đảng bộ Tỉnh Quảng Ngãi lần thứ XX đã quyết nghị 4 nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá trong nhiệm kỳ 2020 – 2025. Theo đó, nhiệm vụ “đẩy mạnh phát triển du lịch, từng bước trở thành ngành kinh tế mũi nhọn” là một trong 4 nhiệm vụ trọng tâm và “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao” là một trong 3 đột phá của tỉnh Quảng Ngãi trong nhiệm kỳ này. Ngoài ra, quan điểm, mục tiêu, chỉ tiêu, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp nhiệm kỳ 2020 – 2025, định hướng đến năm 2030 của tỉnh Quảng Ngãi cũng đã nêu rõ: “Tích cực thu hút đầu tư, nhất là các nhà đầu tư chiến lược đầu tư các khu, điểm du lịch quy mô lớn, hiện đại.
Tạo điều kiện thuận lợi để khai thác có hiệu quả các khu, điểm du lịch đã được đầu tư. Phát triển du lịch biển, đảo trở thành loại hình du lịch chủ đạo, lấy Lý Sơn làm hạt nhân. Đẩy mạnh phát triển du lịch văn hóa, lịch sử, tâm linh trên cơ sở nâng tầm giá trị di sản văn hóa Sa Huỳnh, Trường Lũy Quảng Ngãi, các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể. Kêu gọi đầu tư phát triển du lịch sinh thái ở núi Cà Đam, Gành Yến, suối nước nóng Thạch Bích,.” Trong những năm gần đây, du lịch ở tỉnh Quảng Ngãi ngày càng phát triển.
Nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách, các DNDL như cơ sở lưu trú du lịch, nhà hàng, lữ hành… không những ngày càng tăng về số lượng mà còn được nâng cao về chất lượng dịch vụ. Theo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi, năm 2010, toàn tỉnh chỉ có 59 cơ sở lưu trú với 1080 buồng thì đến năm 2019 trên địa bàn tỉnh có khoảng 300 cơ sở lưu trú với hơn 4. Toàn tỉnh có 13 doanh nghiệp kinh doanh lữ hành. Doanh thu từ khách du lịch tăng dần qua các năm, cụ thể: năm 2015 là 560 tỷ đồng; năm 2016 là 645 tỷ đồng; năm 2017 là 710 tỷ đồng; năm 2018 là 950 tỷ đồng; năm 2019 là 1.100 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân từ 2015-2019 là 16%.
Để tạo nên sự thành công đó, yếu tố con người là không thể thiếu. Con người được coi là thành phần quan trọng nhất của ngành công nghiệp du lịch, đại diện cho quốc gia và địa phương quảng bá hình ảnh của quốc gia và địa phương đến với du 3 khách. Chất lượng sản phẩm du lịch chủ yếu phụ thuộc vào hiệu suất của nhân viên, gia tăng năng suất có thể đạt được chủ yếu là do yếu tố con người. Theo Baum (1993) cho rằng chất lượng du lịch phụ thuộc vào yếu tố con người.
Vì vậy, thành công du lịch phần lớn phụ thuộc vào nguồn nhân lực của ngành. Ngoài ra, để cạnh tranh với các quốc gia khác trong ngành du lịch, chất lượng dịch vụ cao là cần thiết. Do đó, không thể phủ nhận tầm quan trọng của PTNNL trong các DNDL. Theo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi (2019), tổng số lao động trực tiếp và gián tiếp trong ngành du lịch đã tăng đáng kể qua các năm.
Cụ thể, tổng số lao động năm 2014 là 8.370 người, số lượng lao động này đã tăng dần qua các năm và đến năm 2019 đã tăng lên đến 13. Như vậy, từ năm 2014 đến năm 2019 đã tăng 5.615 người tương ứng tốc độ tăng bình quân năm là 10,81%. Sự phát triển nhanh của các DNDL trên địa bàn Quảng Ngãi đã làm nảy sinh sự mất cân đối giữa nhu cầu nguồn nhân lực và khả năng đáp ứng sự thiếu hụt so với nhu cầu ở nhiều vị trí công việc như nhân lực quản lý, lữ hành, nghiệp vụ, lễ tân…. Dù đã có nhiều nỗ lực trong PTNNL du lịch của tỉnh Quảng Ngãi nhưng vẫn còn bất cập như: quy mô đào tạo thấp, chất lượng đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu, cơ sở vật chất cho đào tạo còn thiếu, sự hỗ trợ địa phương chưa nhiều so với nhu cầu của doanh nghiệp.
Mặt khác, trong các DNDL, trình độ của lực lượng lao động trực tiếp chưa qua đào tạo cũng khá cao. Theo số liệu điều tra điển hình năm 2019 của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, trong 1982 lao động trực tiếp được điều tra, khối doanh nghiệp du lịch có 1882 người trong đó 505 người có trình độ đại học (chiếm 26,83%), 318 người (chiếm 16,90%) có trình độ cao đẳng và 552 người (chiếm 29,33%) có trình độ trung cấp và chứng chỉ nghề và 507 người (chiếm 26,94%) chưa có bằng cấp. Về cơ cấu, nhân lực trực tiếp phục vụ bàn, bar chiếm tỷ lệ cao 364 người (chiếm 20,83%), tiếp đến là nhân sự phục vụ buồng 288 người (chiếm 15,3%), chế biến món ăn, đồ uống là 186 người (chiếm 9,88%), vận chuyển khách du lịch là 183 người (chiếm 9,72%), lễ tân là 158 người (chiếm 8,4%), lữ hành là 86 người (chiếm 4 4,57%), còn lại là lao động khác. Như vậy, nhân lực trực tiếp phục vụ khách du lịch chiểm một tỷ lệ lớn, nhưng nhìn chung trình độ đào tạo, tay nghề thấp, ngoại ngữ, văn hóa giao tiếp còn hạn chế.
Tóm lại, nguồn nhân lực (NNL) trong các DNDL ở tỉnh Quảng Ngãi vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Việc nghiên cứu và đưa ra các giải pháp để PTNNL trong các DNDL ở tỉnh Quảng Ngãi rất quan trọng. Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi chọn đề tài luận án “ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP DU LỊCH Ở TỈNH QUẢNG NGÃI” làm đề tài nghiên cứu cho luận án tiến sĩ chuyên ngành quản trị kinh doanh vừa có tính cấp bách và cần thiết. Tổn qu n các n n cứu về p át tr ển n uồn n ân lực tron do n n ệp du lịc Trong các nghiên cứu nước ngoài về PTNNL trong DNDL được nghiên cứu sinh tìm hiểu phải kế đến các nghiên cứu sau đây: Sampad và Babu (2007), thừa nhận tác động tích cực của đào tạo cho nhân viên của họ với mục đích đáp ứng thách thức nguồn nhân lực trong tương lai.
Nghiên cứu cho thấy nhân viên khách sạn đánh giá cao mối liên hệ giữa đào tạo nghề và cơ hội thăng tiến. Họ cũng hiểu rằng đào tạo nghề có thể thúc đẩy tốt hiệu quả của tổ chức. Tuy nhiên, sự hiểu biết này ở người lao động làm việc ở khách sạn cao sao mạnh hơn người lao động ở khách sạn thấp sao. Hoạt động đào tạo du lịch (DL), thường xuyên kiểm tra các thiếu sót trong đào tạo DL; các cơ sở giáo dục có khả năng cung cấp đủ nguồn nhân lực du lịch (NNLDL) được đào tạo và nâng cao năng lực.
Vì vậy, ngành du lịch của Kenya tương đối phát triển và đã trở thành điểm đến phổ biến cho du khách quốc tế, đặc biệt là du khách châu Âu và Bắc Mỹ (Mayaka và John, 2007). Xác định nhu cầu đào tạo, nâng cao kiến thức và kỹ năng cho người lao động là việc làm cần thiết để phát triển NNL trong ngành khách sạn bên cạnh việc quản lý hiệu suất làm việc (Boella, 2007). Từng cấp độ khác nhau có sự khác nhau về mức độ đào tạo chẳng hạn cấp nhóm cần đào tạo kỹ năng làm việc nhóm, tạo động lực các thành viên nhóm và nâng cao kiến thức, kỹ năng và thái độ 5 cho người lao động; cấp phòng cần đào tạo phát triển cá nhân, phát triển hiệu suất; cấp doanh nghiệp đào tạo phù hợp cho từng đối tượng lao động và đem lại lợi ích công ty (Dennis, 2007) Theo Ibida (2010), ngành công nghiệp du lịch hướng tới sự phát triển các chương trình giảng dạy du lịch của các trường đại học để tạo ra các nhà quản lý có trình độ và sự chấp nhận của họ về phát triển tương lai của chương trình du lịch đại học là một lĩnh vực chuyên môn của nghiên cứu. Một số kiến nghị của ông là du lịch sẽ được công nhận là một nghề.
Một chương trình giáo dục du lịch phải được bắt đầu trong các trường đại học.