Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng khoa học công nghệ bùng nổ, nền kinh tế thế giới đang chuyển dịch mạnh mẽ từ mô hình công nghiệp truyền thống sang nền kinh tế dựa trên tri thức. Tại Việt Nam năm 2006, mức thu nhập bình quân đầu người mới đạt khoảng 725,3 USD/năm, thuộc nhóm các quốc gia có thu nhập thấp dưới ngưỡng 745 USD theo phân loại của Ngân hàng Thế giới. Để thu hẹp khoảng cách phát triển và thực hiện thành công tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn, việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò then chốt quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Dù Việt Nam đã dành tới 8,3% GDP cho chi tiêu giáo dục vào năm 2005, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực vẫn đối mặt với nhiều thách thức to lớn.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm sáng tỏ bản chất kinh tế chính trị của nguồn nhân lực trong nền kinh tế tri thức, đồng thời đánh giá toàn diện thực trạng phát triển năng lực thể chất, trí tuệ, cơ cấu giáo dục và đào tạo nghề nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2000 - 2006. Mục tiêu cụ thể của công trình là xác lập hệ thống cơ sở lý luận, chỉ ra những thành tựu cùng các nút thắt bất cập trong việc phân bổ, đào tạo và sử dụng lao động trình độ cao, từ đó xây dựng các định hướng, giải pháp đồng bộ giai đoạn 2006 - 2010. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát toàn diện hệ thống nhân lực trên phạm vi cả nước, kết hợp đối sánh bài học kinh nghiệm từ Hàn Quốc và Trung Quốc. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học để tái cơ cấu hệ thống giáo dục, giảm tỷ lệ sinh viên trên giảng viên từ mức 31,2 hiện tại về chuẩn chất lượng, đồng thời nâng cao hiệu quả đóng góp của tri thức vào tăng trưởng kinh tế bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết vốn con người (Human Capital Theory) do nhà kinh tế học đoạt giải Nobel năm 1992 Gary Becker khởi xướng, nhấn mạnh việc đầu tư vào con người mang lại hiệu quả sinh lời vượt trội so với vốn vật chất. Báo cáo của Ngân hàng Thế giới chỉ rõ tỷ suất thu hồi vốn khi đầu tư vào giáo dục tiểu học đạt 24%, trung học đạt 17%, cao đẳng và đại học đạt 14%, trong khi đầu tư vào các ngành sản xuất vật chất thông thường chỉ đạt khoảng 13%.

Bên cạnh đó, luận văn áp dụng khung lý thuyết kinh tế tri thức của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD, 1996), định nghĩa nền kinh tế tri thức là nền kinh tế trực tiếp dựa vào việc sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức. Trong mô hình này, công thức lưu thông tư bản truyền thống "Tiền - Hàng - Tiền" dần chuyển hóa thành "Tiền - Tri thức - Tiền", biến tri thức thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Tiếp cận theo Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể năng lực thể chất và năng lực trí tuệ được huy động vào quá trình sản xuất xã hội. Ba khái niệm trung tâm được chuẩn hóa gồm: nguồn nhân lực chất lượng cao, năng lực đổi mới sáng tạo và quá trình công nghiệp hóa rút ngắn gắn với kinh tế tri thức.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn triển khai trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phân tích kinh tế chính trị, thống kê mô tả, so sánh đối chiếu và tổng hợp hệ thống. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập đồng bộ từ Niên giám Thống kê quốc gia (2000 - 2006), báo cáo tài chính công khai của Bộ Tài chính, cơ sở dữ liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, cùng các báo cáo chuyên đề của Ngân hàng Thế giới và Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao trùm toàn bộ hệ thống giáo dục và lao động quốc gia trong giai đoạn 6 năm (2000 - 2006), bao gồm 299 trường đại học, cao đẳng với 1.666.200 sinh viên, 269 cơ sở đào tạo trung học chuyên nghiệp và dạy nghề với 468.800 học sinh, cùng hệ thống 27.593 trường phổ thông trên toàn quốc. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ dữ liệu thống kê chính thống được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện tuyệt đối và tính khách quan vĩ mô. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích kinh tế chính trị kết hợp thống kê chuỗi thời gian là để bóc tách quy luật vận động nội tại của lực lượng sản xuất, làm rõ mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất với việc phân bổ nguồn lực lao động trí tuệ trong thời kỳ quá độ lên kinh tế tri thức.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu phát hiện sự mất cân đối nghiêm trọng trong cơ cấu trình độ đào tạo giữa đại học và dạy nghề theo mô hình "tháp nhân lực ngược". Năm 2000, số sinh viên cao đẳng, đại học là 899.500 người, gấp 3,52 lần số học sinh trung học chuyên nghiệp và dạy nghề (255.400 học sinh). Đến năm 2006, khoảng cách này tiếp tục gia tăng lên 3,55 lần khi quy mô sinh viên đại học đạt 1.666.200 người so với chỉ 468.800 người học nghề.

Thứ hai, tốc độ gia tăng quy mô người học vượt xa tốc độ bổ sung đội ngũ giảng viên đại học, gây áp lực trực tiếp lên chất lượng đào tạo. Giai đoạn 2000 - 2006, số lượng sinh viên tăng 85,2% (từ 899.500 lên 1.666.200 sinh viên), trong khi đội ngũ giảng viên chỉ tăng 65,3% (từ 32.300 lên 53.400 người). Tỷ lệ sinh viên trên một giảng viên theo đó tăng tiêu cực từ 28,0 lên 31,2 sinh viên/giảng viên.

Thứ ba, ngân sách nhà nước chi cho giáo dục tăng nhanh về quy mô nhưng cơ cấu phân bổ chi tiêu chưa tối ưu cho nghiên cứu khoa học. Tổng chi ngân sách cho giáo dục tăng từ 23.219 tỷ đồng (chiếm 15% tổng ngân sách) năm 2000 lên 68.968 tỷ đồng (chiếm 21% tổng ngân sách) năm 2005. Tuy nhiên, khoảng 80% đến 90% nguồn kinh phí này được sử dụng cho việc chi trả lương và phụ cấp, khiến đầu tư cho phòng thí nghiệm, trang thiết bị công nghệ hiện đại chỉ chiếm 10% đến 20%.

Thứ tư, thể lực và tầm vóc của người lao động Việt Nam có bước tiến nhưng còn khoảng cách lớn so với các nước công nghiệp hóa. Chiều cao trung bình của nam thanh niên tăng 6,14cm (từ 159,00cm năm 1975 lên 165,14cm năm 2006, cân nặng đạt 53,19kg), nữ thanh niên đạt 153,88cm và 46,02kg. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi giảm từ 44,9% năm 1995 xuống 30,1% năm 2002. Dẫu vậy, tốc độ tăng trưởng chiều cao của thanh niên Việt Nam chỉ đạt khoảng 0,24cm/năm trong 20 năm, thấp hơn nhiều so với tốc độ 0,85cm/năm của thanh niên Nhật Bản trong cùng giai đoạn phát triển tương ứng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng thừa thầy thiếu thợ bắt nguồn từ tâm lý chuộng khoa cử, bằng cấp truyền thống của xã hội và công tác phân luồng sau trung học cơ sở chưa hiệu quả. Thị trường lao động xuất hiện nghịch lý: vừa thiếu trầm trọng công nhân kỹ thuật bậc cao phục vụ các dự án trọng điểm (phải thuê thợ hàn công nghệ cao nước ngoài), vừa đối mặt với nguy cơ thất nghiệp hoặc làm việc trái ngành của cử nhân đại học do thiếu kỹ năng thực hành và ngoại ngữ. Tình trạng "dạy chay, học chay" kéo dài do phần lớn ngân sách giáo dục dành cho quỹ lương mà thiếu kinh phí hiện đại hóa giáo trình và phòng nghiên cứu.

So sánh với bài học quốc tế, Hàn Quốc đã thành công nhờ dành tới 27% - 29% ngân sách cho giáo dục vào thập niên 90, đầu tư R&D chiếm 3% GNP và phổ cập 100% tiểu học từ năm 1970, tạo nền tảng làm chủ công nghệ CDMA băng rộng. Trong khi đó, Trung Quốc triển khai Chương trình 863 về công nghệ cao, thành lập quỹ khoa học tự nhiên tài trợ hơn 30.000 dự án/năm và thực hiện chính sách thu hút 31.000 trí thức kiều bào hồi hương năm 2006 (trong đó 90% có bằng thạc sĩ, tiến sĩ). Dữ liệu nghiên cứu phản ánh rõ nét qua biểu đồ cột đối sánh tốc độ tăng trưởng sinh viên đại học với học sinh học nghề, cùng bảng phân tích cơ cấu ngân sách đào tạo, khẳng định sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu đầu tư từ số lượng sang chất lượng chiều sâu.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cấu trúc hệ thống giáo dục nghề nghiệp và đẩy mạnh phân luồng học sinh. Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành đề án phân luồng bắt buộc sau cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông, nâng tỷ trọng tuyển sinh dạy nghề lên khoảng 40% - 45% tổng quy mô đào tạo sau phổ thông vào năm 2010. Mục tiêu là đưa cơ cấu đào tạo giữa đại học và học nghề từ mức mất cân đối 3,55:1 hiện nay về tỷ lệ hợp lý 1:2 hoặc 1:3 theo chuẩn các nước công nghiệp phát triển.

Thứ hai, cơ cấu lại nguồn chi ngân sách giáo dục và tăng cường đầu tư cho nghiên cứu khoa học công nghệ (R&D). Bộ Tài chính và Bộ Khoa học và Công nghệ cần điều chỉnh tỷ trọng chi ngân sách giáo dục, nâng mức phân bổ cho cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, thư viện số từ mức dưới 20% lên 30% - 35% tổng ngân sách ngành vào năm 2010. Đồng thời, nâng tỷ lệ đầu tư cho các đề tài R&D quốc gia đạt ít nhất 1,5% - 2,0% GDP để tạo môi trường sáng tạo cho nhân lực chất lượng cao.

Thứ ba, triển khai chương trình quốc gia nâng cao tầm vóc thể lực và xây dựng tác phong công nghiệp. Bộ Y tế phối hợp với Tổng cục Thể dục Thể thao thực hiện chương trình dinh dưỡng học đường quy mô toàn quốc, phấn đấu giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi xuống dưới 20% và nâng chiều cao trung bình của thanh niên tăng thêm 0,5cm/năm trong giai đoạn 2006 - 2010. Song song đó, các trường đại học cần tích hợp kỹ năng mềm, kỷ luật lao động và chuẩn tin học, ngoại ngữ quốc tế vào chương trình giảng dạy chính khóa.

Thứ tư, hoàn thiện thể chế và chính sách trọng dụng, thu hút nhân tài khoa học công nghệ. Chính phủ cần xây dựng cơ chế tiền lương đặc thù, ưu đãi nhà ở và môi trường làm việc thông thoáng nhằm thu hút khoảng 2.000 đến 3.000 chuyên gia, nhà khoa học Việt kiều có trình độ cao từ các nước phát triển về nước làm việc hoặc hợp tác nghiên cứu mỗi năm trong giai đoạn 2007 - 2010.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách kinh tế và quản lý nhà nước tại Ban Tuyên giáo, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Giáo dục và Đào tạo. Luận văn cung cấp luận cứ kinh tế chính trị vững chắc và hệ thống dữ liệu toàn diện về sự mất cân đối lao động, hỗ trợ xây dựng chiến lược phát triển nhân lực quốc gia đến năm 2010 và tầm nhìn 2020.

Thứ hai, ban giám hiệu và hội đồng khoa học của các trường đại học, cao đẳng và cơ sở dạy nghề. Tài liệu là cẩm nang phân tích chuyên sâu về tỷ lệ sinh viên trên giảng viên (hiện ở mức 31,2) và nhu cầu chuyển dịch chương trình đào tạo theo hướng thực hành công nghệ cao, giúp các trường đổi mới chỉ tiêu tuyển sinh và giáo trình giảng dạy.

Thứ ba, các giám đốc nhân sự (HRD) và lãnh đạo doanh nghiệp trong các ngành công nghệ thông tin, viễn thông, sinh học. Công trình cung cấp bức tranh toàn cảnh về điểm mạnh (cần cù, tiếp thu nhanh) và điểm yếu (thể lực, tác phong công nghiệp, ngoại ngữ) của lao động Việt Nam, hỗ trợ thiết kế các chương trình đào tạo nội bộ tối ưu.

Thứ tư, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Kinh tế chính trị, Quản lý giáo dục và Kinh tế phát triển. Luận văn cung cấp mô hình tích hợp giữa lý thuyết vốn con người (tỷ suất sinh lời 14% - 24%) với hệ thống dẫn chứng thực tiễn phong phú từ Hàn Quốc và Trung Quốc, phục vụ thiết thực cho các công trình nghiên cứu học thuật liên quan.

Câu hỏi thường gặp

Kinh tế tri thức đặt ra những yêu cầu then chốt nào đối với nguồn nhân lực Việt Nam? Kinh tế tri thức đòi hỏi người lao động phải sở hữu năng lực đổi mới sáng tạo, trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, khả năng sử dụng thành thạo công nghệ thông tin và ngoại ngữ để làm việc trong môi trường quốc tế. Nguồn nhân lực không chỉ thực hiện các thao tác mẫu mà phải có tư duy chuyển hóa thông tin thành các sáng chế và sản phẩm công nghệ giá trị gia tăng cao.

Vì sao ngân sách giáo dục đạt tới 8,3% GDP nhưng chất lượng đại học vẫn còn nhiều hạn chế? Mặc dù tổng chi ngân sách cho giáo dục năm 2005 đạt 68.968 tỷ đồng (tương đương 8,3% GDP), nhưng khoảng 80% đến 90% số tiền này phải chi trả lương và phụ cấp do quy mô bộ máy lớn. Phần kinh phí đầu tư mua sắm trang thiết bị thí nghiệm, nghiên cứu khoa học chỉ chiếm 10% - 20%, dẫn đến tình trạng thiếu cơ sở thực hành hiện đại cho sinh viên.

Nghịch lý lớn nhất trong cơ cấu đào tạo nhân lực tại Việt Nam giai đoạn 2000 - 2006 là gì? Điểm nghẽn lớn nhất là cơ cấu đào tạo bị đảo lộn theo mô hình "thừa thầy, thiếu thợ". Năm 2006, cả nước có 1.666.200 sinh viên đại học, cao đẳng nhưng chỉ có 468.800 học sinh trung học chuyên nghiệp và dạy nghề (sinh viên đại học gấp 3,55 lần học sinh nghề), dẫn tới tình trạng cử nhân thất nghiệp trong khi các dự án công nghiệp phải nhập khẩu công nhân kỹ thuật.

Việt Nam có thể vận dụng bài học kinh nghiệm gì từ Hàn Quốc và Trung Quốc? Hàn Quốc cung cấp bài học về việc hoàn thành phổ cập giáo dục từ sớm, đầu tư 3% GNP cho R&D và làm chủ công nghệ mũi nhọn như CDMA. Trung Quốc mang lại kinh nghiệm triển khai Chương trình 863 quốc gia, lập quỹ khoa học tài trợ hơn 30.000 dự án cơ bản mỗi năm và chính sách trải thảm đỏ thu hút 31.000 trí thức kiều bào hồi hương năm 2006.

Thể lực và tâm lý lao động ảnh hưởng thế nào đến năng suất trong kinh tế tri thức? Thể lực hạn chế với chiều cao nam 165,14cm và tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em 30,1% làm giảm sức bền dưới áp lực công nghiệp hóa. Đồng thời, tàn dư tâm lý tiểu nông như thói quen làm việc tùy tiện, thiếu tính kỷ luật và tâm lý ỷ lại thời bao cấp tạo lực cản trực tiếp đối với quá trình tiếp thu công nghệ và hội nhập kinh tế toàn cầu.

Kết luận

  • Luận văn khẳng định nguồn nhân lực chất lượng cao là động lực then chốt, quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn và hội nhập kinh tế tri thức tại Việt Nam.
  • Công trình đã chỉ rõ thực trạng mất cân đối trầm trọng trong cơ cấu đào tạo giai đoạn 2000 - 2006, khi quy mô sinh viên đại học (1.666.200 người) cao gấp 3,55 lần học sinh dạy nghề, gây ra nghịch lý thừa thầy thiếu thợ.
  • Phân tích sâu sắc hạn chế trong việc phân bổ ngân sách giáo dục (chiếm 8,3% GDP nhưng 80% - 90% dành cho quỹ lương) và sự suy giảm tỷ lệ giảng viên trên sinh viên từ 1/28 xuống 1/31,2.
  • Rút ra hệ thống bài học quốc tế quý báu từ Hàn Quốc và Trung Quốc về chính sách đầu tư R&D vượt ngưỡng 3% GNP, phát triển hạ tầng mạng và thu hút trí thức kiều bào hồi hương.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược giai đoạn 2006 - 2010 về phân luồng học nghề, tái cơ cấu ngân sách nghiên cứu, cải thiện thể lực và ban hành cơ chế đãi ngộ nhân tài.

Đóng góp khoa học nổi bật của luận văn là khắc họa toàn diện vai trò của nguồn nhân lực dưới góc độ kinh tế chính trị, xác lập cơ sở thực tiễn để chuyển đổi mô hình giáo dục theo chuẩn kinh tế tri thức. Kế hoạch hành động giai đoạn 2006 - 2010 đòi hỏi các cơ quan quản lý và cơ sở đào tạo cần khẩn trương thực hiện quy hoạch mạng lưới trường lớp, chuẩn hóa tỷ lệ giảng viên và đầu tư có trọng điểm cho khoa học công nghệ. Các nhà nghiên cứu và cơ quan hoạch định chính sách hãy tham khảo toàn văn công trình để cùng hiện thực hóa chiến lược nâng tầm nguồn nhân lực Việt Nam trong kỷ nguyên mới.