Chương 1. Cơ sở lí luận về phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực đào tạo, dạy nghề du lịch; Chương 2. Thực trạng phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực đào tạo, dạy nghề du lịch trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng; Chương 3. Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực đào tạo, dạy nghề du lịch trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG LĨNH VỰC ĐÀO TẠO, DẠY NGHỀ DU LỊCH 1. Khái niệm, vai trò của nguồn nhân lực trong đào tạo, dạy nghề du lịch 1. Du lịch Du lịch là một hiện tượng kinh tế, văn hóa, xã hội phổ biến không chỉ ở các nước phát triển mà cả ở những nước đang phát triển. Mặc dù hoạt động du lịch có nguồn gốc hình thành từ lâu và phát triển với tốc độ rất nhanh, nhưng khái niệm “du lịch” lại được hiểu rất khác nhau tại các quốc gia và từ các góc độ nghiên cứu khác nhau, như Giáo sư, Tiến sỹ Bernecker nhận định “Đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa” [7, Tr 6].
Thuật ngữ Du lịch trong ngôn ngữ nhiều nước bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp với ý nghĩa là “đi một vòng”. Thuật ngữ này được La tinh hoá thành tornus và sau đó thành tourisme (tiếng Pháp), tourism (tiếng Anh). Trong tiếng Việt thuật ngữ này được dịch thông qua tiếng Hán, với nghĩa “du” là đi chơi, “lịch” là trải nghiệm. Còn người Trung Quốc lại gọi “tourism” là “du lãm” với nghĩa đi chơi để nâng cao nhận thức.
Theo nhà khoa học Guer Freuler (Đức) “ Du lịch là một hiện tượng của thời đại chúng ta, dựa trên sự tăng trưởng về nhu cầu khôi phục sức khỏe và sự đổi thay của môi trường xung quanh, dựa vào sự phát sinh, phát triển những tình cảm đối với vẻ đẹp của tự nhiên” Giáo sư, tiến sĩ Hunziker và giáo sư, tiến sĩ Krapf – Hai người được coi là đặt nền móng cho cho lý thuyết về cung du lịch, đưa ra định nghĩa như sau: “Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không dính dáng đến hoạt động kiếm lời” [7 tr 13]. 7 Định nghĩa trong Từ điển Bách khoa quốc tế về Du lịch (Viện Hàn lâm khoa học quốc tế về du lịch): “Du lịch là tập hợp các hoạt động tích cực của con người nhằm thực hiện một dạng hành trình, là một công nghiệp liên kết nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch… Du lịch là cuộc hành trình mà một bên là người khởi hành với mục đích đã được chọn trước và một bên là những công cụ làm thỏa mãn các nhu cầu của họ”. Dưới con mắt của các nhà kinh tế học, du lịch không chỉ đơn thuần là một hiện tượng xã hội mà nó liên quan mật thiết đến các hoạt động kinh tế. Nhà kinh tế học Kalfiotis cho rằng “Du lịch là sự di chuyển tạm thời của cá nhân hay tập thể từ nơi ở đến một nơi khác nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần, đạo đức và do đó tạo nên các hoạt động kinh tế”.
Trong giáo trình Thống kê du lịch, tác giả Nguyễn Cao Thường và Tụ Đăng Hải cho rằng “Du lịch là một ngành kinh tế xã hội, dịch vụ, có nhiệm vụ phục vụ nhu cầu tham quan giải trí, nghỉ ngơi hoặc cũng kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác”. Các nhà nghiên cứu xã hội học lại cho rằng du lịch là quan hệ tương hỗ của bốn nhóm đối tượng là: du khách, cơ quan cung ứng, chính quyền và cư dân tại điểm đến du lịch tạo nên. Tổ chức Du lịch Thế giới của Liên Hiệp Quốc (UNWTO) đưa ra định nghĩa: “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là làm tiền. Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư.” Theo Luật du lịch Việt Nam năm 2005 thì khái niệm du lịch được hiểu như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con 8 người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [5, Tr.
Như vậy, du lịch là hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia. Hoạt động du lịch chẳng những đem lại lợi ích kinh tế mà còn cả lợi ích chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục… Bản thân hoạt động du lịch không nằm ngoài mục đích thỏa mãn các nhu cầu ngày một phong phú của con người như giải trí, tham quan, nghiên cứu, khám phá, tìm hiểu… 1. Đào tạo, dạy nghề * Khái niệm đào tạo: Theo PGS. Tiến sĩ Trần Kim Dung, tác giả cuốn Phát triển nguồn nhân lực thì đào tạo là các hoạt động tác động lên quá trình học tập để nâng cao các kiến thức, kỹ năng thực hành.
Đào tạo có định hướng vào hiện tại, chú trọng vào công việc hiện thời của cá nhân, giúp các cá nhân có ngay các kỹ năng cần thiết để thực hiện tốt công việc hiện tại. Đào tạo có thể chia thành 2 nhóm, một là đào tạo trong công việc và hai là đào tạo ngoài công việc. Đào tạo trong công việc là các phương pháp đào tạo trực tiếp tại nơi làm việc, trong đó người học sẽ được học những kiến thức và kỹ năng cần thiết cho công việc thông qua thực hiện công việc và thường là dưới sự hướng dẫn của những người lao động lành nghề hơn. Còn đào tạo ngoài công việc là phương pháp đào tạo trong đó người học được tách ra khỏi sự thực hiện các công việc thực tế.
Một số nhà nghiên cứu cho rằng đào tạo nguồn nhân lực là một loại hoạt động có tổ chức, được thực hiện trong một thời gian nhất định và nhằm đem đến sự thay đổi nhân cách và nâng cao năng lực của con người. Đào tạo trong luận văn này được hiểu là một quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm truyền đạt các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo trong lý thuyết và thực tiễn, tạo ra năng lực để thực hiện thành công một hoạt động 9 nghề nghiệp; là sự phát triển có hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cho mỗi cá nhân để thực hiện một nghề hay một nhiệm vụ cụ thể một cách tốt nhất. Phân loại nhu cầu đào tạo: - Loại 1: Đào tạo để đáp ứng tiêu chuẩn quy định cho mỗi loại viên chức, trong đó có chuẩn ngạch giáo viên. - Loại 2: Đào tạo để thay đổi và phát triển trong tương lai (đào tạo để lấy bằng cấp cao hơn).
- Loại 3: Bồi dưỡng để thực hiện nhiệm vụ tốt hơn (hướng dẫn thử việc, hội nghị, hội thảo trao đổi chuyên môn…) Đánh giá nhu cầu đào tạo: + Phân tích tổ chức + Phân tích công việc + Phân tích cá nhân Xác định mục tiêu đào tạo Lựa chọn các phương pháp đào tạo và áp dụng các nguyên tắc học Xây dựng các tiêu chuẩn Tiến hành đào tạo Đo lường và so sánh kết quả đào tạo với các tiêu chuẩn Phản hồi Sơ đồ 1. Mô hình hệ thống về quy trình đào tạo (Nguồn: Training in Organizations, Goldstein, 1993) * Khái niệm nghề: Theo từ điển Tiếng Việt “Nghề là công việc chuyên môn làm theo sự phân công lao động xã hội” [17, tr 676]. Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện nay, muốn hành nghề tốt, mỗi người 10 phải trải qua quá trình đào tạo theo một chương trình quy định với những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết theo yêu cầu của thị trường lao động để có thể hành nghề. Trong luận văn này thì nghề là một dạng lao động đòi hỏi con người phải trải qua một quá trình đào tạo chuyên biệt để có những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn nhất định.
Nhờ quá trình hoạt động nghề nghiệp, con người có thể tạo ra sản phẩm để thỏa mãn những nhu cầu của cá nhân và xã hội. Một số nghề cơ bản được đào tạo trong lĩnh vực du lịch: - Nghề lễ tân: Nghề lễ tân là nghề giao tiếp với khách hàng để chào bán dịch vụ lưu trú, ăn uống và các dịch vụ bổ sung trong và ngoài khách sạn, nhằm mục đích mang lại lợi nhuận tối ưu cho khách sạn và sự hài lòng cho khách hàng. - Nghề phục vụ buồng: Nghề buồng hay còn gọi là nghiệp vụ lưu trú là nghề thực hiện quá trình thu, dọn và thay đổi các vật dụng, đồ vải trong phòng khách; thực hiện qui trình vệ sinh sạch sẽ tất cả các khu vực phòng khách, khu vực công cộng, hậu sảnh theo tiêu chuẩn của khách sạn, khu resort hoặc các đơn vị có kinh doanh lưu trú; duy trì vẻ đẹp và kéo dài tuổi thọ của các loại trang thiết bị, tiện nghi trong khách sạn thuộc phạm vi trách nhiệm của bộ phận Buồng. Ngoài ra, còn cung cấp các dịch vụ bổ sung cho khách lưu trú như giặt là, mini bar, phục vụ ăn, uống tại phòng, trông trẻ.
- Nghề chế biến món ăn: Là nghề kỹ thuật, trực tiếp chế biến các loại món ăn tại các cở sở kinh doanh ăn uống (khách sạn, nhà hàng…) đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm. - Nghề phục vụ bàn và pha chế đồ uống: Là nghề chuyên tổ chức, đón tiếp và phục vụ khách ăn uống tại các nhà hàng, khách sạn và các cơ sở kinh doanh ăn uống khác, với các hình thức phục vụ đa dạng phong phú (ăn theo thực đơn, chọn món, buffet, các loại tiệc, các loại đồ uống pha chế, đồ uống 11 không cồn, đồ uống có cồn, các hình thức phục vụ khác.) đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, vệ sinh, an toàn, an ninh, chu đáo và lịch sự.