Chương 1 TRUNG TÂM THÔNG TIN - THƯ VIỆN ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN HÀ NỘI VỚI CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ NGHIÊN CỨU CỦA TRƯỜNG 1. HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM THÔNG TIN - THƯ VIỆN ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN HÀ NỘI VỚI CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHIÊN CỨU CỦA TRƯỜNG. Vài nét về trường Đại học Kinh tế Quốc dõn Hà Nội Trường Kinh tế Tài chính Trung ương là tiền thân của Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội (ĐHKTQDHN) thuộc Đại học Nhân dân Việt Nam được thành lập theo nghị định số 678/TTG của Thủ tướng Chính phủ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng là Hiệu trưởng danh dự Nhà trường. Từ cái nôi của Đại học Nhân dân, trường ĐHKTQDHN đó phỏt triển như con chim đầu đàn trong khối các trường đại học kinh tế và là trường trọng điểm trong hệ thống các trường đại học Việt nam.
Chức năng nhiệm vụ chính của Trường hiện nay là: Đào tạo cán bộ quản lý kinh tế và quản trị kinh doanh bậc đại học và sau đại học; Tư vấn về chính sách vĩ mô cho Đảng và Nhà nước; Tư vấn và là trung tõm chuyển giao cụng nghệ quản lý kinh tế và quản trị kinh doanh. 7 Nhà trường hiện có hơn một ngàn giáo viên, cán bộ công nhân viên: trong đó có 26 giáo sư, 69 Phó giáo sư, 207 Tiến sỹ, 250 Thạc sỹ, 20 Giảng viờn cao cấp, 230 giảng viờn chớnh, 329 giảng viờn, 2 Nhà giỏo Nhõn dõn, 41 Nhà giỏo ưu tú … Về cơ cấu tổ chức: Trường hiện cú 19 khoa (trong đó có 14 khoa đào tạo chuyên ngành, 02 khoa quản lý đào tạo và 02 khoa không đào tạo chuyên ngành) với 32 chuyên ngành đào tạo; 2 viện và 08 trung tâm (trong đó có 1 trung tâm đào tạo chuyên ngành); 13 bộ môn trực thuộc (trong đó có 4 bộ môn đào tạo chuyên ngành); 9 phũng ban, chức năng và 4 đơn vị phục vụ khác. Trường là trung tâm đào tạo cán bộ quản lý kinh tế và quản trị kinh doanh bậc đại học và sau đại học; trung tâm nghiên cứu, tư vấn khoa học kinh tế làm cơ sở cho việc hoạch định chủ trương, đường lối, chính sách phát triển kinh tế của Đảng, Nhà nước, các ngành, địa phương và quản lý sản xuất kinh doanh của cỏc doanh nghiệp. Trong 50 năm qua, Trường đó đào tạo được trên 56.300 sinh viờn, trong đó có 25.000 cử nhân dài hạn tập trung, 20.000 cử nhõn tại chức, 5.000 cử nhõn bằng II, 3.500 cử nhõn hệ chuyờn tu, 580 tiến sỹ, 1.800 thạc sỹ, 103 cử nhõn cho nước bạn Lào và Cămpuchia, mở 12 khoá đào tạo cử nhân tại Cămpuchia.
Ngoài ra, Trường cũn tổ chức bồi dưỡng kiến thức đại học và sau đại học cho khoảng hơn 55.000 cỏn bộ kinh tế, kinh doanh cho cả nước. Cơ cấu ngành nghề từ 17 chuyên ngành năm 1996 đến nay đó phỏt triển thành 34 chuyờn ngành đào tạo. Quy mô đào tạo: từ 22.000 sinh viên năm 1996 đến nay quy mô đào tạo của Trường là trờn 30.000, riờng hệ sau đại học tăng từ 800 học viên năm 1996 lờn trên 1500 học viên năm 2006. Bồi dưỡng kiến thức kinh tế 8 cho hơn 10.000 cán bộ kinh tế, kinh doanh cho các địa phương và doanh nghiệp.
Trường hiện đang liên kết đào tạo với 32 bộ, ngành và các tỉnh, thành trong cả nước. Trường luôn là đơn vị dẫn đầu trong khối các trường đại học về đào tạo cán bộ quản lý kinh tế và quản trị kinh doanh cú chất lượng cao trong cả nước. Trường là cái nôi của nhiều trường đại học trong khối kinh tế, đồng thời cũng là nguồn cung cấp nhiều cán bộ giảng dạy cho các trường đại học và cao đẳng thuộc khối kinh tế. Hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) là một trong những hoạt động đi đầu có tính sáng tạo cao trong Nhà trường.
Trường được Bộ chính trị tín nhiệm giao tham gia biên soạn các văn kiện cho Đại hội VIII, IX và nhiều Hội nghị TW, chủ trỡ nhiều đề tài khoa học cấp Nhà nước. Kết quả nghiên cứu của các đề tài đó là cơ sở khoa học quan trọng giúp Đảng, Chính phủ xây dựng và hoạch định các chính sách phát triển kinh tế xó hội trong thời kỳ đổi mới ở nước ta. Khái quát về sự hình thành, phát triển - những hoạt động cơ bản của Trung tõm Thụng tin - Thư viện Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội trong công tác đào tạo, nghiên cứu của Trường. Thư viện trường Đại học Kinh tế - Tài chớnh nay là Trung tõm Thụng tin - Thư viện Đại học Kinh tế quốc dõn Hà Nội (TTTT-TVĐHKTQDHN) được thành lập từ năm 1956, cùng với sự ra đời của trường Kinh tế Tài chính Trung ương nay là trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội.
TTTT- TVĐHKTQDHN là một thư viện lớn trong hệ thống thư viện trường đại học và cả nước. Trải qua hơn 50 năm Trung tâm đó từng bước lớn mạnh, không ngừng phát triển. Đặc biệt trong thời gian qua Trung tâm được Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nhà trường dành cho Dự án Giỏo dục Đại học mức A 9 để nâng cấp đó làm cho bộ mặt của Trung tõm cú sự thay đổi đáng kể, vươn tới mô hỡnh Thư viện hiện đại nhằm phục vụ tốt nhất cho sự nghiệp đào tạo và NCKH của Trường. Nhỡn vào quỏ trỡnh hỡnh thành và phỏt triển của Trung tõm, ta cú thể chia thành 2 giai đoạn lớn: - Giai đoạn thứ nhất: Từ năm 1956 đến năm 1985 - Giai đoạn thứ hai : Từ năm 1986 đến nay *Giai đoạn từ năm 1956 đến năm 1985 Giai đoạn trước năm 1985 Trung tâm vẫn có tên là “Thư viện” phải vượt qua bao khó khăn để giữ vững vị trí và hoàn thành nhiệm vụ của mỡnh.
Bởi vỡ giai đoạn này Nhà trường và Đất nước có nhiều sự kiện đặc biệt. Đó là khi Trường Đại học Kinh tế - Tài chớnh nay là Trường ĐHKTQDHN mới xây dựng và phát triển được mấy năm, nhưng do yờu cầu mới, một số khoa của Trường phải tách ra để thành lập một số trường Đại học khác. Ví dụ: trường Đại học Ngoại thương (thỏng 10 năm 1962), Khoa Kinh tế trường Đại học Giao thông (Tháng 1 năm 1963), trường Đại học Tài chớnh Kế toỏn (năm 1963 - 1964), trường Đại học Thương nghiệp (năm 1964 - 1965). Thỏng 1 năm 1965 trường đổi tên thành trường Đại học Kinh tế Kế hoạch.
Sau ngày giải phóng miền Nam năm 1975, các trường kinh tế phía Nam được xây dựng và củng cố, trường ĐHKTQDHN cũng lại cú trỏch nhiệm giúp các trường đó. Như vậy trong những năm này Nhà trường không những phải cử cán bộ, giáo viên đi xây dựng và củng cố các trường mới, mà nguồn tài liệu của Thư viện cũng phải chia ra để chi viện cho các trường đó (trong khi nguồn tài liệu của Thư viện trên thực tế cũn rất ớt ỏi). Trước năm 1975, miền Nam nước ta phải gian khổ chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai. Miền Bắc vừa phải khôi phục kinh tế, xây 10 dựng chủ nghĩa xó hội và chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.
Đặc biệt những năm 1964-1972 miền Bắc phải trực tiếp chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Trong những năm này, Nhà trường phải đi sơ tán, các khoa phải phân tán ở cỏc khu vực khỏc nhau. Vỡ vậy Thư viện phải phân chia lực lượng đi đến các nơi sơ tán để phục vụ cán bộ, giáo viên và sinh viên các khoa. Trong điều kiện này Thư viện gặp rất nhiều khó khăn: thiếu thốn về kinh phí, cơ sở vật chất, nguồn tài liệu, đội ngũ cán bộ và hoạt động trong điều kiện gian khổ vỡ chiến tranh.Cú thể núi rằng trong giai đoạn này Thư viện không mấy khi được ổn định để phát triển, mà luôn phải ứng phó với những yêu cầu, nhiệm vụ đột xuất mới đặt ra.
Từ năm 1975 Thư viện bước sang giai đoạn hoạt động trong điều kiện hũa bỡnh, đồng thời được sự quan tâm đầu tư của Nhà trường, nên có nhiều thuận lợi để củng cố và hoàn thiện. Đội ngũ cán bộ nhân viên Thư viện đó được nâng cao trỡnh độ chuyên môn nghiệp vụ, có kiến thức khoa học kinh tế, đủ khả năng xử lý thụng tin phục vụ cho cụng tỏc NCKH, giảng dạy, học tập của giỏo viờn và sinh viờn. Đến năm 1985 Thư viện được đổi tên là “Trung tâm Thông tin - Thư viện Đại học Kinh tế Quốc dân”. Thời kỳ này thư viện vẫn là thư viện truyền thống, mọi hoạt động quản lý và phục vụ đều bằng thủ cụng.
*Giai đoạn từ 1986 đến nay Từ năm 1986, theo sự đề xướng và lónh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cả nước thực hiện công cuộc Đổi mới. Đặc biệt trong xu thế hội nhập trờn thế giới hiện nay, đũi hỏi Việt Nam phải đổi mới nhiều lĩnh vực. Các cơ quan, trường học nói chung, trường ĐHKTQDHN nói riêng, cũng cần phải đổi mới. TTTT-TV là một trong những bộ phận quan trọng của Nhà trường 11 cũng đó và đang đổi mới.
Có thể nói rằng, trong giai đoạn này, Trung tâm đó đổi mới một cách toàn diện. Trước hết nói về đổi mới nguồn tài liệu: Khi đất nước chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xó hội chủ nghĩa, đũi hỏi Nhà trường phải đổi mới nội dung và chương trỡnh đào tạo phù hợp với yêu cầu mới. Điều đó tác động lớn tới hoạt động của TTTT- TV, đũi hỏi Trung tâm phải đổi mới nội dung, cơ cấu kho sách, bỏo của mỡnh để phục vụ yêu cầu mới của Nhà trường (toàn bộ nguồn tài liệu, sách báo của 30 năm trước đều theo hệ thống lý luận của nền kinh tế kế hoạch húa tập trung, nay khụng cũn phự hợp hoặc cũn rất ớt giỏ trị, sách về nền kinh tế thị trường rất hạn hẹp, hầu như không có, Trung tâm phải thu gom từ đầu). Trước tỡnh hỡnh đó, Trung tâm tỡm mọi cỏch vừa mua mới, vừa mở rộng quan hệ hợp tỏc với thư viện các trường đại học khác, cỏc tổ chức trong và ngoài nước để trao đổi kinh nghiệm chuyên môn và tranh thủ những nguồn tài liệu bạn tặng biếu, làm giầu thờm vốn tài liệu của mỡnh.
Tới nay Trung tâm đó xõy dựng được nguồn tài liệu mới có nội dung lý luận về nền kinh tế thị trường, phong phú về chủng loại, đa dạng về ngôn ngữ, giầu về số lượng. Ngoài số sách không cũn giỏ trị đó loại bớt, hiện nay (theo số liệu thống kờ đến ngày 01/4/2008) Trung tâm có nguồn tài liệu như sau : Sách : 106.500 cuốn, trong đó: + Sỏch tiếng Việt : 83.