CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm và đ ặc điểm của b ảo lãnh ngân hàng 1.
Khái niệm bảo lãnh ngân hàng Trong thời đại cách mạng công nghệ 4.0, các NHTM phát triển đa dạng sản phẩm dịch vụ, trong đó bảo lãnh ngân hàng là một trong những hoạt động cơ bản và mang lại lợi nhuận cao. Bảo lãnh ngân hàng được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới từ rất lâu nhưng cũng tiềm tàng rủi ro nhất định. Theo Khoản 1, Điều 3, Thông tư 28/2012/TT-NHNN ngày 03/10/2012 cũng ghi rất rõ i Bảo lãnh ngân hàng (sau đây gọi là bảo lãnh) là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên bảo lãnh cam kết bằng văn bản với bên nhận bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh, bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh theo thỏa thuận’’. Theo Quy chế bảo lãnh ngân hàng ban hành kèm theo quyết định 26/2006/QĐ - NHNN ngày 26/06/2006 i Bảo lãnh ngân hàng"’ là: i iCam kết bằng văn bản của TCTD (Bên bảo lãnh) với bên có quyền (Bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (Bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết, khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho TCTD số tiền đã được trả thay"’.
Một giao dịch bảo lãnh ngân hàng đều có sự tham gia của ít nhất ba chủ thể, bao gồm: B ên bảo lãnh, B ên nhận bảo lãnh, và B ên được bảo lãnh. - B ên bảo lãnh: là các TCTD bao gồm các NHTM và TCTD. B ên bảo 8 lãnh có trách nhiệm đứng ra phát hành thư bảo lãnh, hợp đồng bảo lãnh và s ẽ thanh toán cho B ên nhận bảo lãnh khi nhận được yêu cầu thanh toán phù hợp do B ên nhận bảo lãnh xuất trình. - B ên được bảo lãnh: là các doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh được thành lập và hoạt động theo pháp luât hiện hành của Việt Nam.
Trong trường hợp hợp đồng bị vi phạm, bên bảo lãnh s ẽ phải thanh toán thay, và bên được bảo lãnh phải có nghĩa vụ hoàn trả cho bên bảo lãnh. - B ên nhận bảo lãnh: Các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước, bên nhận bảo lãnh yêu cầu bên được bảo lãnh phát hành bảo lãnh theo quy định trong hợp đồng đã ký. Trong trường hợp bên được bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, bên nhận bảo lãnh sẽ gửi yêu cầu đò i tiền và các chứng từ liên quan tới bên bảo lãnh để nhận được tiền bồi thường. Các bên tham gia một giao dịch bảo lãnh có mối liên hệ mật thiết với nhau, ràng buộc nhau qua các loại văn bản như HĐKT, hợp đồng cấp bảo lãnh và thư bảo lãnh gốc.
Đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng Bảo lãnh ngân hàng có một số đặc điểm riêng và khác biệt với các nghiệp vụ ngân hàng khác cơ bản như sau: a. Bảo lãnh ngân hàng mang tính độc lập Về tính độc lập này trong điều 2 của quy tắc thống nhất về bảo lãnh yêu cầu URDG 458 của ICC có giải thích: ‘ về bản chất bảo lãnh là giao dịch tách rời khỏi hợp đồng cơ sở hay các điều kiện dự thầu mà bảo lãnh lấy làm căn cứ và bên bên bảo lãnh không hề quan tâm hay bị ràng buộc bởi hợp đồng hay các điều kiện dự thầu đó, dù có trích tham chiếu đến chúng trong bảo lãnh. Trách nhiệm của bên bảo lãnh theo như bên bảo lãnh là trả lại số tiền được quy địmh đó khi xuất trình yêu cầu thanh toán bằng các văn bản và các chứng từ khác quy định trong bảo lãnh mà hình thức phù hợp với 9 các quy định của bảo lanhi‘. Đây là đặc tính hết sức quan trọng của bảo lãnh ngân hàng là tính độc lập với hợp đồng.
Mặc dù mục đích của một bảo lãnh ngân hàng là bồi hoàn cho người thụ hưởng những thiệt hại từ việc không thực hiện hợp đồng của người được bảo lãnh, nhưng việc thanh toán một bảo lãnh chỉ căn cứ vào các điều khoản điều kiện đã được quy định trong hợp đồng bảo lãnh. Tính độc lập c ò n thể hiện trong trách nhiệm thanh toán của ngân hàng phát hành. Trách nhiệm này hoàn toàn độc lập với mối quan hệ giữa ngân hàng và người được bảo lãnh. Ngân hàng không được viện các lý do như: người được bảo lãnh bị phá sản, vẫn c ò n nợ ngân hàng.
để từ chối thanh toán. Tính độc lập của bảo lãnh có nhiều điểm thuận lợi đối với NHTM, trong trường hợp HĐKT không được thực hiện, yêu cầu NHTM thực hiện nghĩa vụ của mình, NHTM s ẽ xem xét, kiểm tra đối chiếu theo thư bảo lãnh có phù hợp hay không. Chính vì vậy, NHTM s ẽ không can thiệp tới các tranh chấp, phát sinh, nội dung của HĐKT giữa hai bên trong trường hợp xảy ra tranh chấp. Tính độc lập của bảo lãnh cò n phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của bảo lãnh.
Điểm đáng lưu ý là, bên được bảo lãnh thường hay quan tâm đến tính thật, giả, đúng hay sai của một yêu cầu bồi hoàn và luôn cho rằng ngân hàng chỉ được thanh toán đối với những yêu cầu bồi hoàn ‘ ‘đúng’ ’. Tuy nhiên, việc thanh toán theo bảo lãnh là độc lập với giao dịch thực tế. Ví dụ, nếu CKBL quy định ngân hàng s ẽ thanh toán khi nhận được yêu cầu bồi hoàn đầu tiên, trong đó, tuyên bố B ên được bảo lãnh đã vi phạm nghĩa vụ theo HĐKT. Ngay khi nhận được yêu cầu bồi hoàn đầu tiên phù hợp với CKBL, ngân hàng s ẽ thực hiện thanh toán mà không cần phải có bất cứ một bằng chứng cụ thể nào liên quan đến nghĩa vụ bị vi phạm.
Do đó, xét về khía cạnh này bảo lãnh ngân hàng khác hoàn toàn với bảo chứng thư truyền thống 10 (suretyship ). Nói ngược lại, nếu bảo lãnh yêu cầu xuất trình phán quyết cùng với yêu cầu bồi hoàn, thì bản chất độc lập của bảo lãnh không cò n tồn tại và bảo lãnh có tính chất như một bảo chứng thư. Bảo lãnh là một cam kết mang tính chất bảo đảm gián tiếp Theo quy định của NHNN, bảo lãnh ngân hàng là một cam kết ghi nhận ở ngoại bảng, NHTM không phải sử dụng vốn của mình để thực hiện nghĩa vụ. Trong trường hợp khách hàng hay c ò n gọi là bên được bảo lãnh không thực hiện theo cam kết, NHTM mới thực hiện các bước tiếp theo trong quy trình thanh toán.
Bảo lãnh ngân hàng là một hoạt động ngoại bảng của ngân hàng Bản chất của bảo lãnh là một hình thức tài trợ thông qua uy tín của các TCTD. Khi phát hành một CKBL, bảng cân đối tài sản của ngân hàng không hề bị thay đổi vì ngân hàng không phải xuất tiền ngay khi phát hành bảo lãnh. Vì vậy bảo lãnh được coi là một hoạt động ngoại bảng. Tuy nhiên khi khách hàng thực hiện không đúng những cam kết đã ghi trong hợp đồng cấp bảo lãnh ngân hàng và ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ chi trả cho bên nhận bảo lãnh.
Khi đó nghiệp vụ bảo lãnh s ẽ tác động đến bảng cân đối tài sản của ngân hàng, khoản chi phí chi trả cho bên thụ hưởng này được xếp vào loại tài sản xấu trong nội bảng và cơ cấu thành nợ quá hạn. Bản chất bảo lãnh ngân hàng là giao dịch được xác lập và thực hiện dựa trên chứng từ: Các hành động liên quan đến giao dịch bảo lãnh (phát hành, yêu cầu bồi hoàn, thông báo thực hiện nghĩa vụ) đều phải được thiết lập bằng văn bản, chứng từ. Những văn bản này không chỉ là bằng chứng chứng minh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch bảo lãnh mà c ò n là cơ sở pháp lý để các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên đối với nhau. 11 Khi B ên nhận bảo lãnh yêu cầu ngân hàng thực hiện nghĩa vụ trả thay theo bảo lãnh, họ phải xuất trình các chứng từ phù hợp với nội dung CKBL.
Trên cơ sở nội dung CKBL ngân hàng kiểm tra mức độ phù hợp và thực hiện thanh toán khi chứng từ phù hợp; ho ặc từ chối thực hiện nghĩa vụ nếu chứng từ không phù hợp. Tính chất này bảo đảm quyền lợi hợp pháp và chính đáng của các bên giao dịch và nâng cao ý thức trách nhiệm cũng như tính kỷ luật của hợp đồng từ đó nâng cao tính minh bạch và an toàn, hiệu quả. Tính chất không hủy ngang của bảo lãnh ngân hàng CKBL chính thức được phát hành khi ngân hàng chuyển cho B ên nhận bảo lãnh ho ặc bên thứ ba bất kỳ. Sau khi đã phát hành, CKBL là không thể hủy ngang cho dù trên bề mặt CKBL không tuyên bố cụm từ này.
Theo quy định, CKBL không thể đơn phương hủy ngang, trừ khi bên nhận bảo lãnh có văn bản chấp nhận hủy bỏ hoặc miễn nghĩa vụ cho ngân hàng bảo lãnh. Tính chất này đảm bảo cho B ên nhận bảo lãnh có thể được yên tâm về trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của B ên được bảo lãnh và họ có quyền đò i tiền ngân hàng bảo lãnh khi đến hạn của nghĩa vụ được bảo lãnh mà B ên được bảo lãnh không thực hiện ho ặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết. Phân loại b ảo lãnh ngân hàng Để tồn tại và phát triển, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu mong muốn của khác hàng, hoạt động bảo lãnh càng trở nên đa dạng và phong phú. Dưới mỗi góc độ khác nhau người phân loại bảo lãnh dưới những hình thức khác nhau.
Việc xem xét các hình thức bảo lãnh theo các tiêu chí khác nhau cho ta một cái nhìn toàn diện hơn. Theo như giáo trình ‘ ‘Thanh toán quốc tế và tài trợ ngoại thương’ ’ của P GS.TS Nguyễn Văn Tiến xuất bản lần 12 thứ 4 - Nhà xuất bản thống kê, bảo lãnh ngân hàng được phân loại như sau: 1. Căn cứ vào phương thức phát hành bảo lãnh a. Bảo lãnh trực tiếp Bảo lãnh trực tiếp: L à loại bảo lãnh, trong đó ngân hàng của B ên được bảo lãnh cam kết bồi thường không hủy ngang trực tiếp cho B ên nhận bảo lãnh, sau khi đã bồi thường cho bên nhận bảo lãnh, ngân hàng truy đòi bồi hoàn trực tiếp từ người xin bảo lãnh.