Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ HỖ TRỢ NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN XUẤT KHẨU 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ HỖ TRỢ NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN XUẤT KHẨU Ở NƯỚC NGOÀI 1. Những nghiên cứu nước ngoài về nuôi trồng thuỷ sản Từ những năm 60 của thế kỷ XX trở lại đây, nhất là trong những năm gần đây, do nguồn thuỷ sản khai thác tự nhiên không đáp ứng nhu cầu của dân số tăng nhanh, để chủ động hơn trong xuất khẩu thuỷ sản, nhiều nước đã phát triển ngành NTTS nhằm thay thế một phần sản phẩm đánh bắt cũng như để cung ứng chủ động sản phẩm thuỷ sản cho thị trường trong nước và nước ngoài. Nhiều nước đã mở rộng, phát triển nhanh chóng sản lượng thuỷ sản nuôi trồng, nhất là sản lượng thuỷ sản nuôi trồng phục vụ xuất khẩu.
Phục vụ cho nhu cầu phát triển ngành NTTS, đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu lĩnh vực NTTS theo các góc độ khác nhau như sinh học, nông học, kỹ thuật nuôi trồng, kinh tế thuỷ sản… Có thể khái quát thành quả đạt được trong những công trình đó như sau: Thứ nhất, phân tích tầm quan trọng của ngành NTTS trong cơ cấu ngành nông nghiệp nói riêng, cơ cấu nền kinh tế nói chung. Tác giả Cát Quang Hoa và các cộng sự (2005), trong cuốn Quản lý kinh doanh các xí nghiệp nuôi trồng thuỷ sản, cho rằng: NTTS phải giữ vai trò chủ đạo đối với nghề cá nói chung và ngành thuỷ sản nói riêng. Theo các tác giả, NTTS có các vai trò như: cung cấp thực phẩm giàu dinh dưỡng; khai thác tổng hợp tài nguyên, qua đó duy trì cân bằng sinh thái; tạo việc làm, tăng thu nhập, giảm nghèo; thúc đẩy các ngành khác phát triển; đẩy mạnh XK [26, tr. Đặc biệt, khi khái quát hoá đặc điểm của nghề NTTS, các tác giả đã phân tích những đặc điểm riêng biệt của NTTS so với các ngành khác như: không chiếm đất nông nghiệp; đầu tư ít, hiệu quả nhanh; hoạt động sản xuất phức tạp; đòi hỏi kỹ thuật cao và có độ rủi ro tương đối lớn; đòi hỏi chuyên nghiệp hoá [26, tr.
7 Thứ hai, nghiên cứu phát triển NTTS theo hướng bền vững, Tổ chức lương thực và nông nghiệp (FAO) đã ban hành bộ quy tắc Code of Conduct for Responsible Fisheries, Food and Agriculture Organization of the United Nations, đề cập đến phát triển NTTS có trách nhiệm ở những vùng thuộc tài phán quốc gia, sử dụng các nguồn di truyền thuỷ sinh cho mục đích NTTS, NTTS có trách nhiệm ở cấp độ sản xuất [141]. Bộ quy tắc này chỉ có tính khuyến nghị các quốc gia tự nguyện thực hiện. Để có thể thực hiện được bộ quy tắc này, mỗi quốc gia cần cụ thể hoá chúng thành các nguyên tắc quốc gia đi đôi với bộ chỉ số phù hợp. Năm 1999 FAO và Bộ Nông, Lâm, Ngư của Australia đã phối hợp xây dựng bộ chỉ số đa chiều về thực hiện nghề cá có trách nhiệm trên các mặt kinh tế, xã hội, môi trường, thể chế.
Bộ chỉ số này có thể là tài liệu tham khảo cho nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Dự án "Nghiên cứu chính sách phục vụ phát triển bền vững-PORESSFA" của cộng đồng chung châu Âu đã nghiên cứu nghề nuôi tôm ở một số nước như Ấn Độ, Bangladet, Thái Lan, Việt Nam giai đoạn 2002-2005 và đưa ra một số khuyến nghị nhằm bảo vệ môi trường sinh thái và cải thiện thể chế, chính sách nhằm phát triển NTTS theo hướng bền vững. Thứ ba, nghiên cứu xu hướng phát triển NTTS ở một số nước và khu vực. Các nhà nghiên cứu trong cộng đồng ASEAN đã khái quát các xu hướng phát triển NTTS như: nhằm góp phần giữ vững an ninh lương thực quốc gia, nâng cao mức sống cho cộng đồng, tạo sản phẩm xuất khẩu, thu ngoại tệ cho đất nước.
Theo đó gần 1/4 lượng cá trong bảy quốc gia ASEAN (Cambodia, Indonesia, Malaysia, Myanmar, Phillippines, Thái Lan, Việt Nam) xuất phát từ NTTS, riêng Việt Nam đã vượt quá 1/3. Tại Việt Nam NTTS đã cung cấp thực phẩm có hàm lượng đạm cao giá rẻ cho người dân, tạo điều kiện cải thiện chất lượng dinh dưỡng của những người có thu nhập thấp. Tại Campuchia NTTS không ngừng tăng lên; và sản lượng NTTS và năng suất trên một đơn vị diện tích nâng lên; chủng loại nuôi trồng, cơ cấu sản phẩm ngày càng đa dạng; kỹ thuật nuôi trồng được cải tiến nhanh [132, tr. 8 Thứ tư, để môi trường được bảo vệ trong quá trình NTTS, Thái Lan đưa ra một số nguyên tắc sau: "Nguyên tắc phòng ngừa" và "sản xuất hiện đại từ thủ công" nghĩa là sản xuất bằng công nghệ tốt nhất và gắn kết thân thiện môi trường không được làm ảnh hưởng môi trường, thiết lập trang web quản lý tuyên truyền, thực hiện cách quản lý trang trại tốt, coi đó là yếu tố cho sự thành công trong việc sản xuất, NTTS TC, khuyến nghị người nuôi không xả các chất độc hại và thuốc kháng sinh ra môi trường, khuyến khích sử dụng công nghệ hiện đại, quy định tất cả các chất thải giết mổ và thuỷ sản chết phải được xử lý để không gây ra nguy cơ ô nhiễm môi trường, đề ra các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm trong NTTS phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế,… [136].
Thứ năm, một số thành quả nghiên cứu của người nước ngoài về NTTS ở Việt Nam: Năm 2005, trong khuôn khổ Chương trình Quỹ Uỷ thác toàn cầu của Nhật Bản dành cho phát triển thuỷ sản bền vững của Việt Nam và Ngân hàng thế giới, các nhà nghiên cứu của Ngân hàng thế giới, Australia, Thái Lan hợp tác với các nhà nghiên cứu Việt Nam đã đưa ra bức tranh tổng thể về ngành thuỷ sản của Việt Nam đầu những năm 2000, trong đó có đề cập đến một số vấn đề liên quan đến NTTS xuất khẩu: nhấn mạnh tầm quan trọng của ngành NTTS trên các mặt thành quả và tiềm năng (giai đoạn 1999-2003 NTTS Việt Nam phát triển với tốc độ 12%/năm, đóng góp trên 40% tổng sản lượng thuỷ sản, chủ yếu là nuôi nước ngọt); khó khăn của NTTS là năng lực thấp của các cấp hoạch định và thực thi chính sách khuyến khích và quản lý NTTS theo hướng bền vững; vấn đề cung cấp giống, thức ăn có chất lượng tốt, kiểm soát dịch bệnh và quản lý môi trường; khuyến ngư, cung cấp thông tin thị trường chưa được giải quyết tốt; vấn đề chất lượng sản phẩm cần được quan tâm để đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu. Các nhà khoa học cũng kiến nghị cần hỗ trợ NTTS trên các mặt: hỗ trợ NTTS từ Ngân hàng Thế giới, coi đó là hoạt động hỗ trợ sinh kế người nghèo ở các xã khó khăn ven biển và bảo tồn đa dạng hoá sinh học, hỗ trợ đa dạng hoá các hình thức nuôi trồng; hướng hỗ trợ ưu tiên là cải thiện môi trường, nâng cao 9 chất lượng dịch vụ NTTS, nâng cao năng lực quản lý của người dân và các cấp chính quyền… [58]. Những nghiên cứu nước ngoài về hỗ trợ nuôi trồng thuỷ sản xuất khẩu Để hạn chế áp lực khai thác và duy trì phát triển nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên nhất là những sản phẩm có giá trị cao, một số nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Mỹ, EU,… đã đầu tư lớn cho sản xuất giống, xây dựng cơ sở hạ tầng ổn định cho NTTS, nhờ đó đã thu được một số thành công trong các mặt sau: + Một số cơ sở sản xuất giống tại các nước này đã tạo giống có chất lượng cao và thả ra biển, sông,… nhằm hồi phục bầy đàn của chúng trong môi trường sống tự nhiên. Nhật Bản đã thả cá hồi giống ra biển, Trung Quốc thả tôm thẻ chân trắng ra biển.
+ Một số dự án lớn ở các nước phương Tây, trong đó có Na Uy tổ chức nuôi cá tuyết Đại Tây Dương và dự báo năm 2015 các cơ sở này cung cấp sản lượng đạt 500 ngàn tấn và năm 2030 đạt 1 triệu tấn [132], [133]. Hội nghị Tôm Toàn cầu tổ chức hằng năm luân phiên ở các nước nuôi tôm đã đưa ra nhiều thành tựu nghiên cứu, kiến giải thực tiễn và kiến nghị chính sách đa chiều. Ví dụ như Hội nghị Tôm Toàn cầu tổ chức năm 2005 tại Việt Nam đã phân tích thị trường nhập khẩu tôm ở Mỹ, EU, Nhật Bản, xu hướng sản xuất tôm trên thế giới và khuyến nghị các chính sách hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng nhằm tăng cường năng lực đối phó với dịch bệnh và giảm ô nhiễm môi trường. Hội thảo quốc tế về Kế hoạch hành động cho phát triển bền vững và mở rộng mô hình hợp tác xã thuỷ sản, tổ chức tại Hà Nội, năm 2009, đã phân tích kinh nghiệm của một số nước như Tây Ban Nha, của các tổ chức phi chính phủ về phát triển và hỗ trợ mở rộng phát triển mô hình hợp tác xã thuỷ sản, phát triển bảo hiểm NTTS.
Dự án Nghiên cứu chính sách phục vụ PTNTBV-PORESSFA của cộng đồng chung châu Âu đã thực hiện ở các nước như: Ấn Độ, Băng-la-đét, Thái 10 Lan, Việt Nam từ năm 2002- 2005. Dự án này đã khái quát tình hình nghiên cứu, phát triển nuôi tôm ở Ấn Độ, Băng-la-đét, Thái Lan, Việt Nam. Thông qua các hoạt động đó, dự án đã đi đến kết luận rằng muốn phát triển bền vững chương trình nuôi tôm thì các nhà hoạch định chính sách của các nước có nghề nuôi tôm phải kết hợp với các chủ thể của các ngành, nghề khác có liên quan đến nuôi trồng để nghiên cứu tất cả các vấn đề có liên quan như: môi trường, kinh tế, xã hội, kỹ thuật… cũng như mối quan hệ giữa người sản xuất với thị trường, giữa nhập khẩu và xuất khẩu… điểm mạnh, điểm yếu của ngành nuôi tôm nhằm hạn chế thấp nhất những bất lợi cho người nuôi tôm. Nghiên cứu của nhóm tư vấn APFIC/FAO (2011) [134] về tăng cường các công cụ đánh giá nhằm phục vụ phát triển chính sách nghề cá và NTTS tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương cho thấy, mục đích ban đầu của các nhà hoạch định chính sách ở nhiều nước trong khu vực chủ yếu là phát triển NTTS để tăng sản lượng, thu ngoại tệ, tạo việc làm và tạo sinh kế.
Phát triển NTTS theo hướng bền vững thường không được quy định trong giai đoạn đầu và chủ yếu dựa vào các phương thức truyền thống trong tự nhiên và ở quy mô nhỏ. Điều này làm cho việc lập kế hoạch, quản lý ngành gặp nhiều khó khăn và phát triển bền vững không phải là một ưu tiên.