Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển CNCB nông sản Chương 2: Thực trạng về CNCB cà phê tỉnh Đắk Lắk Chương 3: Giải pháp phát triển CNCB cà phê tỉnh Đắk Lắk 8 CHƢƠNG 1 CÔNG NGHIỆP NÔNG SẢN N NÔNG SẢN 1. Liên Hiệp quốc khi xây dựng phương pháp thống kê tài khoản quốc gia đã đưa ra định nghĩa sau về sản xuất: “Sản xuất là quá trình sử dụng lao động và máy móc thiết bị của các đơn vị thể chế để chuyển những chi phí là vật chất và dịch vụ thành sản phẩm là vật chất và dịch vụ khác. Tất cả những hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra phải có khả năng bán trên thị trường hay ít ra cũng có khả năng cung cấp cho một đơn vị thể chế khác có thu tiền hoặc không thu tiền”. 9 - - - - - - - - - - Chế biến công nghiệp Chế biến công nghiệp là quá trình diễn ra trong các cơ sở sản xuất, sử dụng công nghệ, thiết bị, lao động kỹ thuật để chế biến nguyên liệu động, thực vật ra sản phẩm.
Ở giai đoạn này trình độ công nghệ, thiết bị, tay nghề của công nhân có vai trò quyết định chất lượng của sản phẩm và mức độ tăng giá trị của nông, lâm sản qua khâu chế biến (phương pháp, trình độ, bí quyết công nghệ, máy móc thiết bị và trình độ tay nghề của công nhân). Chế biến nông sản là quá trình chuyển hóa nguyên liệu - nông sản dưới tác dụng của thiết bị, máy móc hoặc công cụ, hóa chất để tạo thành các sản phẩm nguyên liệu hay hàng hóa thiết yếu tiêu dùng. 10 Trong nền kinh tế quốc dân có rất nhiều ngành, mỗi một ngành bao gồm nhiều đơn vị và bên trong mỗi ngành tồn tại nhiều cấu trúc khác nhau như : Cấu trúc lao động ngành, cấu trúc thị trường, cấu trúc quy mô các doanh nghiệp trong ngành, cấu trúc máy móc thiết bị của ngành. sản bao nông sản Chỉ qua chế biến nông sản dạng thô mới thành hàng loạt các sản phẩm thỏa mãn mọi nhu cầu của nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội.
Thông qua hoạt động chế biến nông sản thúc đẩy việc sử dụng nông sản hợp lý, đúng mục đích và tránh việc sử dụng lãng phí. Qua chế biến để nâng cao chất lượng nông sản, giá trị gia tăng và giá trị sử dụng của nông sản. Chế biến nông sản còn cho phép tận dụng phế liệu trong khâu khai thác, chế biến thành các sản phẩm hữu ích. Ðối tƣợng lao động của ngành công nghiệp chế biến nông sản Ðối tượng lao động của ngành công nghiệp chế biến nông sản chính là cà phê và những sản phẩm từ nông nghiệp đã qua quá trình sản xuất nông nghiệp.
Trong thực tiễn sản xuất, nông sản sẽ được biến đổi theo quy trình công nghệ, sản phẩm của quá trình gia công biến đổi ấy là những vật phẩm hữu ích theo yêu cầu sử dụng. Công cụ lao động của ngành công nghiệp chế biến nông sản : gồm - Công cụ lao động chủ yếu: Các loại dụng cụ cầm tay và các loại máy móc thiết bị - Ngoài ra, trong quá trình gia công sản xuất, còn có các tài liệu như quy trình công nghệ chế biến. DUNG NÔNG SẢN Phát triển công nghiệp nói chung và công nghiệp chế biến nông sản nói riêng là một quá trình vận động đi lên theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn về mọi mặt của ngành sản xuất này. Có nhiều cách biểu hiện như hoàn thiện về chiều rộng, chiều sâu và các mối liên kết mọi mặt.
Chúng ta sẽ đề cập tới từng vấn đề. Phát triển về quy mô công nghiệp chế biến nông sản Sự phát triển công nghiệp theo các lý thuyết trong kinh tế phát triển thường gắn liền với sự gia tăng quy mô công nghiệp. Sự gia tăng quy mô này bắt đầu từ việc gia tăng các nguồn lực đi liền với gia tăng số lượng cơ sở sản xuất hay gia tăng quy mô từng cơ sở sản xuất công nghiệp nhờ đó mà năng 12 lực sản xuất của công nghiệp chế biến ngày càng mở rộng và kết quả của quá trình đó là sản lượng công nghiệp cũng tăng theo. Tỷ lệ gia tăng giữa đầu vào và đầu ra tùy thuộc vào trình độ công nghệ để sản xuất đạt được tính kinh tế của quy mô nào.
Trước hết chúng ta sẽ xem xét sự gia tăng sản lượng đầu ra. Gia tăng số lƣợng và quy mô các cơ sở chế biến nông sản Sự phát triển của công nghiệp chế biến nông sản diễn ra nhờ nhiều người sản xuất hay doanh nghiệp tham gia vào thị trường này. Khi họ tham gia thêm nghĩa là số lượng cơ sở sản xuất sẽ tăng thêm. Thông thường Số lượng các cơ sở chế biến tăng, chứng tỏ hoạt động của ngành chế biến nông sản có nhiều thuận lợi và đạt hiệu quả trong kinh doanh.
Qua đó cũng chứng tỏ khả năng sản xuất sản phẩm đã đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng, thúc đẩy các thành phần kinh tế khác phát triển. Khi có thêm các doanh nghiệp và người sản xuất mở rộng sản xuất hay tham gia mới vào thị trường công nghiệp chế biến nông sản họ sẽ phải huy động thêm nguồn lực tạo ra năng lực sản xuất và đã xác định được thị trường mục tiêu của họ. Sự gia tăng số lượng cơ sở sản xuất và gia tăng quy mô của các cơ sở sản xuất phụ thuộc lớn vào môi trường kinh doanh và môi trường chính sách của địa phương. Môi trường và chính sách thông thoáng sẽ tạo điều kiện cho người sản xuất giảm chi phí kinh doanh đáng kể.
Tùy theo điều kiện của các nhà sản xuất mà quy mô và trình độ công nghệ của mỗi cơ sở này có thể khác nhau nhưng sự gia tăng số lượng sẽ kéo theo sản lượng sản phẩm gia tăng. Tiêu chí để phản ánh: - Số lượng và mức tăng cơ sở sản xuất công nghiệp chế biến nông sản 13 - Sô lượng doanh nghiệp CNCB nông sản mở rộng quy mô sản xuất b. Gia tăng nguồn lực cho CNCB nông sản Quy mô sản xuất của từng cơ sở chế biến sẽ quyết định quy mô sản xuất chung của công nghiệp chế biến nông sản. Sự gia tăng quy mô sản xuất của từng cơ sở nhờ quá trình tích lũy để tăng quy mô vốn, tăng quy mô lao động, nâng cao trình độ công nghệ sản xuất * Gia tăng quy mô về vốn Vốn là nhân tố đầu vào quan trọng của sản xuất.
Vốn ở đây được hiểu là vốn sản xuất hay vốn hiện vật như máy móc trang thiết bị, nhà xưởng nhà cửa, hạ tầng kỹ thuật.Vốn sản xuất này được hình thành nhờ quá trình thực hiện đầu tư của các doanh nghiệp. tổ chức và người sản xuất bằng nguồn vốn của doanh nghiệp hay vốn vay.Việc đầu tư thể hiện khả năng tài chính của doanh nghiệp, dựa vào tiêu chí phân loại doanh nghiệp theo nguồn vốn để xác định doanh nghiệp thuộc loại nào. Nếu doanh nghiệp có quy mô vốn lớn thể hiện được khả năng đầu tư, mở rộng sản xuất. Mở rộng quy mô vốn hay đầu tư mở rộng vốn sản xuất là cơ sở để mở rộng năng lực sản xuất.
Nhưng việc đầu tư để mở rộng này thường kéo dài và thời gian khấu hao khá lâu. Điều này tùy thuộc vào lĩnh vực kinh doanh và mức rui ro có thể. Lĩnh vực công nghiệp chế biến nông sản cũng là lĩnh vực rất rủi ro do thị trường biến động mạnh, và chịu sự tác động mạnh của thị trường thể giới. Để tăng quy mô vốn doanh nghiệp phải tích lũy từ quá trình sản xuất của mình, cho dù có thể vay thì nguồn để trả nợ cũng từ kết quả kinh doanh có hiệu quả hay không.
Tiêu chí phản ánh: - Quy mô và Mức tăng tổng tài sản của doanh nghiệp; 14 - Quy mô tài sản / doanh nghiệp - Tỷ lệ vốn vay đầu tư /tổng tài sản của doanh nghiệp. * Về nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là nhân tố quan trọng hàng đầu cho sự hình thành và phát triển các doanh nghiệp, nó quyết định quá trình sử dụng, khai thác, tái tạo, phát triển các nguồn lực khác. Xã hội càng hiện đại thì vai trò của con người càng được thể hiện rõ hơn, do đó nguồn nhân lực của doanh nghiệp được xem là vốn quý nhất. Trình độ của nguồn nhân lực thể hiện ở trình độ quản lý của các cấp lãnh đạo, trình độ lành nghề của nhân viên, công nhân; trình độ tư tưởng văn hoá của mọi thành viên.
Trình độ nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra các sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật cao, là cơ hội để bán được nhiều hơn, với giá cao hơn, lợi nhuận của doanh nghiệp ngày càng tăng, uy tín và danh tiếng doanh nghiệp ngày càng lớn. Nhờ uy tín và danh tiếng đó mà doanh nghiệp có điều kiện phát triển thị trường, mở rộng quy mô, góp phần làm cho nền kinh tế ngày càng phát triển. Chất lượng đội ngũ lao động, cán bộ quản lý là yếu tố quyết định hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, qua đó ảnh hưởng đến năng lực phát triển của doanh nghiệp. Trình độ, năng lực của cán bộ quản lý ảnh hưởng rất lớn đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Nếu các thành viên có trình độ, kinh nghiệm, khả năng đánh giá, năng động, có mối quan hệ tốt với bên ngoài thì họ sẽ mang lại những lợi ích dài hạn cho doanh nghiệp. Trình độ tay nghề, chuyên môn nghiệp vụ của người lao động và cả lòng hăng say làm việc của họ cũng là một yếu tố tác động mạnh mẽ đến khả năng phát triển của doanh nghiệp. Đây là tiền đề để doanh nghiệp có thể tham gia và đứng vững trên thị trường. 15 Số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của ngành chế biến nông sản.
Những doanh nghiệp có đội ngũ lao động kỹ thuật cao và đông đảo công nhân lành nghề có khả năng tạo ra nhiều sản phẩm độc đáo với chất lượng cao, mẫu mã đa dạng, hấp dẫn, được ưa chuộng trên thị trường trong và ngoài nước. Cơ sở quan trọng cho việc nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp chế biến nông sản là nguồn lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật, khả năng tiếp thu tốt khoa học kỹ thuật hiện đại và ứng dụng vào trong sản xuất. Doanh nghiệp nào sở hữu được đội ngũ lao động trí tuệ, tay nghề cao thì dễ dàng đi đến thành công trong sản xuất và kinh doanh.