Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Phát triển ngành chế biến gỗ Vùng Đông Nam Bộ" được nghiên cứu sinh Trần Văn Hùng thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế - Luật thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Thanh Tuyền, hoàn thành và bảo vệ năm 2016. Luận án thuộc chuyên ngành Kinh tế học, mã số 62. Hội đồng chấm luận án và phản biện bao gồm TS. Nguyễn Văn Ngãi (Phản biện 1), TS. Nguyễn Chí Hải (Phản biện 2), TS. Nguyễn Văn Hiến (Phản biện 3 kiêm Phản biện độc lập 2) và TS. Nguyễn Minh Đức (Phản biện độc lập 1).

Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, ngành công nghiệp chế biến gỗ đã khẳng định vị trí là một trong những ngành công nghiệp chế biến chủ lực của quốc gia. Giai đoạn 2000–2015, ngành chế biến gỗ Việt Nam ghi nhận sự gia tăng nhanh về số lượng cơ sở sản xuất và kim ngạch thương mại. Theo số liệu của Phòng Chế biến bảo quản lâm sản (Cục Chế biến nông lâm thủy hải sản), số lượng doanh nghiệp chế biến gỗ cả nước đã tăng từ 1.200 doanh nghiệp năm 2000 lên 3.934 doanh nghiệp vào cuối năm 2015, tương ứng mức tăng 2,29 lần so với năm 2005 và 4,39 lần so với năm 2000. Xét theo cơ cấu thành phần kinh tế, doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 65,4%, doanh nghiệp Nhà nước chiếm 31%, còn lại là các doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài (FDI).

Vùng Đông Nam Bộ giữ vai trò trung tâm công nghiệp chế biến gỗ của cả nước với 2.352 doanh nghiệp, chiếm gần 60% tổng số doanh nghiệp ngành gỗ toàn quốc. Các doanh nghiệp phân bố tập trung nhiều nhất tại tỉnh Đồng Nai, tỉnh Bình Dương và Thành phố Hồ Chí Minh, chiếm tới 80% số lượng cơ sở chế biến của vùng, nắm giữ gần 50% tổng vốn đầu tư và tạo ra gần 66% tổng lợi nhuận trước thuế của toàn ngành gỗ cả nước. Trong tổng số 4 khu công nghiệp chuyên ngành chế biến gỗ trên toàn quốc thời điểm nghiên cứu, vùng Đông Nam Bộ tập trung 3 khu công nghiệp đặt tại TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương. Sản phẩm gỗ chế biến của Việt Nam đã hiện diện tại hơn 120 quốc gia và vùng lãnh thổ với trên 3.000 chủng loại mặt hàng, đưa Việt Nam vào nhóm 5 quốc gia có kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ lớn nhất thế giới. Quy mô chế biến gỗ tăng từ mức 3 triệu m³ gỗ nguyên liệu/năm (năm 2005) lên trên 15 triệu m³ gỗ tròn/năm (năm 2012). Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ tăng trưởng liên tục từ 311,4 triệu USD năm 2000 lên 3.436,7 triệu USD năm 2010 và đạt 6.899,2 triệu USD năm 2015, góp phần quan trọng vào tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản quốc gia (đạt 30,14 tỷ USD năm 2015). Theo khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam năm 2013, ngành chế biến gỗ đạt năng suất lao động bình quân 18.300 USD/lao động/năm, vượt mức 13.900 USD/lao động/năm của ngành giày dép, 8.900 USD/lao động/năm của ngành thủy sản và 7.100 USD/lao động/năm của ngành dệt may; đồng thời thúc đẩy các ngành công nghiệp phụ trợ (keo dán, dầu màu, vật liệu kim khí, bao bì chèn lót, giấy nhám) với doanh số hàng năm vượt 1,7 tỷ USD.

Mặc dù đạt được quy mô và tốc độ tăng trưởng cao, sự phát triển của ngành chế biến gỗ vẫn bộc lộ nhiều yếu tố thiếu bền vững: giá trị gia tăng của sản phẩm chưa cao; thiếu hụt thông tin thị trường; thiếu vốn đầu tư; hệ thống máy móc thiết bị còn lạc hậu; tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo chiếm tỷ trọng lớn; hầu hết các cơ sở sản xuất có quy mô vừa và nhỏ; liên kết sản xuất và chuỗi cung ứng còn rời rạc; chưa định vị được thương hiệu riêng trên thị trường quốc tế. Đặc biệt, ngành không tự chủ được nguồn gỗ nguyên liệu mà phụ thuộc từ 70% đến 80% vào nguồn nhập khẩu từ nước ngoài, đối mặt với các cáo buộc về nguồn gốc gỗ bất hợp pháp và các rào cản kỹ thuật khắt khe từ thị trường nhập khẩu, đồng thời chịu sức ép cạnh tranh gay gắt về giá và chất lượng từ các nước trong khu vực như Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan và Đài Loan. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: mặc dù đã có một số công trình đề cập đến ngành chế biến gỗ Việt Nam hoặc tại các tỉnh thành riêng lẻ, nhưng chưa có công trình nào tiến hành đánh giá một cách toàn diện sự phát triển của ngành chế biến gỗ vùng Đông Nam Bộ thông qua hệ thống các chỉ tiêu phát triển ngành chuyên biệt. Do đó, việc nghiên cứu đề tài mang tính cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn quản lý kinh tế.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định rõ:

  • Mục tiêu tổng quát: Trên cơ sở các lý thuyết về phát triển ngành mà cụ thể là ngành công nghiệp chế biến, thông qua việc nghiên cứu thực trạng ngành chế biến gỗ Vùng Đông Nam Bộ, xác định được các nhân tố tác động đến sự phát triển của ngành, những thành tựu đạt được và những hạn chế. Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp và khuyến nghị nhằm phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ của Vùng trong thời gian tới theo hướng phát triển bền vững.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Đánh giá thực trạng ngành công nghiệp chế biến gỗ vùng Đông Nam Bộ thông qua các chỉ tiêu phát triển ngành, cụ thể là chỉ tiêu tăng trưởng về quy mô, về chuyển dịch cơ cấu ngành, hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội của ngành chế biến gỗ, bảo vệ và cải thiện môi trường.
    2. Khảo sát và phân tích thực trạng của ngành chế biến gỗ của vùng, đồng thời đánh giá về lợi thế cạnh tranh, triển vọng phát triển, những cơ hội và thách thức đối với sự phát triển của ngành chế biến gỗ vùng Đông Nam Bộ trong giai đoạn hiện nay.
    3. Đề xuất các giải pháp và khuyến nghị góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành trong thời gian tới.

Để thực hiện các mục tiêu trên, luận án giải quyết 4 câu hỏi nghiên cứu được đánh số cụ thể trong văn bản: 1/ Đặc điểm của ngành chế biến gỗ và ảnh hưởng của nó đến sự phát triển của nền kinh tế nước ta như thế nào? 2/ Các nhân tố nào ảnh hưởng chính đến sự phát triển của ngành chế biến gỗ vùng nghiên cứu? 3/ Thực trạng công nghiệp chế biến gỗ vùng Đông Nam Bộ hiện nay như thế nào? 4/ Đề xuất những giải pháp, khuyến nghị góp phần phát triển ngành chế biến gỗ Vùng Đông Nam Bộ trong thời gian sắp tới?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp chế biến gỗ vùng Đông Nam Bộ trong giai đoạn 2000–2015; các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành trên địa bàn nghiên cứu; kinh nghiệm thực tiễn của một số quốc gia và địa phương nhằm rút ra bài học cho vùng Đông Nam Bộ. Đối tượng nghiên cứu được đặt trong mối quan hệ với sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng, của nền kinh tế quốc gia và bối cảnh hội nhập quốc tế.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Tập trung vào các doanh nghiệp chế biến gỗ tại vùng Đông Nam Bộ, trọng tâm là 3 địa phương chiếm 80% số lượng doanh nghiệp toàn vùng gồm tỉnh Đồng Nai, tỉnh Bình Dương và Thành phố Hồ Chí Minh; đồng thời khảo sát các cơ quan, đơn vị quản lý liên quan như Hiệp hội Chế biến gỗ Việt Nam, Viện Nghiên cứu Lâm nghiệp, Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
    • Thời gian: Dữ liệu và thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp được khảo sát và phân tích trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2015.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến ngành chế biến gỗ theo hai khối nội dung chính:

Về tình hình nghiên cứu trên thế giới, tác giả điểm lại 9 công trình tiêu biểu:

  1. Dr. David Cohen (2002) với công trình "Influences on Japanese demand for wood products", phân tích chuỗi dữ liệu 1974–2000 về sự gia tăng nhu cầu và nhập khẩu sản phẩm gỗ chế biến tại Nhật Bản, đề xuất biện pháp giúp Nhật Bản nâng cao tính chủ động về nguồn cung đồ gỗ dựa trên lợi thế công nghệ chế tạo máy móc. Tuy nhiên, nghiên cứu chưa đi sâu phân tích quan hệ cung cầu để làm cơ sở vững chắc cho các giải pháp.
  2. Thomas E. Pogue (2008) với nghiên cứu "A Sectoral Analysis Of Wood, Paper, Pulp Industries In South Africa", phân tích nguồn tài nguyên gỗ, lao động, thương mại xuất nhập khẩu và hoạt động nghiên cứu phát triển (R&D) của ngành gỗ và giấy Nam Phi (nghiên cứu cơ bản chiếm 15% tổng chi, nghiên cứu ứng dụng chiếm 59%, triển khai kỹ thuật chiếm 26%; khu vực tư nhân đóng vai trò chủ đạo, Nhà nước chỉ chiếm 28%). Điểm hạn chế là chưa đi sâu nghiên cứu hoạt động quảng bá thương hiệu sản phẩm.
  3. Henry Spelter và Daniel Toth (2009) với công trình "North America’s Wood Pallet Sector", khảo sát 111 nhà sản xuất pallet tại Bắc Mỹ năm 2009, khẳng định vai trò của quy mô sản xuất, nguồn lao động dồi dào, hệ thống vận tải và công nghệ hiện đại. Nghiên cứu chưa phân tích sâu thuận lợi, khó khăn và các điểm mạnh, điểm yếu của ngành để đưa ra hàm ý chính sách.
  4. Akihiko Nemoto (2009) với công trình "Farm tree planting and the wood industry in Indonesia: a study of Falcataria Plantation and falcataria product mark in Java", phân tích chính sách cải tổ kinh tế đồn điền, tư nhân hóa vùng trồng rừng và gói tín dụng ưu đãi 3,4 nghìn tỷ Rupi hỗ trợ sản xuất chế biến gỗ tại Indonesia. Hạn chế của nghiên cứu là chưa phân tích các nhân tố cốt lõi tác động đến sự phát triển của ngành lâm nghiệp và chế biến gỗ.
  5. Borut Likar (2010) với nghiên cứu "The Influence of Innovation, Technological and research processes on wood industrial", sử dụng dữ liệu sơ cấp và thứ cấp tại Slovenia, xây dựng mô hình phân tích tác động của các yếu tố đầu vào (lao động, kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, năng lực sản xuất, thị trường) đến yếu tố đầu ra là lợi nhuận của doanh nghiệp chế biến gỗ. Nghiên cứu chỉ giới hạn ở khía cạnh kỹ thuật và đổi mới mà chưa xét tới yếu tố chính sách và nguồn nguyên liệu.
  6. Guida Practica (2010) với báo cáo "Malaysia Woodworking machinery Market Report", phân tích chính sách tín dụng ưu đãi, cung cấp thông tin thị trường và vai trò của đổi mới khoa học kỹ thuật trong nghiên cứu phát triển sản phẩm gỗ mới tại Malaysia, nhưng các giải pháp đề xuất còn mang tính chung chung.
  7. Norchahaya Binti Hashim (2011) trong nghiên cứu "Sustainability of Resources For Wood - Based Industry", phân tích sản lượng gỗ xuất khẩu của Malaysia sang Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Singapore, Đài Loan và dự báo sản lượng giai đoạn 2010–2020 nhằm cân bằng tài nguyên rừng, song chưa đi sâu vào quan hệ cung cầu, giá bán và thị hiếu tiêu dùng.
  8. ITS Global (2011) với công trình "The Economic Contribution of Indonesia’s Forest-Based Industries", đánh giá đóng góp của ngành lâm nghiệp và chế biến gỗ vào GDP, việc làm và kim ngạch xuất khẩu của Indonesia giai đoạn 1990–2009, nhưng chưa phân tích sâu các thuận lợi và thách thức cụ thể của ngành.
  9. Liu Nengwen (2012) với báo cáo "Overview of Chinese Timber and Wood product Market", sử dụng phương pháp thống kê mô tả phân tích nhu cầu, sản lượng cung ứng, xuất nhập khẩu gỗ của Trung Quốc trong hai năm 2010 và 2011, chỉ ra các nguyên nhân tăng trưởng xuất khẩu từ việc đa dạng hóa mẫu mã, giá thành thấp và xây dựng kênh phân phối.

Về tình hình nghiên cứu trong nước, luận án tổng hợp 11 công trình và báo cáo:

  1. Nguyễn Tôn Quyền và cộng sự (2006), "Công nghiệp chế biến gỗ ở Việt Nam", đánh giá lịch sử phát triển ngành gỗ từ thời kỳ Pháp thuộc đến năm 2006, các cơ sở pháp lý và dự báo phát triển giai đoạn 2006–2020.
  2. Phan Ánh Hè (2009), "Thực trạng ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam và giải pháp ứng phó với sự thay đổi của thị trường gỗ thế giới", phân tích quy mô doanh nghiệp, sản phẩm xuất khẩu, nguyên liệu, vốn, lao động, nhưng chưa đi sâu vào nguyên nhân và biểu hiện thay đổi của thị trường quốc tế.
  3. Nguyễn Văn Ba (2009), "Những chiến lược và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu gỗ Việt Nam sang thị trường Nhật Bản giai đoạn từ năm 2009 – 2015", phân tích ma trận SWOT của đồ gỗ Việt Nam tại thị trường Nhật Bản.
  4. Cục Chế biến, Thương mại nông lâm thủy sản và Nghề muối (2010), báo cáo "Quy hoạch công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2025", phân tích các nhân tố tự nhiên, nguyên liệu, nhân lực và phân bố cơ sở chế biến theo các vùng kinh tế.
  5. Vũ Lê Thùy Linh (2010), "Xây dựng và hoàn thiện chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp trong ngành sản xuất sản phẩm gỗ xuất khẩu của Việt Nam", phân tích kinh nghiệm quản trị chuỗi cung ứng từ các tập đoàn quốc tế như IKEA và đề xuất giải pháp cho doanh nghiệp gỗ trong nước.
  6. Lê Xuân Nguyên (2011), "Phát triển ngành chế biến gỗ tỉnh Bình Định", hệ thống hóa lý luận về ngành chế biến gỗ, đánh giá thực trạng quy mô, vốn, công nghệ và hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Bình Định giai đoạn 2005–2010, tham chiếu kinh nghiệm của Quảng Ngãi và Bình Dương, song dừng lại ở mức mô tả thống kê mà chưa phân tích các nhân tố cốt lõi.
  7. Trần Văn Thắng và cộng sự (2011), "Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp gỗ Việt Nam", phân tích chi phí sản xuất, doanh thu và kim ngạch xuất khẩu đến năm 2009 nhưng chưa làm rõ các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
  8. Nguyễn Tôn Quyền (2012), "Thực trạng ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam", khảo sát hiện trạng tại Hà Nội, TP.HCM, Hải Phòng, Bình Định, Quảng Ninh, Phú Thọ, Nghệ An và tác động của việc gia nhập WTO, song chưa đưa ra dự báo phát triển cụ thể.
  9. Đỗ Phú Trần Tình (2012), "Nâng cao giá trị sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương", phân tích cấu trúc chuỗi giá trị và gia tăng giá trị mới cho đồ gỗ xuất khẩu tỉnh Bình Dương.
  10. Huỳnh Thị Thu Sương (2012), "Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hợp tác trong chuỗi cung ứng đồ gỗ - nghiên cứu trường hợp vùng Đông Nam Bộ", phân tích chuỗi cung ứng tại Đồng Nai, Bình Dương và TP.HCM, kinh nghiệm mô hình IKEA.
  11. Hoàng Quang Phòng (2012), báo cáo "Cơ hội và thách thức ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam sau khi gia nhập WTO", phân tích máy móc lạc hậu nhập từ Đài Loan, Trung Quốc và tình trạng chủ yếu làm gia công cho doanh nghiệp FDI.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù các công trình đã tiếp cận ngành gỗ dưới nhiều góc độ (chuỗi cung ứng, thương mại quốc tế, quy hoạch vùng hoặc nghiên cứu trường hợp cấp tỉnh), chưa có nghiên cứu nào đánh giá toàn diện sự phát triển của ngành chế biến gỗ vùng Đông Nam Bộ thông qua hệ thống các chỉ tiêu phát triển ngành (quy mô, chuyển dịch cơ cấu, hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và bảo vệ môi trường), đồng thời làm rõ các nhân tố tác động đến kết quả sản xuất kinh doanh và nhận diện các biểu hiện phát triển chưa bền vững tại địa bàn này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm:

  • Cơ sở lý luận về ngành và phân ngành kinh tế: Vận dụng Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ về Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam (gồm 5 cấp ngành). Ngành công nghiệp chế biến được xác định là quá trình làm thay đổi về mặt lý học, hóa học của nguyên vật liệu hoặc thành phần cấu thành để tạo ra sản phẩm mới, bao gồm lắp ráp và gia công sản phẩm.
  • Khái niệm chế biến gỗ và ngành chế biến gỗ: Tiếp cận theo Lê Xuân Nguyên (2011), chế biến gỗ là quá trình chuyển hóa gỗ nguyên liệu dưới tác dụng của thiết bị, máy móc, công cụ hoặc hóa chất để tạo thành các sản phẩm có hình dáng, kích thước, thành phần hóa học thay đổi so với nguyên liệu ban đầu. Ngành chế biến gỗ thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế.
  • Khái niệm phát triển ngành: Tiếp thu các quan điểm của Szirmai, A.; Sen, A.; Bardhan, P. (1985); Đinh Phi Hổ (2006); Krahn, H.; Overton, M.; và Liên hợp quốc (United Nations, 2007). Phát triển ngành chế biến gỗ là quá trình kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế (quy mô, cơ cấu, hiệu quả) với giải quyết các vấn đề xã hội (việc làm, thu nhập) và bảo vệ môi trường sinh thái. Luận án phân định nội hàm phát triển ngành thành hai chiều: phát triển theo chiều rộng (tăng trưởng về số lượng doanh nghiệp, quy mô vốn, diện tích rừng trồng, số lao động, mở rộng thị trường) và phát triển theo chiều sâu (chuyển dịch cơ cấu sản phẩm, nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội, trình độ quản trị và cải thiện môi trường).
  • Lý thuyết cụm ngành và năng lực cạnh tranh: Vận dụng lý thuyết Cụm ngành (Clusters) và Mô hình Kim cương (Diamond Model) của Michael Porter (2008, 2010) với 4 nhóm nhân tố nền tảng cấu thành chất lượng môi trường kinh doanh: (a) Các điều kiện nhân tố sản xuất, (b) Các điều kiện nhu cầu, (c) Các ngành công nghiệp phụ trợ và liên quan, và (d) Bối cảnh cho chiến lược và cạnh tranh của doanh nghiệp, kết hợp với vai trò của chính quyền địa phương. Tiếp cận mô hình năng lực cạnh tranh địa phương của Vũ Thành Tự Anh (2011) với 3 nhóm nhân tố: Lợi thế sẵn có của địa phương, Năng lực cạnh tranh ở cấp độ địa phương và Năng lực cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp.
  • Các lý thuyết về phát triển kinh tế: Luận án điểm lại các lý thuyết nền tảng gồm lý thuyết tăng trưởng của Karl Marx (đất đai, lao động, vốn, tiến bộ kỹ thuật); Alfred Marshall (1890 - vốn thay thế lao động, tiến bộ kỹ thuật); Paul Samuelson (1948 - tổng cung, tổng cầu và vai trò chính phủ); Ragnar Nurkse và Paul Rosenstein-Rodan (1952 - phát triển cân đối); W. Rostow (1960 - mô hình 5 giai đoạn); Albert O. Hirschman (1962 - phát triển không cân đối); Kaname Akamatsu (1962, 2004 - mô hình đàn sếu bay 4 bước); Robert Lucas (1995 - chất lượng tăng trưởng dài hạn); Vinod Thomas (2000 - chất lượng phát triển và phúc lợi); và lý thuyết phát triển bền vững của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED, 1987).
  • Hệ thống chỉ tiêu đánh giá phát triển ngành: Kế thừa khung chỉ tiêu của Đinh Phi Hổ (2006 - 4 nhóm: tăng trưởng, cơ cấu, tiến bộ xã hội, môi trường); Ngô Doãn Vịnh (nhóm chỉ tiêu tăng ổn định và nhóm chỉ tiêu giảm ổn định); Viện Khoa học Thống kê (2012) và TS. Phan Công Nghĩa (2000), luận án xác lập 6 chỉ tiêu kinh tế cơ bản:
    1. Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp
    2. Năng suất lao động (giá trị gia tăng chia cho lao động bình quân)
    3. Năng suất vốn (giá trị gia tăng chia cho vốn bình quân)
    4. Thu nhập bình quân một lao động
    5. Tỷ suất lợi nhuận (lợi nhuận trước thuế chia cho tổng chi phí sản xuất C+V)
    6. Tỷ lệ xuất khẩu (trị giá xuất khẩu chia cho giá trị sản xuất thực tế)

Phương pháp nghiên cứu: Luận án thực hiện nghiên cứu định tính kết hợp các kỹ thuật thống kê mô tả, dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và nguyên lý quy luật số lớn của thống kê học. Các phương pháp cụ thể bao gồm:

  • Phương pháp tổng hợp các lý thuyết: Kế thừa và hệ thống hóa tài liệu trong và ngoài nước để xây dựng khung phân tích, bài học kinh nghiệm và xác lập hệ thống chỉ tiêu đánh giá.
  • Phương pháp so sánh đối chiếu: Đánh giá sự phát triển của ngành chế biến gỗ vùng Đông Nam Bộ so với quy mô cả nước và so với các ngành sản xuất khác về số lượng doanh nghiệp, diện tích rừng, kim ngạch xuất khẩu, giá trị chế biến và năng suất lao động.
  • Phương pháp thống kê mô tả: Hệ thống hóa, biểu diễn dữ liệu thực trạng phát triển qua bảng biểu, đồ thị cơ cấu và chuỗi thời gian.
  • Phương pháp tổng hợp và phân tích: Đánh giá biện chứng các biến động của ngành gỗ vùng Đông Nam Bộ giai đoạn 2000–2015, hiệu quả sản xuất kinh doanh và khả năng hội nhập.
  • Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn trực tiếp các chuyên gia, cố vấn, nhà quản lý công tác tại Viện Công nghiệp gỗ, Viện Chế biến gỗ, Ban Quản lý rừng và môi trường, Viện Nghiên cứu Lâm nghiệp, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm các tỉnh, các doanh nghiệp chế biến gỗ và Bộ môn Khoa học gỗ thuộc Đại học Lâm nghiệp Việt Nam nhằm hiệu chỉnh bảng hỏi, xác định các nhân tố ảnh hưởng và đề xuất giải pháp.

Nguồn tư liệu và dữ liệu:

  • Dữ liệu thứ cấp: Các báo cáo thường niên ngành hàng Gỗ - Agroinfo thuộc Trung tâm Thông tin Phát triển Nông nghiệp Nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn); số liệu của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFORES/VFA); Hiệp hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP.HCM (HAWA); Tổng cục Hải quan; Cục Hải quan TP.HCM, tỉnh Đồng Nai, tỉnh Bình Dương; Tổng cục Lâm nghiệp; các văn bản quy hoạch ngành (tiêu biểu là Quyết định số 2728/QĐ-BNN-CB ngày 31/10/2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn).
  • Dữ liệu sơ cấp: Khai thác từ Phiếu điều tra doanh nghiệp hàng năm của Cục Thống kê TP. Hồ Chí Minh, Cục Thống kê tỉnh Đồng Nai và Cục Thống kê tỉnh Bình Dương thuộc Chương trình điều tra doanh nghiệp hàng năm của Tổng cục Thống kê (Phụ lục 1) và kết quả khảo sát từ Phiếu lấy ý kiến chuyên gia (Phụ lục 2).

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

Chương 1 thiết lập cơ sở nghiên cứu của toàn bộ công trình:

  • Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của ngành chế biến gỗ trong công nghiệp hóa và hội nhập; vị trí trung tâm của vùng Đông Nam Bộ (chiếm gần 60% số doanh nghiệp, 50% vốn, 66% lợi nhuận và 3/4 khu công nghiệp chế biến gỗ cả nước); cùng các điểm nghẽn nội tại về nguyên liệu nhập khẩu (70-80%), công nghệ lạc hậu và rào cản quốc tế.
  • Xác định mục tiêu tổng quát, 3 mục tiêu cụ thể và 4 câu hỏi nghiên cứu.
  • Xác định đối tượng nghiên cứu là tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chế biến gỗ Đông Nam Bộ (2000–2015), phạm vi không gian tập trung tại Đồng Nai, Bình Dương, TP.HCM và phạm vi thời gian 2000–2015.
  • Trình bày phương pháp luận định tính, nguồn dữ liệu và hệ thống phương pháp nghiên cứu (tổng hợp lý thuyết, so sánh đối chiếu, thống kê mô tả, tổng hợp phân tích, phương pháp chuyên gia).
  • Lược khảo chi tiết 9 công trình quốc tế và 11 công trình trong nước, chỉ rõ khoảng trống nghiên cứu tại vùng Đông Nam Bộ.
  • Nêu rõ các điểm mới về học thuật và thực tiễn, cùng bố cục 4 chương của luận án.

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGÀNH CHẾ BIẾN GỖ Ở VIỆT NAM

Chương 2 xây dựng khung lý thuyết hoàn chỉnh cho đề tài:

  • Phân tích cơ sở lý luận về ngành kinh tế, phân loại 5 cấp ngành theo Quyết định 10/2007/QĐ-TTg; làm rõ khái niệm ngành công nghiệp chế biến và bản chất của ngành chế biến gỗ theo Lê Xuân Nguyên (2011).
  • Trình bày lý thuyết cụm ngành và lý thuyết năng lực cạnh tranh: Mô hình Cụm ngành và Mô hình Kim cương của Michael Porter (2008) với 4 đỉnh tương tác; mô hình 3 nhóm nhân tố năng lực cạnh tranh địa phương của Vũ Thành Tự Anh (2011).
  • Hệ thống hóa các khái niệm phát triển, phát triển ngành theo chiều rộng và chiều sâu; điểm lại 11 lý thuyết và mô hình tăng trưởng/phát triển kinh tế (Karl Marx, Marshall, Samuelson, Nurkse & Rosenstein-Rodan, Rostow, Hirschman, Akamatsu, Porter, Lucas, Thomas, WCED).
  • Thiết lập hệ thống 6 chỉ tiêu đánh giá phát triển ngành công nghiệp (chỉ số sản xuất, năng suất lao động, năng suất vốn, thu nhập bình quân, tỷ suất lợi nhuận, tỷ lệ xuất khẩu).
  • Phân tích quan hệ Cung - Cầu gỗ nguyên liệu tại Việt Nam:
    • Về nguồn cung trong nước: Đến 31/12/2014, diện tích đất có rừng cả nước đạt 13,8 triệu ha (rừng tự nhiên chiếm 73,21% tương ứng 10,1 triệu ha; rừng trồng chiếm 26,79% tương ứng 3,7 triệu ha). Đến năm 2015, diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 224,8 nghìn ha (rừng sản xuất đạt 220 nghìn ha). Gỗ rừng trồng chủ yếu là keo và bạch đàn chu kỳ ngắn (6-10 năm), đường kính nhỏ.
    • Sản lượng khai thác và nhập khẩu: Sản lượng gỗ khai thác cả nước tăng từ 2.375,6 nghìn m³ năm 2000 lên 2.996,0 nghìn m³ năm 2005 và đạt 8.309,0 nghìn m³ năm 2015 (tăng bình quân 13,31%/năm giai đoạn 2008–2015). Kim ngạch nhập khẩu gỗ nguyên liệu tăng từ 344,6 triệu USD năm 2000 lên 638,2 triệu USD năm 2005 và đạt 2.050,3 triệu USD năm 2015.
    • Về nhu cầu gỗ nguyên liệu: Tổng nhu cầu gỗ phục vụ sản xuất tăng từ 3.000 nghìn m³ năm 2005 lên 7.000 nghìn m³ năm 2010 và đạt 20.000 nghìn m³ năm 2015 (trong đó nguồn trong nước cung ứng 8.000 nghìn m³, còn lại là nhập khẩu).

Bảng số liệu tổng hợp về cân đối Cung - Cầu nguyên liệu gỗ Việt Nam theo Quyết định số 2728/QĐ-BNN-CB:

STT Chỉ tiêu Năm 2015 Năm 2020 Năm 2030
1 Tổng nhu cầu nguyên liệu gỗ (triệu m³) 20,7 23,1 32,7
- Gỗ lớn cho sản xuất đồ gỗ và gỗ xây dựng 10,05 17,1 24,6
- Gỗ nhỏ cho sản xuất ván nhân tạo và dăm gỗ 10,65 6,0 8,1
2 Nhu cầu cho chế biến xuất khẩu (triệu m³) 13,5 12,6 16,8
- Gỗ lớn cho sản xuất đồ gỗ 7,5 12,6 16,8
- Gỗ nhỏ cho sản xuất dăm 6,0 0 0
3 Nhu cầu cho chế biến nội địa (triệu m³) 7,20 10,5 15,9
- Gỗ lớn cho sản xuất đồ gỗ, gỗ xây dựng 2,55 4,5 7,8
- Gỗ nhỏ cho sản xuất ván nhân tạo 4,65 6,0 8,1
4 Nguyên liệu gỗ từ khai thác nội địa (triệu m³) 10,5 14,5 24,5
- Gỗ rừng trồng 6,0 7,5 8,5
- Gỗ rừng tự nhiên 1,5 3,5 12,0
- Gỗ cây phân tán 1,5 2,0 2,0
- Gỗ cao su 2,0 2,0 2,0
5 Nguyên liệu gỗ nhập khẩu (triệu m³) 10,2 9,1 8,2
Tỷ lệ đáp ứng của nguồn nguyên liệu nội địa ~50% ~60% ~75%
  • Làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến ngành (nguồn cung nguyên liệu, nhu cầu thị trường, công nghệ, chất lượng lao động, năng lực cạnh tranh, chính sách vĩ mô và quốc tế); phân tích cơ hội, thách thức khi tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; đúc kết kinh nghiệm quốc tế (Nhật Bản, Nam Phi, Indonesia, Malaysia, Slovenia, Trung Quốc, Bắc Mỹ) và rút ra bài học cho vùng Đông Nam Bộ.

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN GỖ VÙNG ĐÔNG NAM BỘ

Chương 3 tập trung phân tích thực trạng phát triển ngành giai đoạn 2000–2015:

  • Đánh giá tổng quan vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, tài nguyên và kinh tế - xã hội vùng Đông Nam Bộ; bối cảnh ngành chế biến gỗ thế giới và bức tranh tổng thể ngành gỗ Việt Nam.
  • Đánh giá tăng trưởng về quy mô ngành tại Đông Nam Bộ: Số lượng doanh nghiệp đạt 2.352 cơ sở (chiếm gần 60% cả nước), tập trung cao độ tại Đồng Nai, Bình Dương, TP. Hồ Chí Minh; phân tích chi tiết diễn biến quy mô vốn đầu tư, quy mô lao động, trình độ công nghệ thiết bị, hiện trạng sử dụng gỗ nguyên liệu và mở rộng thị trường tiêu thụ.
  • Phân tích chuyển dịch cơ cấu: Ghi nhận sự chuyển biến trong cơ cấu sản phẩm (tăng sản phẩm gỗ nội thất, mở rộng sản xuất ván nhân tạo, giảm tỷ trọng dăm mảnh); chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế (doanh nghiệp tư nhân và FDI chiếm tỷ trọng áp đảo); dịch chuyển cơ cấu thị trường xuất khẩu sang các thị trường lớn (Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc).
  • Đánh giá hiệu quả kinh tế: Phân tích cơ cấu giá vốn hàng bán, doanh thu và lợi nhuận trước thuế (Đông Nam Bộ đóng góp gần 66% lợi nhuận toàn ngành); phân tích tỷ lệ tham gia vào chuỗi giá trị xuất khẩu và chuỗi cung ứng nội địa.
  • Đánh giá hiệu quả xã hội và bảo vệ môi trường: Ngành tạo việc làm cho hàng trăm nghìn lao động; năng suất lao động năm 2013 đạt 18.300 USD/lao động/năm; nâng cao thu nhập cho người lao động; đóng góp nguồn thu ngân sách qua thuế thu nhập doanh nghiệp; đánh giá hiện trạng xử lý bụi gỗ, hóa chất tẩm sấy và rác thải công nghiệp.
  • Phân tích liên kết sản xuất, cơ hội, thách thức và những biểu hiện chưa bền vững: Tác giả chỉ ra các điểm yếu lớn như phụ thuộc 70-80% vào nguồn gỗ nguyên liệu nhập khẩu; nguy cơ vi phạm các quy định quốc tế về gỗ hợp pháp (Đạo luật Lacey của Hoa Kỳ, Hiệp định FLEGT của EU, tiêu chuẩn chứng chỉ FSC, FSC-STD, CW); quy mô doanh nghiệp phân tán; công nghệ thiết bị chậm đổi mới; thiếu hụt nguồn nhân lực kỹ thuật cao.
  • Đúc kết hoạt động thực tiễn, phân loại nguyên nhân hạn chế từ hai phía: nguyên nhân nội tại từ phía doanh nghiệp (năng lực tài chính, quản trị, R&D) và nguyên nhân từ phía cơ chế quản lý, chính sách của chính quyền địa phương và Trung ương.

CHƯƠNG 4: CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN NGÀNH CHẾ BIẾN GỖ VÙNG ĐÔNG NAM BỘ

Chương 4 đề xuất định hướng và hệ thống giải pháp phát triển đến năm 2020 và tầm nhìn 2030:

  • Xác lập định hướng phát triển tổng quát và định hướng theo từng tiêu chí cụ thể; định hướng xây dựng ngành chế biến gỗ vùng Đông Nam Bộ trở thành ngành kinh tế mũi nhọn phát triển bền vững theo Quyết định số 2728/QĐ-BNN-CB (kim ngạch xuất khẩu gỗ cả nước đạt 8,0 tỷ USD năm 2020 và 12,22 tỷ USD năm 2030; giá trị tiêu thụ nội địa đạt 108,70 tỷ đồng năm 2020 và 142,30 tỷ đồng năm 2030; giải quyết việc làm cho 800.000 người năm 2020 và 1.000.000 người năm 2030; chấm dứt xuất khẩu dăm mảnh sau năm 2020).
  • Dự báo bối cảnh kinh tế - xã hội và các nhân tố ảnh hưởng đến ngành gỗ vùng Đông Nam Bộ trong giai đoạn tiếp theo.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp cụ thể:
    1. Nhóm giải pháp thúc đẩy tăng trưởng về quy mô: Tháo gỡ khó khăn về nguồn vốn đầu tư; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua đào tạo nghề chuyên sâu; chủ động phát triển vùng nguyên liệu gỗ rừng trồng trong nước kết hợp quản lý nhập khẩu hợp pháp; đẩy mạnh xúc tiến thương mại mở rộng thị trường tiêu thụ.
    2. Nhóm giải pháp chuyển dịch cơ cấu phát triển: Cơ cấu lại danh mục sản phẩm, tập trung vào đồ gỗ nội thất cao cấp và ván nhân tạo thay thế dăm gỗ; đa dạng hóa thị trường xuất khẩu tránh phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống; gia tăng đầu tư cho hoạt động R&D thiết kế mẫu mã; thúc đẩy liên kết giữa các doanh nghiệp trong cụm ngành.
    3. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế và xã hội: Tối ưu hóa chi phí sản xuất và quản trị chuỗi cung ứng; đổi mới công nghệ nhằm nâng cao năng suất lao động; bảo đảm chính sách tiền lương, bảo hiểm và cải thiện điều kiện làm việc cho công nhân.
    4. Nhóm giải pháp phát triển bền vững: Phân công trách nhiệm đối với Chính phủ (hoàn thiện thể chế, quy hoạch cụm công nghiệp chế biến và vùng nguyên liệu), đối với Ngân hàng (cung ứng nguồn tín dụng trung và dài hạn với lãi suất hợp lý), đối với các Hiệp hội gỗ như VIFORES và HAWA (cung cấp thông tin thị trường, hỗ trợ kỹ thuật thực thi chứng chỉ FSC, FLEGT, Lacey Act), và đối với Doanh nghiệp chế biến gỗ (chủ động đổi mới thiết bị, tuân thủ quy chuẩn môi trường và minh bạch hóa chuỗi cung ứng nguyên liệu).

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới của luận án được thể hiện trên hai phương diện học thuật và thực tiễn:

Về phương diện học thuật:

  1. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về ngành và phát triển ngành kinh tế trong bối cảnh công nghiệp hóa và hội nhập; vận dụng lý thuyết cụm ngành và Mô hình Kim cương của Michael Porter vào nghiên cứu ngành công nghiệp chế biến gỗ ở cấp độ vùng lãnh thổ.
  2. Phân tích, đánh giá có hệ thống thực trạng phát triển ngành chế biến gỗ vùng Đông Nam Bộ về quy mô, năng lực ngành, các yếu tố thuận lợi, rào cản và nhận diện rõ những biểu hiện phát triển chưa bền vững của vùng qua chuỗi dữ liệu 2000–2015.
  3. Xác định các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn nghiên cứu, làm cơ sở khoa học cho việc hoạch định chiến lược phát triển.
  4. Cung cấp hệ thống tư liệu khoa học chuyên khảo cho các nhà nghiên cứu, giảng viên và sinh viên quan tâm đến kinh tế ngành và công nghiệp chế biến lâm sản.

Về phương diện thực tiễn:

  1. Giúp các doanh nghiệp chế biến gỗ vùng Đông Nam Bộ nắm bắt bức tranh toàn cảnh về thực trạng, các điểm nghẽn về nguyên liệu nhập khẩu, thiết bị công nghệ và rào cản pháp lý quốc tế, từ đó phát huy thế mạnh và hạn chế rủi ro trong sản xuất kinh doanh ở cả thị trường nội địa và quốc tế.
  2. Cung cấp luận cứ thực tiễn cho các cơ quan quản lý nhà nước tại Trung ương và địa phương trong việc xây dựng quy hoạch, ban hành cơ chế chính sách tín dụng, đất đai và phát triển chuỗi liên kết nhằm thúc đẩy ngành chế biến gỗ vùng Đông Nam Bộ phát triển theo hướng bền vững.

Kiến nghị và giải pháp: Luận án đã đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính hành động đồng bộ, bao gồm nhóm giải pháp thúc đẩy tăng trưởng quy mô, nhóm giải pháp chuyển dịch cơ cấu, nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội, và nhóm giải pháp phát triển bền vững gắn với trách nhiệm cụ thể của Chính phủ, Ngân hàng, Hiệp hội gỗ và Doanh nghiệp chế biến gỗ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi nghiên cứu không gian của luận án giới hạn tại vùng Đông Nam Bộ, tập trung chủ yếu vào 3 địa phương trọng điểm là Đồng Nai, Bình Dương và TP. Hồ Chí Minh, chưa mở rộng phân tích so sánh chi tiết với các vùng chế biến gỗ khác như Duyên hải miền Trung hay Đồng bằng sông Hồng.
  • Khung thời gian khảo sát dữ liệu dừng lại ở năm 2015, chưa phản ánh các biến động thị trường khi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (như EVFTA, CPTPP) chính thức có hiệu lực thực thi sau giai đoạn này.
  • Về nguồn dữ liệu vốn: Tác giả chỉ rõ số liệu thống kê về vốn (cả vốn cố định và vốn lưu động) của các doanh nghiệp rất khó thu thập và tính chính xác chưa cao do công tác hạch toán, kế toán và theo dõi số liệu của nhiều doanh nghiệp còn bất cập, làm hạn chế mức độ đo lường chỉ tiêu năng suất vốn.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các tiểu vùng kinh tế khác trên cả nước để đánh giá mối liên kết liên vùng trong cung ứng nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm gỗ.
  • Cập nhật chuỗi dữ liệu sau năm 2015 nhằm đánh giá tác động thực tế của Hiệp định Đối tác Tự nguyện FLEGT/VPA và các cam kết thương mại tự do mới đối với chuỗi cung ứng gỗ xuất khẩu.
  • Khi chất lượng dữ liệu tài chính của doanh nghiệp được chuẩn hóa, cần ứng dụng các mô hình kinh tế lượng định lượng chuyên sâu để kiểm định mức độ tác động của từng nhân tố đến hiệu quả sản xuất kinh doanh.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kinh tế học, Kinh tế phát triển, Quản lý kinh tế và Công nghiệp rừng: Luận án là tài liệu tham khảo trong việc xây dựng khung phân tích phát triển ngành dựa trên hệ thống chỉ tiêu kinh tế, phương pháp tổng hợp lược khảo tài liệu quốc tế và ứng dụng lý thuyết cụm ngành, lý thuyết năng lực cạnh tranh vào một ngành hàng cụ thể.
  • Đối với các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng cục Lâm nghiệp, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh Đông Nam Bộ): Cung cấp các dữ liệu thực chứng và cơ sở khoa học để rà soát, điều chỉnh quy hoạch chế biến gỗ, xây dựng chính sách tín dụng đầu tư trồng rừng gỗ lớn và phát triển cụm công nghiệp tập trung.
  • Đối với các hiệp hội ngành hàng (VIFORES, HAWA) và cộng đồng doanh nghiệp chế biến gỗ: Cung cấp thông tin tổng thể về cán cân cung cầu nguyên liệu, cơ cấu thị trường xuất khẩu, và những khuyến nghị cần thiết trong việc tuân thủ các quy chuẩn quốc tế về nguồn gốc gỗ hợp pháp (chứng chỉ FSC, Lacey Act, FLEGT).

Câu hỏi thường gặp

1. Quy mô số lượng doanh nghiệp và phân bố của ngành chế biến gỗ vùng Đông Nam Bộ so với cả nước giai đoạn 2000–2015 như thế nào?

Theo số liệu trong văn bản, số lượng doanh nghiệp chế biến gỗ cả nước tăng từ 1.200 doanh nghiệp năm 2000 lên 3.934 doanh nghiệp năm 2015. Riêng vùng Đông Nam Bộ có 2.352 doanh nghiệp, chiếm gần 60% tổng số doanh nghiệp ngành gỗ cả nước. Các doanh nghiệp tập trung nhiều nhất tại tỉnh Đồng Nai, tỉnh Bình Dương và TP. Hồ Chí Minh, chiếm 80% số lượng doanh nghiệp toàn vùng, nắm giữ gần 50% vốn đầu tư và tạo ra gần 66% lợi nhuận trước thuế của toàn ngành gỗ cả nước. Vùng Đông Nam Bộ cũng sở hữu 3 trong tổng số 4 khu công nghiệp chế biến gỗ chuyên ngành của cả nước.

2. Tình trạng cung ứng gỗ nguyên liệu cho ngành chế biến gỗ Việt Nam được tác giả chỉ ra như thế nào?

Văn bản nêu rõ nguyên liệu gỗ trong nước chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất. Diện tích rừng trồng dù tăng (đạt 224,8 nghìn ha rừng trồng mới năm 2015) nhưng chủ yếu là keo và bạch đàn khai thác sớm (6–10 năm), đường kính nhỏ. Do đó, ngành chế biến gỗ Việt Nam phụ thuộc từ 70% đến 80% vào nguồn gỗ nguyên liệu nhập khẩu từ nước ngoài. Kim ngạch nhập khẩu gỗ nguyên liệu tăng từ 344,6 triệu USD năm 2000 lên 638,2 triệu USD năm 2005 và đạt 2.050,3 triệu USD năm 2015.

3. Năng suất lao động ngành chế biến gỗ Việt Nam được so sánh như thế nào với các ngành công nghiệp chế biến khác?

Dẫn theo khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam năm 2013 được nêu trong luận án, ngành chế biến gỗ có năng suất lao động đạt 18.300 USD/lao động/năm. Mức này cao hơn đáng kể so với ngành giày dép (13.900 USD/lao động/năm), ngành thủy sản (8.900 USD/lao động/năm) và ngành dệt may (7.100 USD/lao động/năm).

4. Hệ thống các chỉ tiêu kinh tế được luận án xác lập để đánh giá phát triển ngành công nghiệp gồm những chỉ tiêu nào?

Dựa trên cơ sở lý luận thống kê kinh tế, luận án xác lập 6 chỉ tiêu kinh tế cơ bản: (1) Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp, (2) Năng suất lao động, (3) Năng suất vốn, (4) Thu nhập bình quân một lao động, (5) Tỷ suất lợi nhuận (lợi nhuận trước thuế chia cho chi phí sản xuất), và (6) Tỷ lệ xuất khẩu. Trong đó, chỉ số phát triển sản xuất và năng suất lao động được xếp ở vị trí ưu tiên hàng đầu.

5. Mục tiêu phát triển ngành chế biến gỗ Việt Nam đến năm 2020 và định hướng 2030 theo Quyết định 2728/QĐ-BNN-CB được dẫn trong luận án là gì?

Quyết định số 2728/QĐ-BNN-CB ngày 31/10/2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề ra mục tiêu: Kim ngạch xuất khẩu gỗ đạt 5,0 tỷ USD năm 2015; đạt 8,0 tỷ USD năm 2020 (tăng trưởng bình quân 9%/năm); và đạt 12,22 tỷ USD năm 2030 (tăng trưởng 6%/năm). Giá trị tiêu thụ nội địa đạt 72,60 tỷ đồng năm 2015; đạt 108,70 tỷ đồng năm 2020; và đạt 142,30 tỷ đồng năm 2030. Ngành giải quyết việc làm cho 800.000 người vào năm 2020 và 1.000.000 người vào năm 2030; đồng thời đẩy mạnh sản xuất đồ gỗ nội thất, ván nhân tạo và tiến tới ngừng xuất khẩu dăm mảnh sau năm 2020.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Phát triển ngành chế biến gỗ Vùng Đông Nam Bộ" của nghiên cứu sinh Trần Văn Hùng là công trình nghiên cứu kinh tế ngành tiếp cận theo hướng định tính kết hợp phân tích thống kê mô tả. Luận án đã hệ thống hóa lý luận về phát triển ngành, lý thuyết cụm ngành và năng lực cạnh tranh, đồng thời đánh giá toàn diện bức tranh tăng trưởng quy mô, chuyển dịch cơ cấu và hiệu quả kinh tế - xã hội của vùng chế biến gỗ trọng điểm Đông Nam Bộ giai đoạn 2000–2015. Trên cơ sở làm rõ các điểm nghẽn về nguyên liệu nhập khẩu, công nghệ và rào cản quốc tế, luận án đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ gắn với các mục tiêu quy hoạch đến năm 2020 và 2030 nhằm thúc đẩy ngành chế biến gỗ vùng Đông Nam Bộ phát triển theo hướng bền vững.