chương 1 và chương 2). Phương pháp thảo luận trực tiếp được tiến hành với các chuy n gia đang làm việc tại các cơ quan Nhà nước và các đơn vị có li n quan đến ngành chế biến gỗ như Viện công nghiệp gỗ, Viện chế biến gỗ, Ban quản lý rừng và môi trường, Viện nghiên cứu Lâm nghiệp, Sở NN&PTNN và Chi cục kiểm lâm các tỉnh, các công ty chế biến gỗ, bộ môn khoa học gỗ - Đại học Lâm nghiệp Việt Nam. Nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ngành công nghiệp chế biến gỗ và lợi thế cạnh tranh của ngành chế biến gỗ (chương 2), phân tích những cơ hội, thách thức đối với sự phát triển của ngành chế biến gỗ (chương 3) và làm cơ sở đề xuất các giải pháp phát triển ngành chế gỗ vùng Đông Nam Bộ (chương 4). Phương pháp so sánh đối chiếu được sử dụng để so sánh một số chỉ tiêu trong việc đánh giá sự phát triển của ngành chế biến gỗ Vùng Đông Nam Bộ so với cả nước (chương 3) Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng trong việc mô tả dữ liệu bằng bảng biểu, đồ thị hoặc giúp so sánh dữ liệu về thực trạng phát triển ngành chế biến gỗ vùng Đông Nam Bộ (chương 2, chương 3, chương 4).
Phương pháp tổng hợp và phân tích được sử dụng để phân tích và tổng hợp các số liệu điều tra thu thập được tr n các đơn vị thống kê theo tiêu thức lựa chọn; đánh giá khả năng, kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp chế biến gỗ (chương 3) và phân tích năng lực, khả năng đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế của các trang trại chăn nuôi heo tr n địa bàn nghiên cứu (chương 3). Lƣợc khảo tài liệu nghiên cứu Hiện nay nhu cầu về gỗ và các sản phẩm về gỗ trên thế giới và Việt Nam ngày càng tăng nhanh không những về mặt số lượng, chất lượng cũng như sự đa dạng về 9 chủng loại mặt hàng về gỗ. Luận án đi tìm hiểu các công trình nghiên cứu trên thế giới về sự phát triển của ngành chế biến gỗ của các quốc gia phát triển cũng như các quốc gia trong khu vực Châu Á, ASEAN và các nước láng giềng của Việt Nam. Các công trình nghiên cứu trong nước về ngành chế biến gỗ của các Vùng miền, các địa phương.
Tr n cơ sở nghiên cứu trong và ngoài nước, luận án tìm ra lỗ hổng nghiên cứu và bài học kinh nghiệm thực tiễn áp dụng cho Vùng nghiên cứu. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới đã có các công trình, các báo cáo nghi n cứu về ngành công nghiệp chế biến gỗ. Một số công trình điển hình như: Công trình nghiên cứu của Dr. David Cohen (2002): “Influences on Japanese demand for wood products”.
Nghiên cứu sử dụng số liệu minh họa từ năm 1974 đến năm 2000 mô tả về sự gia tăng sản lượng sản phẩm gỗ chế biến nhập khẩu của Nhật. Nghiên cứu đã phân tích các nguy n nhân gia tăng sử dụng đồ gỗ chế biến của người dân Nhật và gia tăng nhập khẩu sản lượng sản phẩm gỗ chế biến. Nghiên cứu đề xuất một số biện pháp để Nhật Bản chủ động sản phẩm gỗ chế biến, hạn chế nhập khẩu mặt hàng này vì Nhật Bản có thuận lợi là quốc gia sản xuất công nghệ máy móc thiết bị hiện đại phục vụ ngành chế biến gỗ. Nghiên cứu này chưa đi sâu phân tích cung cầu đồ gỗ chế biến của Nhật để có cơ sở đề xuất giải pháp chủ động sản phẩm gỗ chế biến.
Công trình nghiên cứu của Thomas E.Pogue (2008): “A Sectoral Analysis Of Wood, Paper,Pulp Industries In South Africa” - Phân tích ngành công nghiệp gỗ, giấy ở Nam Phi. Công nghiệp chế biến gỗ, giấy đã đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế và giải quyết việc làm của Nam Phi vì khu vực này có nguồn tài nguyên gỗ phong phú, họ cũng rất chú ý đào tạo kỹ năng lao động phục vụ cho ngành và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để đưa sản phẩm ra cạnh tranh với thế giới. Nghiên cứu đã dựa trên nguồn số liệu phong phú về nguồn gỗ cung cấp, về nguồn lao động, về sản phẩm xuất nhập khẩu,. Nghiên cứu cũng cho thấy Nam Phi rất chú trọng đến hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) cho ngành chế biến gỗ, giấy bao gồm nghiên cứu cơ bản (chiếm 15% tổng chi cho nghiên cứu), nghiên cứu ứng dụng chiếm 59%, nghiên cứu phát triển kỹ thuật chiếm 26%) và điều đáng chú ý là hoạt động R&D chủ yếu là khu vực tư nhân, khu vực Nhà nước chỉ chiếm khoảng 28%.
Nam Phi còn chú trọng đưa ngành lâm nghiệp 10 vào hệ thống giáo dục và thu hút nhiều người học. Qua đó nghi n cứu này đã đề xuất một số biện pháp để ngành chế biến gỗ, giấy của Nam Phi phát triển. Tuy nhiên nghiên cứu này chưa đi sâu nghi n cứu về hoạt động quảng bá thương hiệu sản phẩm của ngành này. Công trình nghiên cứu của Henry Spelter Daniel Toth (2009): “North America’s Wood Pallet Sector”- Nghiên cứu đã chỉ ra khu vực Bắc Mỹ rất phát triển về ngành chế biến gỗ đặc biệt là sản phẩm Pallet.
Tính đến năm 2009, khu vực này có khoảng 111 nhà sản xuất trong lĩnh vực này. Nghành công nghiệp này phát triển là do các nhân tố sau: Có năng lực và khối lượng sản xuất sản phẩm lớn; có nguồn lao động dồi dào và lành nghề; có thị trường tiêu thụ rộng lớn; sản phẩm có chất lượng; có hệ thống tàu thuyền phát triển. Chính những yếu tố trên giúp cho sản phẩm Pallet của vùng phát triển.Trong đó nghi n cứu cho rằng yếu tố quan trọng nhất là sản phẩm có chất lượng do áp dụng công nghệ hiện đại. Nghiên cứu đã minh họa bằng số liệu sản lượng sản phẩm Pallet sản xuất và xuất khẩu cũng như thị trường xuất khẩu rộng lớn.
Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa đi sâu phân tích những thuận lợi, khó khăn của ngành này, chưa n u được điểm mạnh, điểm yếu của ngành để có những kết luận và hàm ý chính sách phù hợp. Công trình nghiên cứu của Akihiko Nemoto (2009): “Farm tree planting and the wood industry in Indonesia: a study of Falcataria Plantation and falcataria product mark in Java”. Trang trại cây trồng và ngành công nghiệp gỗ ở Indonesia: Trường hợp nghiên cứu ở Java. Nghiên cứu cho thấy Indonesia là quốc gia phát triển mạnh về lĩnh vực lâm nghiệp và ngành công nghiệp chế biến gỗ.
Đối với lĩnh vực lâm nghiệp nghiên cứu đã chỉ ra những sản phẩm gỗ của nước này phát triển là do có điều kiện tự nhiên khí hậu, đất đai thuận lợi cho sự phát triển rừng và vai trò quan trọng Chính phủ vì đã có những chính sách tạo điều kiện cho ngành phát triển. Indonesia là một trong những quốc gia xuất khẩu gỗ trò, lim, gỗ hương,… với khối lượng lớn sang các nước trong khu vực và trên thế giới. Nghiên cứu đã minh họa phong phú thông qua các số liệu và biểu đồ minh họa về diện tích rừng trồng, rừng khai thác, sản lượng gỗ cung cấp cho chế biến trong nước và xuất khẩu. Nghiên cứu cũng đưa ra những khuyến nghị về việc khai thác, sử dụng phải bảo tồn nguồn tài nguyên rừng và tài nguy n động vật, đồng thời cũng khuyến khích việc trồng và 11 khai thác gỗ hướng tới đạt được các tiêu chuẩn về tiêu chuẩn, xuất xứ, nguồn gốc, chất lượng gỗ mà quốc tế đã đề ra để sản phẩm gỗ rừng của Indonesia có giá trị cao hơn.
Đối với ngành công nghiệp chế biến gỗ, hàng năm sử dụng lượng lớn gỗ trong nước cung cấp, sản phẩm có giá trị chất lượng cao, môi trường kinh doanh thân thiện và chính sách đầu tư khuyến khích của chính phủ. Chính phủ Indonesia cho rằng đất nước với nền kinh tế nông nghiệp là chủ đạo, nông dân và nông thôn vẫn còn là địa bàn quan trọng thì cần có những chính sách tác động mạnh mẽ vào ngành công nghiệp chế biến nông lâm sản như ngành chế biến gỗ. Chính phủ đã tiến hành cải tổ lại khu vực kinh tế đồn điền nhằm mục đích tư nhân hóa một bộ phận đồn điền quan trọng của Nhà nước, thu hút đầu tư nước ngoài để mở rộng diện tích trồng rừng cung cấp nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu. Chính phủ khuyến khích tư nhân trong nước tham gia trồng rừng, sản xuất, chế biến gỗ và được hỗ trợ mức lãi suất thấp với tổng lượng tín dụng cho vay lên 3,4 nghìn tỷ Rupi, miễn giảm thuế kinh doanh và cho phép phối hợp với nhà nước để thực hiện hợp đồng xuất khẩu.
Nghiên cứu đã đi sâu phân tích những thuận lợi và khó khăn đối với sự phát triển của ngành chế biến gỗ và ngành lâm nghiệp Indonesia, nghiên cứu đã n u những cảnh báo cho ngành như việc khai thác gỗ lậu, gỗ kém chất lượng sẽ làm mất uy tín của Indonesia,. Tuy nhiên nghiên cứu vẫn chưa đi sâu nghi n cứu các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành lâm nghiệp và ngành chế biến gỗ Indonesia để có cơ sở đề xuất giải pháp khả thi hơn. Công trình nghiên cứu của Borut Likar (2010): “The Influence of Innovation, Technological and research processes on wood industrial” - Ảnh hưởng của sự đổi mới, tiến bộ kỹ thuật và nghiên cứu đối với ngành công nghiệp chế biến gỗ. Công trình nghiên cứu của các tác giả mô tả về tiến trình phát triển của ngành công nghiệp chế biến gỗ của Slovenia – thuộc Châu Âu đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ và đổi mới của ngành.
Nghiên cứu đã sử dụng nguồn số liệu phong phú để minh họa sự phát triển của ngành chế biến gố Slovenia thông qua các bảng số liệu, các đồ thị. Mục đích của nghiên cứu này là thiết lập các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến các doanh nghiệp ngành chế biến gỗ. Nghiên cứu đã sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp từ điều tra trực tiếp và nguồn dữ liệu thứ cấp từ các cơ quan nhà nước, các tổ chức. Dữ liệu được chia thành 2 nhóm: 12 Nhóm yếu tố đầu vào bao gồm: lao động, tiến bộ kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, năng lực sản xuất của doanh nghiệp, thị trường tiêu thụ, nhu cầu tiêu dùng, chất lượng dịch vụ của ngành.
Nhóm yếu tố đầu ra: là lợi nhuận Nghiên cứu sử dụng mô hình kinh tế phân tích các nhân tố đầu vào tác động đến yếu tố đầu ra và kiểm định mô hình. Kết quả cho thấy nhân tố tác động mạnh nhất là khoa học công nghệ (máy móc thiết bị), năng lực sản xuất của doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm.