CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về dịch vụ Ngân hàng Điện tử 1. Khái niệm chung dịch vụ ngân hàng điện tử 1. Dịch vụ ngân hàng Cho đến nay, có khá nhiều quan điểm khác nhau về dịch vụ ngân hàng.
Hầu hết các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng thương mại đều gọi là dịch vụ ngân hàng. Dịch vụ ngân hàng được hiểu là các nghiệp vụ ngân hàng về vốn, tiền tệ, thanh toán mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu kinh doanh, sinh lời, sinh hoạt cuộc sống, cất trữ tài sản. của họ, nhờ đó ngân hàng thu chênh lệch lãi suất, tỷ giá hay thu phí. Ở nước ta, lĩnh vực dịch vụ ngân hàng được Luật các tổ chức tín dụng quy định nhưng không có định nghĩa giải thích.
Căn cứ theo Luật tổ chức tín hợp nhất (Văn bản hợp nhất số 07/VBHN - VPQH ngày 2/12/2017) không nhắc đến dịch vụ ngân hàng, mà chỉ nhắc đến các hoạt động của Ngân hàng thương mại đó là: 1. Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác; 2. Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nước và nước ngoài; 3. Cấp tín dụng dưới các hình thức; 4.
Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng; 5. Cung ứng các phương tiện thanh toán; 6. Cung ứng các dịch vụ thanh toán. Tóm lại, có thể hiểu khái quát về dịch vụ ngân hàng như sau: “Dịch vụ ngân hàng bao gồm tất cả các dịch vụ được ngân hàng cung cấp cho khách hàng" (PGS.
TS Phan Thị Thu Hà (2015), Giáo trình ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội). Nói đến dịch vụ ngân hàng người ta thường gắn nó với hai đặc điểm: thứ nhất, đó là dịch vụ mà chỉ có các ngân hàng với những ưu thế của nó mới có thể thực hiện một cách trọn vẹn và đầy đủ; thứ hai, đó là các dịch vụ gắn liền với hoạt động ngân hàng không những cho phép ngân hàng thương mại thực hiện tốt yêu cầu 9 của khách hàng, mà còn hỗ trợ tích cực để ngân hàng thương mại thực hiện tốt hơn chức năng của ngân hàng thương mại. Dịch vụ ngân hàng điện tử Hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử. Có quan niệm cho rằng dịch vụ Ngân hàng điện tử là dịch vụ của ngân hàng cho phép khách hàng có khả năng truy nhập từ xa nhằm: thu thập thông tin; thực hiện các giao dịch thanh toán, tài chính dựa trên các tài khoản lưu ký tại Ngân hàng, và đăng ký sử dụng các dịch vụ mới.
Theo cách hiểu này, dịch vụ Ngân hàng điện tử chính là một hệ thống phần mềm vi tính cho phép khách hàng tìm hiểu hay sử dụng dịch vụ Ngân hàng thông qua việc kết nối mạng máy vi tính của mình với Ngân hàng. Hoặc “Các dịch vụ và sản phẩm ngân hàng hiện đại và đa tiện ích được phân phối đến khách hàng bán buôn và bán lẻ một cách nhanh chóng (trực tuyến, liên tục 24h/ngày và 7 ngày/tuần, không phụ thuộc vào không gian và thời gian) thông qua kênh phân phối (Internet và các thiết bị truy nhập đầu cuối khác như máy tính, máy ATM, POS, điện thoại để bàn, điện thoại di động.) được gọi là dịch vụ ngân hàng điện tử” (Trương Đức Bảo, Ngân hàng điện tử và các phương tiện giao dịch điện tử, Tạp chí tin học ngân hàng, số 4 (58), 7/2003) Dịch vụ ngân hàng điện tử là dịch vụ ngân hàng được cung cấp thông qua phương tiện điện tử. Trong đó phương tiện điện tử dùng để chỉ toàn bộ quy trình và hệ thống phương tiện giao dịch điện tử như máy tính cá nhân, ATM, điện thoại.; hệ thống quản lý và xử lý dữ liệu - giao dịch tại các ngân hàng; hệ thống giao tiếp và xử lý giao dịch liên ngân hàng. TS Phan Thị Thu Hà (2015), Giáo trình ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội).
Các đặc điểm của dịch vụ ngân hàng điện tử 1. Các loại hình dịch vụ E - Banking rất đa dạng và phong phú Như đã biết, các kênh phân phối truyền thống có danh mục sản phẩm rất đa dạng, nhằm thỏa mãn một cách tốt nhất nhu cầu của khách hàng, đồng thời để phân tán rủi ro. 10 E-Banking là kênh phân phối song song tồn tại với những kênh phân phối truyền thống. Tùy theo từng giai đoạn phát triển của hoạt động ngân hàng điện tử tại ngân hàng, các sản phẩm dịch vụ được đưa ra ở những mức độ khác nhau, từ dịch vụ giản đơn như xem thông tin tài khoản, lịch sử giao dịch.
đến những sản phẩm ở mức độ cao. đòi hỏi các giải pháp công nghệ hiện đại như thực hiện thanh toán trực tuyến, mở L/C (thanh toán quốc tế),. Ở giai đoạn phát triển cao nhất, E- Banking có thể phân phối đầy đủ sản phẩm, dịch vụ tương tự như một chi nhánh hay trụ sở ngân hàng. Các sản phẩm này cũng hết sức đa dạng, phong phú.
Bởi việc thiết kế chúng để đưa ra qua các kênh phân phối điện tử là dễ dàng và thỏa mãn được tất cả những nhu cầu riêng biệt của khách hàng. Đây là hình thức khách hàng tự phục vụ Đối với kênh phân phối truyền thống, khách hàng nhất thiết phải đến các chi nhánh hoặc trụ sở ngân hàng. họ sẽ được các nhân viên ngân hàng chỉ dẫn và thực hiện theo yêu cầu của mình. Hoạt động NHĐT không như vậy.
Thay vì phải có sự trợ giúp của các giao dịch viên, khách hàng sẽ tự đáp ứng, phục vụ nhu cầu riêng của mình, thông qua các thiết bị công nghệ. Điều này mang lại lợi ích cho cả khách hàng và ngân hàng. E-Banking cho phép khách hàng thực hiện yêu cầu một cách chính xác và tức thời. Đối với hoạt động E-Banking, yêu cầu của khách hàng sau khi được truyền về ngân hàng sẽ qua hệ thống server để xử lý: kiểm tra khách hàng về mã số cá nhân, mã tài khoản, các thông tin cần thiết để xác định chính xác có phải là khách hàng của ngân hàng hay không.
Nếu kết quả trả lại là đúng thì hệ thống sẽ tự động thực hiện lệnh mà khách hàng đưa ra theo đúng hệ thống quy trình đã được lập trình sẵn. Tất cả các công đoạn trên chỉ mất một khoảng thời gian rất ngắn, có thể coi là ngay lập tức; thay vì quá trình xử lý giấy tờ, in ấn phức tạp và tốn kém về thời gian, chi phí. Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử Về nguyên tắc, thực chất của dịch vụ Ngân hàng điện tử là việc thiết lập một 11 kênh trao đổi thông tin tài chính giữa khách hàng và Ngân hàng nhằm phục vụ nhu cầu sử dụng dịch vụ Ngân hàng của khách hàng một cách thực sự nhanh chóng, an toàn và thuận tiện. Các dịch vụ ngân hàng điện tử hiện đại có thể là các dịch vụ hoàn toàn mới hoặc cũng có thể là những dịch vụ truyền thống nay đuợc nâng cấp trên nền tảng công nghệ hiện đại.
Một số dịch vụ ngân hàng điện tử hiện đại đang đuợc ứng dụng hiện nay: 1. Thẻ ngân hàng (Bank Card) Thẻ ngân hàng là phuơng tiện thanh toán không dùng tiền mặt, ra đời từ phuơng thức mua bán chịu hàng hóa bán lẻ và phát triển gắn liền với ứng dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số du tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng đuợc cấp. Thẻ ngân hàng còn đuợc dùng để thực hiện các dịch vụ thông qua hệ thống giao dịch tự động.
Thẻ ngân hàng bao gồm 2 loại cơ bản Thẻ ghi nợ (Debit Card): Chủ thẻ nạp tiền vào tài khoản thẻ và sử dụng trong phạm vi số tiền mình có. Nói cách khác, thẻ ghi nợ là thẻ phải có tiền trong tài khoản và khi mua sắm, rút tiền, thanh toán sẽ trừ dần vào tài khoản. Hiện nay phần lớn nguời lao động, viên chức, sinh viên, nguời huu trí. đang sử dụng thẻ ghi nợ nội địa, thuờng gọi là thẻ ATM.
Thẻ này chủ yếu dùng để rút tiền, chuyển khoản, thanh toán trên máy ATM, mua hàng trên mạng hoặc thanh toán tại các máy POS. Trong một vài năm trở lại đây, thị truờng thẻ ghi nợ nội địa đã có những buớc phát triển mạnh mẽ. Đặc biệt, với chỉ thị 20/2007CP TTg của Thủ tuớng Chính phủ, khi mà xu thế không dùng tiền mặt ngày càng trở nên phổ biến, phần lớn các doanh nghiệp đều tiến hành trả luơng qua thẻ ATM, tạo cú hích đua luợng thẻ ATM tăng đột biến. Đóng góp cho sự phát triển mạnh mẽ của thị truờng thẻ ghi nợ nội địa không thể không tính đến sự phát triển không ngừng về chất luợng cũng nhu sự đa dạng của các dịch vụ tiện ích đi kèm theo.
Từ những buớc sơ khai chua thể hiện đuợc vai trò thanh toán phí tiền mặt nhu chức năng rút tiền và truy vấn số du của 12 thẻ ATM, đến nay khách hàng đã có thể có được rất nhiều tiện ích khi sở hữu những chiếc thẻ thanh toán này. Chủ thẻ không chỉ rút được tiền tại máy ATM mà còn có thể thực hiện chuyển khoản, gửi tiết kiệm hay mua bán thẻ cào online của ATM. Người sử dụng phải cầm cố sổ tiết kiệm, hoặc chứng minh thu nhập hàng tháng để ngân hàng cho vay tín chấp. Hàng tháng (hoặc định kỳ) NH sẽ gửi bản liệt kê những khoản tiền đã sử dụng và yêu cầu chủ thẻ thanh toán lại cho NH.
Các loại thẻ tín dụng hiện nay với việc chấp nhận thanh toán tại nhiều quốc gia thông qua hệ thống NH (không dùng tiền mặt) như: Visa, Master card, American Express, JCB,. Các thẻ AMEX (American Express), Visa hay Master card. là các thẻ đồng thương hiệu của rất nhiều NHTM làm đại lý, ví dụ như Vietcombank (có Amex, Visa, Master), NH Công thương (Visa, Master).Tlieo xu hướng phát triển, bên cạnh việc thị trường thẻ ghi nợ, các NH trong nước và nước ngoài cũng đang đẩy mạnh phát triển thị trường thẻ tín dụng quốc tế tại Việt Nam. Với hình thức chi tiêu trước, trả tiền sau, thẻ tín dụng quốc tế đã rất phát triển tại các nước tiên tiến.