CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1. Một số vấn đề về năng lực 1. Khái niệm năng lực Đã có nhiều nhà khoa học mô tả hoặc định nghĩa về khái niệm năng lực, với những xu hướng quy năng lực về phạm trù: 1) Khả năng; 2) Hoạt động; 3) Đặc điểm, phẩm chất, thuộc tính cá nhân. Chẳng hạn: - Theo Từ điển mở Wiktionary: Năng lực là khả năng làm việc tốt, nhờ có phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn.
- Trần Văn Hiến Minh (và đồng sự) cho rằng: Năng lực là cái sức mạnh tích trữ ở trong con người hay nơi vật, giúp tiếp nhận hay hành động, [27, tr. - Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: NĂNG LỰC, đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo – tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn – một hay một số dạng hoạt động nào đó, [7, tập 3, tr. - Sau khi xem xét, so sánh, phân tích và tổng hợp trong nghiên cứu các công bố khoa học của nhiều tác giả đã được giới thiệu, đưa ra ở trên và nhiều tài liệu khác nữa; trong luận văn này chúng tôi đồng tình với định nghĩa: Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,.thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể, [3, tr. Cấu trúc của năng lực Có nhiều quan niệm về các thành phần cấu tạo nên NL của mỗi một con người; chúng ta sẽ điểm qua một số quan niệm đáng chú ý nhất: a) Theo tác giả Nguyễn Lan Phương và các đồng sự Quan sát theo chiều sâu (đầu ra) thì: - NL được tạo bởi các NL hợp phần - NL hợp phần được tạo nên bởi các NL thành tố - NL thành tố được tạo nên bởi các hành vi (behaviour).
8 Ví dụ 1: NL tư duy của HS tiểu học có thể được tạo thành bởi các hợp phần như: NL tư duy logic; NL tư duy biện chứng;… Ví dụ 2: NL TD và LL toán học của HS lớp 2, lớp 3 có thể được tạo thành bởi các NL thành phần như: NL tìm hiểu đề bài; NL sàng lọc thông tin; nhận biết yêu cầu; NL phát hiện VĐ; NL GQVĐ; NL kiểm tra lời giải;… b) Theo nhiều nhà Tâm lý học NL được phân chia thành NL chung và NL chuyên môn. Theo đó, chúng tôi đồng tình và sử dụng lập luận: - NL chung là những NL cần thiết cho nhiều ngành hoạt động khác nhau như NL phán xét tư duy, NL khái quát hoá, NL tưởng tượng, NL ngôn ngữ, NL thể chất,. - NL chuyên môn là NL đặc trưng trong lĩnh vực nhất định của xã hội như NL âm nhạc, NL kinh doanh, NL hội họa, NL toán học. - Chúng tôi cho rằng, sự phân chia này là rất cần thiết để có thể có cái nhìn chính xác và sâu sắc hơn các loại hình NL.
Tuy nhiên, các loại hình NL không tách rời nhau hoàn toàn, chúng giao thoa nhau và có mối quan hệ với nhau. Ví dụ 3: Nếu một HS lớp 2, lớp 3 có NL học toán khá, giải được nhiều bài toán ở lớp 2, lớp 3 tương ứng thì sẽ có thể định hướng để giải quyết những bài toán cụ thể về Yếu tố TK – XS có hiệu quả hơn. Ngược lại từ chỗ giải quyết được nhiều bài toán cụ thể về Yếu tố TK – XS, NL tư duy của HS đó sẽ dần dần được phát triển lên. c) Theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 của Việt Nam, các thành phần của NL bao gồm: - Những NL chung (NL xuyên chương trình) được hình thành và phát triển thông qua tất cả các môn học, trước hết là NL Tự chủ và tự học.
NL giao tiếp và hợp tác. NL giải quyết vấn đề sáng tạo… - Những NL đặc thù (được hình thành và phát triển thông qua một số môn học) trước hết có thể kể đến NL ngôn ngữ. NL tính toán. NL khoa học.
NL công nghệ. NL tin học. NL thẩm mĩ. NL thể chất… 9 Hình 1.
Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 mô tả phẩm chất, NL cần phát triển cho HS Ghi chú: 1) Cách xác định và mô tả trên này về đại thể là khá tương đồng với cấu trúc về NL mà Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế thế giới (Organization for Economic Cooperation and Development; viết tắt: OECD) đã xác định. 2) Trong cách xác định và mô tả trên, chúng ta thấy NL tính toán được coi là một trong những năng lực cốt lõi, nền tảng mà mỗi một HS trong thời đại hiện nay cần phải có. Vì vậy trong mỗi môn học (Toán, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, …), mỗi GV đều cần có trách nhiệm khai thác nội dung dạy học đóng góp vào sự hình thành và phát triển NL tính toán cho HS. Đặc biệt, đối với môn Toán, hình thành và phát triển NL toán học cho HS có thể được coi là một trong những đóng góp trực tiếp và hàng đầu cho mục tiêu hình thành và phát triển NL tính toán của các em.
d) Theo mô hình ASK (trường phái Anh) Nhìn vào bề mặt (đầu vào), mỗi NL đều chủ yếu bao gồm 3 thành phần: Thái độ (Attitude), Kỹ năng (Skill), Kiến thức (Knowledge). Theo đó, chúng tôi đồng tình rằng: 10 - Kiến thức là những hiểu biết mà chủ thể (ở đây là HS tiểu học) đã thu nhận được từ sách vở, từ học hỏi và từ kinh nghiệm cuộc sống của mình. Có thể phân chia thành 5 mức độ đạt được về kiến thức đối với mỗi người như sau: Trình độ cơ sở tối thiểu. Trình độ nâng cao.
Trình độ chuyên sâu. Trình độ chuyên gia. Trình độ chuyên gia hàng đầu. - Kỹ năng là sự vận dụng bước đầu những kiến thức thu lượm được của chủ thể vào thực tế để tiến hành hoạt động nào đó.
Có thể phân chia các mức độ đạt được về kỹ năng đối với mỗi người như sau: Kỹ năng cơ bản tối thiểu. Kỹ năng nâng cao. Kỹ năng chuyên sâu. Kỹ năng chuyên sâu và chi tiết.
Kỹ năng chuyên gia. - Thái độ là những suy nghĩ của chủ thể được biểu hiện ra bên ngoài bằng hoạt động nào đó. Có thể phân chia các mức độ đạt được về thái độ của mỗi học sinh như sau: Cấp độ thấp: Học sinh không hứng thú, không muốn tham gia hoạt động học tập, thường xuyên vắng mặt, không hoàn thành bài tập, không gửi bài tập, không chịu tham gia thảo luận và có thái độ bất hợp tác. Cấp độ khá thấp: Học sinh có thái độ thiếu quan tâm và cần bổ sung năng lực để tham gia học tập.
Họ có thể hoàn thành bài tập và gửi bài tập, nhưng không có động cơ tham gia các hoạt động bổ sung, như thảo luận hay thực hành nâng cao. Cấp độ trung bình: Học sinh có thái độ trung lập đối với công việc học tập. Họ hoàn thành bài tập, gửi bài đúng hạn và tham gia vào hoạt động lớp, nhưng không có đặc điểm nổi bật nào trong việc trau dồi kiến thức và kỹ năng. Cấp độ khá cao: Học sinh có thái độ tích cực đối với việc học tập và nâng cao kiến thức.
Họ chủ động tìm kiếm cơ hội học tập và có thể hiện thực hóa sự quan tâm và thú vị trong việc học. Họ hoàn thành bài tập, gửi dài hạn và tham gia tích cực vào nhóm hoạt động. Cấp độ cao: Học sinh có thái độ cực tích cực và cống hiến cho việc học tập. Họ dành thời gian và nỗ lực để nghiên cứu, trau dồi kiến thức và phát triển kỹ năng cá nhân.
Họ thường hoàn thành yêu cầu một cách xuất sắc và tự động thực hiện các bài tập và dự án phức hợp. 100]: Để tham gia hoạt động mỗi HS cần có: - Kiến thức: Hiểu biết luật chơi, biết cách thực hiện phép cộng, phép trừ trong phạm vi 1000,… - Kĩ năng: Thực hiện phép cộng, trừ theo hàng ngang và hàng dọc,… - Thái độ - Phẩm chất: Mức độ khá, tích cực, hăng hái tham gia. Năng lực tư duy và lập luận toán học 1. Tư duy a) Có nhiều định nghĩa về tư duy, chẳng hạn: 12 - Tư duy: Giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lí [19, tr.
- Tư duy: Sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt – bộ não, quá trình phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, phán đoán, lí luận, … [7, tập 4, tr. b) Một số đặc điểm của tư duy - Tính có vấn đề. - Tính gián tiếp. - Tính trừu tượng và khái quát.
- Tư duy có quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ. - Tính chất lý tính của tư duy. - Tư duy có quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính. 100]: - Có thể nói đây là tình huống có vấn đề, vì: Tồn tại một vấn đề: làm sao có thể trả lời được các câu hỏi một cách nhanh nhất có thể.
Gợi nhu cầu nhận thức: HS có mong muốn trả lời được các câu hỏi, vì câu hỏi gây tò mò, nếu trả lời tốt sẽ 13 được thầy, cô cho điểm cao, bố mẹ khen, bạn bè nể phục,… Khơi dậy niềm tin ở khả năng bản thân: Có vẻ như không quá khó khăn để tìm kiếm các câu trả lời. - Có thể tình huống trên không nhất thiết đòi hỏi HS phải tới cửa hàng bán sơn để trực tiếp tư duy mà có thể tưởng tượng một cách gián tiếp. … c) Các thao tác tư duy cơ bản: So sánh, Phân tích và tổng hợp, Trừu tượng hoá và khái quát hoá, Cụ thể hoá, Hệ thống hoá… d) Các kỹ năng tư duy: Quan sát, so sánh, phân tích, quy nạp, đề xuất giả thuyết, vận dụng kiến thức đã học… Ví dụ 6 (lấy lại ví dụ 4): Để có thể trả lời được các câu hỏi, HS tối thiểu cần: - Quan sát biểu đồ để biết được có những màu sơn nào? - So sánh xem hàng nào có thể có số thùng sơn bằng nhau? - Phân tích xem cửa hàng bán được 9 thùng sơn có thể có màu gì? e) Các quy luật cơ bản của tư duy - Quy luật đồng nhất. Chẳng hạn, https://eva.vn/day-con/bai-toan-lop-2-17-7-2- ai-cung-tuong-de-nhung-phu-huynh-lai-tranh-cai-du-doi-vi-dap-an- c14a596085.2024 viết: Bài toán tiểu học 17- 7- 2 bằng 12 hay 8? Ai cũng tưởng dễ nhưng phụ huynh lại tranh cãi dữ dội.