phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng với những nội dung sau: 12 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN Chƣơng này ngƣời viết tập trung vào việc làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn của việc đề xuất xây dựng và vận dụng hệ thống câu hỏi phát triển năng lực đọc hiểu thơ chống Mĩ cho học sinh lớp 12. Xác định nội dung trọng điểm của đề tài, trình bày, phân tích, tổng hợp, đánh giá những vấn đề lí luận và thực tiễn có liên quan,. từ đó làm cơ sở đi vào từng vấn đề cụ thể ở các chƣơng sau. Chƣơng 2: BIỆN PHÁP XÂY DỰNG VÀ VẬN DỤNG HỆ THỐNG CÂU HỎI PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU TRONG DẠY HỌC THƠ KHÁNG CHIẾN CHỐNG ĐẾ QUỐC MĨ CHO HỌC SINH LỚP 12 Ở chƣơng này chúng tôi nêu ra nguyên tắc và biện pháp xây dựng hệ thống câu hỏi phát triển năng lực đọc hiểu trong dạy học thơ kháng chiến chống đế quốc Mĩ.
Đề xuất nguyên tắc và biện pháp vận dụng cụ thể. Nêu ý nghĩa của từng biện pháp và các ví dụ cụ thể. Đó là kết quả của việc lựa chọn, đúc rút từ nội dung, đặc điểm của CH phát triển năng lực đọc hiểu cho học sinh THPT trong tiến trình dạy học thơ ca giai đoạn này. Có thể là cơ sở cho GV đứng lớp vận dụng và sáng tạo các biện pháp nhất định, phù hợp với trình độ, thực sự có hiệu quả với HS.
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM Ở chƣơng này chúng tôi cụ thể hóa các nguyên tắc và biện pháp đã đề xuất ở chƣơng 2 qua các giáo án cụ thể, quy trình triển khai dạy học TN. Từ đó đánh giá kết quả nhằm kiểm chứng hiệu quả, tính khả thi của chúng. Rút ra những kết luận hữu ích cho việc xây dựng và vận dụng hệ thống câu hỏi phát triển năng lực đọc hiểu trong dạy học thơ kháng chiến chống đế quốc Mĩ cho học sinh THPT. 13 NỘI DUNG Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
Cơ sở lí luận của đề tài 1. Năng lực đọc hiểu 1. Khái niệm năng lực Khái niệm “năng lực” đã nhận đƣợc sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nƣớc. Cho đến hiện nay có rất nhiều định nghĩa về năng lực và chƣa thống nhất với nhau.
Tuy nhiên, trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy, trong tất cả những định nghĩa về năng lực, các nhà nghiên cứu đều đi đến thống nhất đó là: Năng lực là một thuộc tính của cá nhân. Mỗi cá nhân khác nhau có những năng lực khác nhau; điểm chung thứ hai là đều huy động kiến thức kĩ năng vào giải quyết công việc; thứ ba là đều phải đạt được kết quả mong muốn. Ngƣời viết cho rằng: Khái niệm năng lực đƣợc các nhà nghiên cứu đề xuất trong dự thảo “Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể” là một khái niệm rất có giá trị trong nghiên cứu khoa học. Khái niệm này đã bao quát và làm rõ những đặc điểm cơ bản của phát triển năng lực: Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện cho phép con người huy động tập hợp các kiến thức kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác nhau như hứng thú, niềm tin, ý chí,… để thực hiện thành công một loạt hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.
Rõ ràng năng lực là thuộc tính cá nhân, phát triển năng lực chính là phát triển các thuộc tính của cá nhân. Các thuộc tính này đƣợc hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con ngƣời huy động tập hợp các kiến thức, kĩ năng, hứng thú, niềm tin, ý chí… thực hiện thành công một loạt hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. Đó là điều rất quan trọng đối với sự phát triển của mỗi cá nhân nói chung và học sinh nói riêng trong quá trình học tập, và cũng là một vấn đề rất quan trọng có ý nghĩa quyết định đến vấn đề đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục theo quan điểm của Đảng và nhà nƣớc. Chính vì thế, ngƣời viết kế thừa thành quả nghiên cứu này và áp dụng nó vào việc xây dựng hệ thống câu hỏi phát triển năng lực đọc hiểu văn bản thơ kháng chiến chống đế quốc Mĩ cho học sinh lớp 12.
Phân loại năng lực Phân loại năng lực là một vấn đề rất phức tạp. Kết quả phụ thuộc vào quan điểm và tiêu chí phân loại. Về cơ bản có 2 loại chính: Đó là những năng lực chung/ cốt lõi (key competence) và năng lực chuyên biệt (specific competence). Năng lực chung/ cốt lõi là năng lực cơ bản, thiết yếu để con ngƣời có thể sống và làm việc bình thƣờng trong xã hội.
Năng lực này đƣợc hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều môn học. Năng lực chuyên biệt là năng lực riêng chỉ có và cần cho một số ngƣời ở một số lĩnh vực cụ thể nào đó. Nhìn chung sự phân biệt giữa năng lực chung và năng lực chuyên biệt là cần thiết, tuy nhiên giữa hai loại năng lực này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, góp phần bổ sung cho nhau và do vậy nhiều khi ranh giới giữa chúng thƣờng bị nhòe mờ, không thật rõ ràng, minh bạch. Chẳng hạn tƣ duy sáng tạo là năng lực chung, nhƣng môn học nào cũng có yêu cầu sáng tạo nhƣ là một năng lực chuyên biệt: sáng tạo toán học, sáng tạo nghệ thuật, sáng tạo văn học, sáng tạo công nghệ,…Giao tiếp là năng lực chung, nhƣng khi đi sâu vào giao tiếp ngôn ngữ nếu các kĩ năng đọc, viết, nghe, nói (môn Tiếng Việt- văn học) đƣợc yêu cầu ở một mức độ nào đó thì nó lại trở thành năng lực chuyên biệt: Ví dụ nói và diễn thuyết (hùng biện) thì nói là năng lực chung, yêu cầu ở mức bình thƣờng nhƣng diễn thuyết và nhất là hùng biện không phải là năng lực chung mà là năng lực chuyên biệt.
Tƣơng tự năng lực đọc và đọc diễn cảm cũng nhƣ vậy… Năng lực của HS là đích cuối cùng của quá trình giáo dục. Bởi vậy, những yêu cầu về phát triển năng lực của HS cần đƣợc đặt đúng chỗ trong mục tiêu dạy học. Đặc điểm của hoạt động đọc hiểu 1. Khái niệm đọc hiểu Theo định nghĩa của PISA: Đọc hiểu là toàn bộ quá trình tiếp xúc trực tiếp với văn bản (gồm quá trình cảm thụ kí hiệu vật chất và nhận ra ý nghĩa của những kí hiệu đó); là quá trình nhận thức, quá trình tư duy (tiếp nhận và phân tích lí giải ý nghĩa của văn bản, phát hiện ra ý nghĩa không có sẵn giữa các dòng văn, đọc ra những biểu tượng, ẩn ý của văn bản và diễn đạt lại bằng lời của người đọc, kiến tạo ý nghĩa văn bản); là quá trình phản hồi, sử dụng văn bản (sự thay đổi nhận thức, tư tưởng, tình cảm của người đọc, người đọc tìm ra ý nghĩa lịch sử, giá trị của văn bản trong các thời đại khác nhau.
15 Rand Reading Study Group (2002) đã xác định: Đọc hiểu là quá trình giải mã và kiến tạo nghĩa cho VB dựa trên sự tương tác đồng thời giữa ba yếu tố “người đọc, VB và hành động đọc hoặc mục đích đọc”[38]. Theo Rosenblatt (1988), “mỗi hành vi đọc là một sự kiện, một sự giao dịch, thương lượng có liên quan đến một người đọc cụ thể và một cấu hình cụ thể của những kí hiệu trên một trang giấy, tất cả xảy ra trong một thời gian cụ thể và một ngữ cảnh cụ thể. Ý nghĩa của VB không phải là cái tồn tại sẵn có “trong” VB hoặc “trong” người đọc, nó xảy ra trong quá trình trao đổi, thương lượng giữa người đọc và VB” [39]. Đọc là một hoạt động của con ngƣời, dùng mắt để nhận biết các kí hiệu và chữ viết, dùng trí óc để tƣ duy và lƣu giữ những nội dung mà mình đã đọc và sử dụng bộ máy phát âm phát ra âm thanh nhằm truyền đạt đến ngƣời nghe.
Hiểu là phát hiện và nắm vững mối liên hệ của sự vật, hiện tƣợng, đối tƣợng nào đó và ý nghĩa của mối quan hệ đó. Hiểu còn là sự bao quát hết nội dung và có thể vận dụng vào đời sống. Hiểu là phải trả lời đƣợc các câu hỏi: Cái gì? Nhƣ thế nào? Làm thế nào?. Theo tác giả Wilhelm Dithey (1833-1911): “Hiểu là phải đạt đến chỗ dung hợp giữa tầm nhìn của tác phẩm và tầm nhìn của người đọc và tạo ra nghĩa.” Trong cuốn "Kĩ năng đọc hiểu Văn" tác giả Nguyễn Thanh Hùng đã khái quát hóa lại rằng: bản chất của đọc hiểu là hành động nhận thức tích cực với toàn bộ năng lực tinh thần, thể xác, kí ức, kinh nghiệm và là quá trình nắm vững ý nghĩa tác phẩm của người đọc [10].
Nhƣ vậy đọc hiểu là đọc kết hợp với sự hình thành năng lực giải thích, phân tích, khái quát, biện luận đúng- sai về logic, nghĩa là kết hợp với năng lực, tƣ duy và biểu đạt. Mục đích đọc hiểu là phải thấy đƣợc: Nội dung của văn bản; mối quan hệ ý nghĩa của văn bản do tác giả tổ chức và xây dựng; ý đồ, mục đích.Thấy đƣợc tƣ tƣởng của tác giả gửi gắm trong tác phẩm; giá trị đặc sắc của các yếu tố nghệ thuật; ý nghĩa của từ ngữ đƣợc dùng trong cấu trúc văn bản; thể loại của văn bản, hình tƣợng nghệ thuật…Tuy nhiên trong quá trình đọc, ngƣời đọc không chỉ khám phá tác phẩm, mà đôi khi còn “đồng sáng tạo” với nhà văn. Nghĩa là, ngƣời đọc huy động kiến thức nền, sự trải nghiệm, vốn sống, vốn văn hóa để hiểu những gì nhà văn nói và cả những điều nhà văn không nói… Từ những nghiên cứu trên ngƣời viết xin đề xuất một khái niệm về đọc hiểu: đọc hiểu là hoạt động đọc, giải mã và kiến tạo nghĩa cho tác phẩm từ việc huy động kiến thức nền, sự trải nghiệm, vốn sống, vốn văn hóa…của người đọc. 16 Nhƣ vậy đọc hiểu là tiếp xúc với văn bản, hiểu đƣợc nghĩa hiển ngôn, nghĩa hàm ẩn, các biện pháp nghệ thuật, thông hiểu các thông điệp tƣ tƣởng, tình cảm của ngƣời viết và giá trị tự thân của hình tƣợng nghệ thuật.
Đọc hiểu là quá trình thâm nhập vào văn bản với thái độ tích cực, chủ động khám phá các tầng nghĩa của tác phẩm, kiến tạo nghĩa cho tác phẩm. Đọc hiểu là quá trình chủ động khám phá tác phẩm với mục đích rõ ràng.