Phần mở đầu, Kết luận, Khuyến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở khoa học của đề tài Chƣơng 2. Biện pháp phát triển năng lực cảm thụ văn học cho học sinh lớp 11 qua dạy học truyện Việt Nam hiện đại Chƣơng 3. Thực nghiệm sƣ phạm 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.
Năng lực cảm thụ văn học 1. Quan niệm về “năng lực cảm thụ văn học” a) Khái niệm “năng lực” Năng lực là một khái niệm có nguồn gốc từ tiếng Latin đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới. Hiện nay có nhiều quan niệm về NL. Theo Từ điển tiếng Việt, NL đƣợc hiểu là: “Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con ngƣời khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lƣợng cao”[37, tr.
CTGDPT Quescbec – Bộ GD Canada (2004) quan niệm: “NL có thể định nghĩa nhƣ là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực. Những khả năng này đƣợc sử dụng một cách phù hợp, bao gồm cả những gì học đƣợc từ nhà trƣờng cũng nhƣ những kinh nghiệm của HS; những kĩ năng, thái độ và sự hứng thú; ngoài ra còn có những nguồn bên ngoài chẳng hạn nhƣ bạn cùng lớp, thầy cô giáo, các chuyên gia hoặc các nguồn thông tin khác”[46, tr. CTGDPT của New Zealand nêu một cách ngắn gọn: “NL là một khả năng hành động hiệu quả hoặc sự phản ứng thích đáng trong các tình huống phức tạp nào đó”[51]. Các chuyên gia trong lĩnh vừa giáo dục cũng đƣa ra những định nghĩa về NL.Weinert cho rằng: “NL đƣợc thể hiện nhƣ một hệ thống khả năng, sự thành thạo hoặc những kĩ năng thiết yếu, có thể giúp con ngƣời đủ điều kiện vƣơn tới một mục đích cụ thể”.
Coolahan xem NL nhƣ là khả năng cơ bản dựa trên tri thức, kinh nghiệm, các giá trị và thiên hƣớng của một con ngƣời đƣợc phát triển thông qua thực hành giáo dục. Trong CTGDPT tổng thể của Việt Nam, khái niệm NL đƣợc hiểu là: “thuộc 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tính cá nhân đƣợc hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con ngƣời huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác nhƣ hứng thú, niềm tin, ý chí.thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể[5, tr. Nhƣ vậy, có thể thấy, dù cách diễn đạt có khác nhau nhƣng những cách hiểu trên đều khẳng định NL là khả năng vận dụng tổng hòa kiến thức, kĩ năng, thái độ và giá trị để giải quyết những tình huống, những vấn đề trong cuộc sống. Đó không chỉ là biết và hiểu mà quan trọng là khả năng thực hiện, là phải biết làm.
Đƣơng nhiên, hành động (làm) hay thực hiện ở đây không phải làm một cách máy móc, mù quáng mà phải có ý thức, thái độ, kiến thức và kĩ năng. b) Năng lực cảm thụ văn học Tác giả Trần Mạnh Hƣởng trong cuốn Luyện tập về cảm thụ văn học ở tiểu học, cho rằng: “Cảm thụ văn học chính là sự cảm nhận những giá trị nổi bật, những điều sâu sắc, tinh tế, đẹp đẽ của văn học đƣợc thể hiện trong tác phẩm hay một bộ phận của tác phẩm”[28, tr. Giáo sƣ Phan Trọng Luận trong Văn chương bạn đọc sáng tạo đã khẳng định: “Cảm thụ văn học là một quá trình lao động sáng tạo, là quá trình vận dụng nhiều năng lực, là quá trình tiếp nối sự sáng tạo của nghệ sĩ”[32, tr. Theo Giáo trình cảm thụ văn học của tác giả Dƣơng Thị Hƣơng, “ Cảm thụ văn học là đọc hiểu các tác phẩm văn chƣơng ở mức cao nhất.
Ngƣời đọc không chỉ nắm bắt mà còn phải thẩm thấu đƣợc thông tin, phân tích, đánh giá đƣợc khả năng sử dụng ngôn từ của tác giả, tạo đƣợc mối giao cảm đặc biệt giữa tác giả và bạn đọc và có thể truyền thụ cách hiểu đó cho ngƣời khác”[22, tr. Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018) xác định mục tiêu chung “Góp phần giúp học sinh (HS) phát triển các năng lực chung: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Đặc biệt, môn Ngữ văn giúp học sinh phát triển năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học”[4, tr. Trong đó, năng lực văn học đƣợc xác định là “một biểu hiện của năng lực thẩm mĩ, là khả năng nhận biết, phân tích, tái hiện và sáng tạo các yếu tố thẩm mĩ thông qua hoạt động tiếp nhận và tạo lập văn bản văn 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com học”[4, tr.
Nhƣ vậy, năng lực văn học bao gồm hai phƣơng diện/thành tố: tiếp nhận/cảm thụ và tạo lập/sáng tạo văn bản văn học theo đặc trƣng của từng thể loại (với các yếu tố thẩm mĩ riêng). Do đó, cảm thụ văn học chính là một phƣơng diện của năng lực văn học. Từ những quan niệm trên, chúng tôi cho rằng cảm thụ văn học là quá trình cảm nhận đƣợc cái cái hay, cái đẹp chứa đựng trong thế giới ngôn từ của tác phẩm. Hoạt động đó là sự hòa quyện giữa nhận thức và rung cảm, mang dấu ấn chủ quan của độc giả.
Nghĩa là khi đọc một tác phẩm văn học (TPVH) ta không chỉ hiểu mà phải cảm xúc, tƣởng tƣợng và thật sự gần gũi “nhập thân” với những gì đã đọc. Nhƣ vậy, năng lực cảm thụ văn học có thể hiểu là khả năng vận dụng tổng hòa các yếu tố nhƣ kiến thức, kĩ năng, vốn sống, kinh nghiệm, hứng thú.vào việc phát hiện, khám phá, thƣởng thức và thể nghiệm những giá trị đặc sắc, độc đáo của TPVH. Nó bộc lộ khả năng của mỗi cá nhân trong việc nhận ra đƣợc giá trị thẩm mĩ của sự vật, hiện tƣợng, con ngƣời và cuộc sống qua những cảm nhận, rung động trƣớc cái đẹp, cái thiện, từ đó biết hƣớng suy nghĩ, hành vi của mình theo cái thiện, cái đẹp. Biểu hiện của năng lực cảm thụ văn học ở học sinh lớp 11 Chương trình giáo dục phổ thông (CTGDPT) môn Ngữ văn (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018) đã xác định năng lực cảm thụ/tiếp nhận văn học chung cho HS cấp trung học phổ thông (THPT), trong đó có HS lớp 11 nhƣ sau: “Phân tích và đánh giá văn bản văn học dựa trên những hiểu biết về phong cách nghệ thuật và lịch sử văn học.
Nhận biết đƣợc đặc trƣng của hình tƣợng văn học và một số điểm khác biệt giữa hình tƣợng văn học với các loại hình tƣợng nghệ thuật khác (hội hoạ, âm nhạc, kiến trúc, điêu khắc); phân tích và đánh giá đƣợc nội dung tƣ tƣởng và cách thể hiện nội dung tƣ tƣởng trong một văn bản văn học; nhận biết và phân tích đƣợc đặc điểm của ngôn ngữ văn học, câu chuyện, cốt truyện và cách kể chuyện; nhận biết và phân tích đƣợc một số đặc điểm phong cách nghệ thuật trong văn học dân gian, trung đại và hiện đại; phong cách nghệ thuật của một số tác giả, tác phẩm lớn. Nêu đƣợc những nét tổng quát về lịch sử văn học dân tộc (quá trình phát triển, các đề tài và chủ đề lớn, các tác giả, tác phẩm lớn; một số giá trị nội dung và hình thức của văn học dân tộc) và vận dụng vào việc đọc TPVH”[4, tr. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thực tế cho thấy, không có con đƣờng riêng để hình thành năng lực CTVH mà phải qua các con đƣờng “đọc” và “nghe” và thể hiện ra bằng hoạt động “nói” và “viết”. Vì thế, để nắm đƣợc cách thức phát triển năng lực CTVH cho HS lớp 11, cần phải quan tâm đến biểu hiện của các hoạt động đọc và nghe, nói và viết, trong đó quan trọng nhất là nói và nghe.
Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn (2018) quy định về các hoạt động này cho HS cả cấp THPT nhƣ sau: “ Biết vận dụng kiến thức tiếng Việt và kiến thức về bối cảnh lịch sử, xã hội, tƣ tƣởng, triết học và quan niệm thẩm mĩ của các thời kì để hiểu các văn bản khó hơn (thể hiện qua dung lƣợng, độ phức tạp và yêu cầu đọc hiểu). Biết phân tích, đánh giá nội dung và đặc điểm nổi bật về hình thức biểu đạt của văn bản, nhất là những tìm tòi sáng tạo về ngôn ngữ, cách viết và kiểu văn bản. Học sinh có cách nhìn, cách nghĩ về con ngƣời và cuộc sống theo cảm quan riêng; thấy đƣợc vai trò và tác dụng của việc đọc đối với bản thân” [4, tr. Những biểu hiện của hoạt động đọc và nghe (biểu hiện của năng lực CTVH) của HS lớp 11 trình bày ở trên là cơ sở để chúng tôi triển khai đề tài nghiên cứu của mình.
Tiếp nhận văn học và quan điểm tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn học trong nhà trường 1.Tiếp nhận văn học Hoạt động văn học luôn vận hành trong các quan hệ: hiện thực - nhà văn - tác phẩm - bạn đọc. Vì vậy, bên cạnh mối quan hệ giữa tác phẩm với hiện thực, tác phẩm với nhà văn., nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm tới mối quan hệ giữa tác phẩm với bạn đọc. Nghĩa là hƣớng tới sự tiếp nhận TPVH của bạn đọc. Theo Từ điển thuật ngữ văn học, tiếp nhận văn học (TNVH) đƣợc hiểu là: “Hoạt động chiếm lĩnh các giá trị tƣ tƣởng thẩm mĩ của TPVH, bắt đầu từ sự cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tƣợng nghệ thuật, tƣ tƣởng, cảm hứng, quan niệm nghệ thuật, tài nghệ tác giả cho đến sản phẩm sau khi đọc: cách hiểu, ấn tƣợng trong trí nhớ, ảnh hƣởng trong hoạt động sáng tạo, bản dịch.
Trong hoạt động đó, ngƣời đọc đƣợc coi là chủ thể tiếp nhận. Nhƣ vậy, cảm thụ văn học và tiếp nhận văn học có những điểm tƣơng đồng. Lâu nay, lí luận văn học đã nghiên cứu kĩ về tiếp nhận văn học nên chúng tôi dựa vào đó để tìm hiểu về cảm thụ văn học. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com a) Vai trò của người đọc trong tiếp nhận văn học Trong tiếp nhận văn học, ngƣời đọc có vai trò vô cùng quan trọng.
Văn bản văn học nếu không đƣợc bạn đọc tìm hiểu thì sẽ chỉ là các kí tự chết nằm mãi trên giá sách của nhà văn. Muốn thể hiện đƣợc ý tình của tác giả hay bồi dƣỡng, nâng cao đời sống tâm hồn con ngƣời thì nhất định văn bản phải đƣợc ngƣời đọc tiếp nhận.