CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MẠNG GIÁ TRỊ 1. TỔNG QUAN VỀ MẠNG GIÁ TRỊ 1. Chuỗi giá trị Chuỗi giá trị là một sáng tạo học thuật của GS. Michael Porter, học giả marketing lừng lẫy.
Ông đưa thuật ngữ này lần đầu tiên vào năm 1985 trong cuốn sách best seller có tựa đề Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior Performance, phân tích về lợi thế cạnh tranh khi khảo sát kỹ các hệ thống sản xuất, thương mại và dịch vụ đã đạt tới tầm ảnh hưởng rất lớn ở Mỹ và các quốc gia phát triển khác. Đây là khoảng bắt đầu của giai đoạn thứ 5 trong mô hình Rostow về tăng trưởng kinh tế, giai đoạn cao nhất. Mô hình chuỗi giá trị của Michael Porter Trong chuỗi giá trị này, mô hình Porter khoanh thành hai mảng chính :hoạt động bổ trợ và hoạt động chính. Về cơ bản, tổng thể có chín loại hoạt động tạo ra giá trị trong toàn chuỗi.
Nhóm hoạt động chính thì bao gồm dãy năm loại hoạt động : đưa nguyên vật liệu đầu vào; vận hành, sản xuất- kinh Luan van 10 doanh; vận chuyển ra bên ngoài; marketing và bán hàng; cung cấp các dịch vụ liên quan. Nhóm bổ trợ chứa các hoạt động tạo ra giá trị bao gồm: Hạ tầng, quản trị nhân lực, công nghệ và mua sắm. Các hoạt động bổ trợ xảy ra bên trong từng loại hoạt động chính. Xét ở một góc độ khác, chuỗi giá trị còn được nhìn thông qua các quá trình kinh doanh chủ đạo, bao gồm: (a) Quá trình phát triển công nghệ sản phẩm; (b) Quá trình quản trị kho và nguyên vật liệu, đầu vào; (c) Quá trình từ đoan hàng tới thanh toán; và (d) Quá trình cung cấp dịch vụ.
Chuỗi giá trị rất hữu ích trong việc phân tích lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, điều khiển được chi phí trong mỗi hoạt động làm tăng giá trị hoặc giúp doanh nghiệp biết được làm thế nào để tạo sự khác biệt giữa họ với các đối thủ cạnh tranh khác.Nó được chứng minh là một cơ chế rất hữu ích trong việc miêu tả chuỗi liên kết các hoạt động tồn tại trong vật lý học cùng với nền công nghiệp truyền thống, đặc biệt là công nghiệp sản xuất.Tuy nhiên, nó hạn chế (đóng khung) suy nghĩ của chúng ta về giá trị và tạo ra giá trị. Do đó, mặc dù mô hình chuỗi giá trị được sử dụng rộng rãi, nhưng nó cũng gặp không ít sự chỉ trích. Năm 1998, lần đầu tiên Stabell vàFjeldstad gây ra tranh cãi rằng chuỗi giá trị không còn phù hợp đối với một số lĩnh vực dịch vụ đặc biệt. Hàng hóa và dịch vụ ngày càng trở nên phi vật chất và chuỗi giá trị bản thân nó đã không có thước đo vật lý, khái niệm chuỗi giá trị không còn là công cụ thích hợp đối với việc nghiên cứu trong nhiều ngành công nghiệp ngày nay và không thể tìm ra nguồn gốc giá trị.
Điều này có thể thấy rõ trong các lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông, báo chí, giải trí, âm nhạc, quảng cáo. Ngoài ra, nhiều ngành công công nghiệp ngày nay thể hiện sự hợp tác mạnh Luan van 11 mẽ thông qua các mối quan hệ giữa các tổ chức với nhau, điều này đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược hoạt động.Trọng tâm của chuỗi giá trị là sản phẩm cuối cùng và chuỗi được thiết kế xoay quanh các hoạt động cần thiết để tạo ra nó.Còn đối với khái niệm mạng giá trị, giá trị được cùng nhau tạo ra bởi sự kết nối của những thành phần tham gia trong mạng. Thứ 2, Alle (2002) đã chỉ ra rằng mô hình chuỗi giá trị tập trung vào sự trao đổi tài sản cố định hữu hình giữa doanh nghiệp và người mua hàng. Trong khi đối ngày nay, tài sản vô hình trong nền kinh tế ngày càng trở nên quan trọng hơn.
Các tài sản vô hình này gồm khách hàng hay là các nguồn lực bên ngoài (đồng minh và các mối quan hệ với khách hàng, các đối tác chiến lược, nhà cung cấp, nhà đầu tư và giới truyền thông); nguồn nhân lực (kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm và khả năng giải quyết tình huống của những con người làm việc trong công ty) và cơ sở hạ tầng ( hệ thống và quy trình làm việc làm tăng khả năng cạnh tranh bao gồm: kỹ thuật, công nghệ thông tin, hình ảnh, mô hình hoạt động của công ty, các dữ liệu, bằng sáng chế, chứng nhận). Alle đã phát triên mô hình mạng giá trị mà theo đó, các tài sản hữu hình cũng như vô hình đều được tham gia trao đổi. Thứ ba, mô hình chuỗi giá trị mô phỏng một cấu trúc đường thẳng mà trong thế giới ngày nay nó không còn phù hợp nữa ( Hearn và Pace 2006). Thêm vào đó, công nghệ Interner đã tạo ra rất nhiều thị trường mới mà bất cứ ai đều có thể tham gia vào.
Tác giả đã đưa ra tranh luận rằng sự phát triển này kéo hàm ý rằng mô hình đường thẳng của chuỗi giá trị không còn phù hợp nữa, nhưng lúc này các ngành nghề trong nền kinh tế có thể được mô tả một cách tốt hơn với mạng giá trị bao gồm những người tham gia khác nhau, đến từ những ngành nghề khác nhau, cùng làm việc với nhau để đưa sản phẩm và Luan van 12 dịch vụ đến người tiêu dùng cuối cùng. Nói tóm lại, mặc dù chuỗi giá trị đã được áp dụng và chấp nhận trong các ngành sản xuất, nhưng nó không phù hợp với các ngành dịch vụ. Hơn nữa, việc tài sản vô hình ngày càng gia tăng và trở nên quan trọng trong nền kinh tế ngày nay thì mô hình chuỗi giá trị lại quá giới hạn để có thể nhìn ra được giá trị Kothadaraman và Wilson (2010) cũng đã chỉ ra những hạn chế của mô hình chuỗi giá trị và đưa ra kết luận rằng các doanh nghiệp dần chuyển từ cạnh tranh sang cùng hợp tác phát triển để tạo ra một mạng cùng tạo lập giá trị. Mạng giá trị a.
Định nghĩa mạng giá trị Khái niệm mạng giá trị được đặt nền móng từ một lập luận rất sớm vào năm 1993 của Normannvà Ramirez. Theo lập luận này, hoạch định chiến lược không còn là việc định vị một tập hợp các hoạt động cố định trên cùng một chuỗi giá trị mà nên tập trung vào việc tạo ra giá trị từ chính hệ thống công ty. Từ đó đến nay, đã có nhiều nghiên cứu và định nghĩa về mạng giá trị Clayton Christensen đã định nghĩa mạng giá trị gồm tập hợp hỗ trợ cho một mô hình kinh doanh phổ biến trong nền công nghiệp bao gồm các nhà cung cấp đầu vào, các kênh cung cấp đầu ra và các nhà cung cấp phụ trợ.Bất cứ tác nhân nào tham gia vào mạng giá trị, họ buộc phải điều chỉnh mô hình kinh doanh của họ sao cho thích ứng với mạng giá trị. Do đó, hoạt động của mạng giá trị sẽ không bị gián đoạn bới vì họ đã trở thành một thành viên của mạng giá trị.
Luan van 13 Năm 1998, trong bài viết “Configuring Value For Compertitive Advantage: On chains, shops, and Network” của Fjeldstad and Stabell, mạng giá trị là một trong ba cách thức mà một tổ chức kinh doanh chọn lựa để tạo ra giá trị, cùng với chuỗi giá trị và giá trị chuyên biệt (value shop). Mạng giá trị là một thuật ngữ nói chung cho tất cả các tổ chức hoạt động theo mô hình mạng: dựa trên công nghệ trung gian để kết nối đến khách hàng và người tiêu dùng có nhu cầu cũng như mong muốn trao đổi với nhau. Công nghệ trung gian tạo điều kiện để trao đổi các mối quan hệ giữa các khách hàng với nhau, ở bất cứ địa điểm và thời điểm nào. Bản thân một tổ chức không thể là mạng giá trị, mà nó cung cấp dịch vụ cho mạng giá trị.Ví dụ những tổ chức hoạt động dựa trên công nghệ trung gian như công ty điện thoại, ngân hàng bán lẻ, công ty bảo hiểm, dịch vụ bưu chính.
Thuật ngữ “ Mạng giá trị” nhấn mạnh rằng yếu tố quyết định quan trọng để mang giá trị đến cho bất cứ khách hàng nào là khi một tập hợp, hoặc một mạng lưới các khách hàng được kết nối với nhau. Như trong lĩnh vực thông tin liên lạc, dịch vụ thông tin liên lạc phụ thuộc vào những người mà khách hàng có thể kết nối liên lạc được. Verna Allee định nghĩa mạng giá trị là bất kỳ mạng lưới các mối quan hệ nào tạo ra những giá trị hữu hình và vô hình dựa thông qua sự trao đổi linh hoạt và phức tạp của hai hay nhiều cá nhân, nhóm hay tổ chức. Bất cứ một tổ chức hay một nhóm tổ chức tham gia vào việc trao đổi hữu hình và vô hình đều được xem là mạng giá trị cho dù đó là công nghiệp tư nhân, chính phủ hoặc lĩnh vực công.
Từ mạng giá trị, Allee còn phát triển phân tích mạng giá trị, phát triển toàn bộ những sơ đồ và phương pháp phân tích để hiểu được việc tạo ra giá trị hữu hình và vô hình giữa các thành viên trong một hệ thống doanh nghiệp. Việc khám phá ra mô hình mạng ẩn đằng sau mô hình kinh Luan van 14 doanh có thể đưa ra những dự đoán khi xuất hiện rủi ro. Allee tin rằng phân tích mạng giá trị cung cấp tiêu chuẩn để xác định, hoạ đồ và phân tích những đối tượng tham gia, những giao dịch và những sản phẩm hữu hình và vô hình được tạo ra từ mạng giá trị, từ đó có thể đưa ra những hành động đúng đắn để giải quyết các tình huống trở ngại. Sơ đồ trao đổi giá trị trong mạng giá trị theo Verna Allee Trong đó: - Role là các nút mạng tham gia vào mạng giá trị như khách hàng, tiếp thị, thiết kế, xử lý khiếu nại.
- Tangible deliverables là các giá trị trao đổi hữu hình thông thường, được thể hiện rõ ràng, có thể nhận ra các hợp đồng, phí, hoá đơn, các sản phẩm, dịch vụ. Luan van 15 - Intangible deliverables là các giá trị trao đổi vô hình, không chính thức, không rõ ràng. Những trao đổi vô hình này góp phần cho các hoạt động trong mạng trôi chảy, đồng thời tạo dựng các mối quan hệ trong mạng như phản hồi của khách hàng, tư vấn, trao đổi kiến thức, chính sách, chiến lược, bí quyết. Nguyên lý tạo ra giá trị của mạng giá trị Nền kinh tế hiện đại hoá hiện nay, đặc biệt là trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ, được mô phỏng bằng một tập hợp phức tạp bao gồm các mối quan hệ hiện hữu và tiềm ẩn, giữa các cá nhân và các tổ chức.