Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Khái niệm về làng nghề Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau” (Bộ NN&PTNT, 2016). Từ đó khái niệm làng nghề có thể bao gồm các nội dung: Làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn được cấu thành bởi 2 yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội, văn hóa”.
Theo Lê Quốc Doanh và cs (2003), cho rằng “Làng nghề là tập hợp các nhóm hộ nông dân sống ở một làng tham gia sản xuất một loại ngành nghề điển hình và có vai trò quan trọng đối với thu nhập, đời sống của cộng đồng”. Tác giả Trần Minh Yến (2004), cho rằng “LN là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa” Trần Quốc Vượng (2012), cho rằng “Làng nghề là làng ấy tuy vẫn trồng trọt, chăn nuôi và nhiều nghề phụ… song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo, với một lớp thợ thủ công ít nhiều chuyên nghiệp, có phường, có ông trùm, phó cả… với một cơ cấu tổ chức nào đó, chuyên tâm và có thể sống chủ yếu bằng nghề đó, và mặt hàng thủ công của họ đã là sản phẩm hàng hóa, có quan hệ tiếp thị với một thị trường,… Những làng ấy ít nhiều đã nổi danh từ lâu dân biết mặt, nước biết tên, tên tuổi đã đi vào ca dao tục ngữ, truyền thống dân gian… trở thành di sản văn hóa dân gian”. Một số quan điểm lại cho rằng, làng nghề phải là nghề thủ công và tách biệt khỏi nông nghiệp như: Đinh Xuân Nghiêm và cs (2010), cho rằng “Làng nghề là một thiết chế kinh tế xã hội, một cụm hoặc nhiều cụm dân cư sinh sống trong một thôn (làng), có một Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 hay một số nghề được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh độc lập và tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, thu nhập từ các nghề chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm của toàn làng”. Trịnh Kim Liên (2013), đưa ra khái niệm “Làng nghề là những làng ở nông thôn có các nghề không phải là nông nghiệp mà chúng chiếm ưu thế về số lượng, số lao động và tỷ trọng thu nhập so với nghề nông”.
Như vậy: Làng nghề là mô hình sản xuất truyền thống, gắn liền với lịch sử phát triển kinh tế, xã hội của nước ta. Làng nghề đóng vai trò tích cực đến phát triển kinh tế và xã hội của nhiều địa phương, đặc biệt là khu vực nông thôn ở nước ta. Vì vậy, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu về làng nghề và đưa ra nhiều khái niệm về làng nghề. Các khái niệm làng nghề này nhìn chung có nhiều điểm tương đồng với nhau và được tóm tắt như sau: Quan niệm thứ nhất: Làng nghề là làng tuy vẫn trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhỏ, cũng có một số nghề phụ khác, song đã nổi trội một số nghề cổ truyền tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường, có ông trùm, có phó cả.
cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu được băng nghề đó và sản xuất ra các mặt hàng thủ công (Bùi Văn Vượng, 2004). Quan niệm này đúng với làng nghề truyền thống, song đối với làng nghề nói chung lại còn bất cập bởi đối với những làng nghề mới hoạt động, yêu cầu nổi trội nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp,. là điều khó thực hiện. Quan niệm thứ hai: Một số nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm làng nghề kèm theo tiêu chí cụ thể về lao động và thu nhập.
Ví dụ như: “Làng nghề là những làng đã từng có từ 50 hộ hoặc từ 1/3 tổng số hộ hay lao động của địa phương trở lên làm nghề chiếm phần chủ yếu trong tổng thu nhập của họ trong năm” (Mai Thế Hởn, 2010), hay trong Dự thảo Nghị định của Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn được Bộ NN &PTNT đệ trình tháng 5-2005 thì: “Làng nghề là thôn, ấp, bản có trên 35% số hộ hoặc lao động tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn và thu nhập từ ngành nghề nông thôn chiếm trên 50% tổng thu nhập của làng”,. Các định nghĩa này đã khắc phục nhược điểm của quan Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 niệm thứ nhất, quan tâm đến phải có tỷ lệ người làm nghề và thu nhập từ ngành nghề, nhưng lại cố định tiêu chí xác định làng nghề và việc cố định những tiêu chí trong khái niệm sẽ làm cho các nhà hoạch định chính sách khó xử lý khi chế độ ưu đãi đối với làng nghề thay đổi thì phải chăng khái niệm cũng thay đổi. Quan niệm thứ ba: “Làng nghề là làng ở nông thôn có một (hay một số) nghề thủ công tách hẳn khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập”. Quan niệm này đã nêu lên được hai yếu tố cơ bản cấu thành của làng nghề là “làng” và “nghề”, nêu lên được vấn đề nghề trong làng tách ra khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập nên phù hợp với điều kiện mới hơn, tránh được hạn chế của quan niệm thứ hai, song vẫn mắc phải hạn chế của quan niệm thứ nhất.
Như vậy, làng nghề muốn được công nhận phải đạt 03 tiêu chí sau: - Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn. - Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 02 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận. - Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước. Khái niệm về phát triển làng nghề Trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề phát triển nghề và làng nghề.
Các chủ trương về phát triển nghề, làng nghề được đề cập cụ thể tại các Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, đại hội lần thứ VII: “Trên cơ sở xúc tiến công nghiệp nói chung, công nghiệp hoá nông thôn nói riêng mà chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng phát triển mạnh, vững chắc, có hiệu quả công nghiệp - dịch vụ ở nông thôn, tăng nhanh tỷ trọng những ngành này trong cơ cấu kinh tế. Phát triển đa dạng công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản với quy mô vừa và nhỏ là chủ yếu, khôi phục phát triển các làng nghề truyền thống…” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1993). “ Phát triển ngành nghề, làng nghề truyền thống và các ngành nghề mới, bao gồm tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, công nghiệp khai thác, chế biến nông lâm thuỷ sản, các loại hình dịch vụ phục vụ đời sống nhân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 dân… Từng bước xây dựng, giữ gìn, phát huy nền văn hoá Việt nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong thời đại mới ” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1996). Cho đến Đại hội IX, Đại hội X của Đảng, Đảng ta khẳng định: "Tạo điều kiện thuận lợi hơn để nông dân chuyển sang làm nghề ngoài nông nghiệp và dịch vụ… phát triển mạnh các loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa; phát triển bền vững các làng nghề.
Tạo mọi thuận lợi cho kinh tế hộ phát triển ". Khôi phục và phát triển làng nghề được Đảng và Nhà nước quan tâm và khẳng định trong các kỳ đại hội của Đảng là vì sự phát triển làng nghề có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội nông thôn, có vai trò hình thành các khu đô thị ở nông thôn và làm chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn.1 Điều kiện tồn tại và phát triển làng nghề - Thuận tiện cho việc giao thương: đây là yếu tố quan trọng để một làng nghề có thể phát triển vì gần đường giao thông sẽ thuận lợi cho việc vận chuyển, thông thương giữa làng nghề và các vùng khác. - Gần nguồn nguyên liệu để có thể liên tục phát triển sản xuất. - Lao động và tập quán sản xuất của từng vùng.2 Vai trò của làng nghề và phát triển làng nghề Vai trò của phát triển làng nghề được thể hiện ở các mặt sau: a) Góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động ở nông thôn Thực tế ở nước ta cho thấy hiện nay lao động nông nghiệp chiếm tới gần 60% lao động xã hội, trong khi diện tích đất canh tác ngày càng thu hẹp, thời gian lao động dư thừa trong nông thôn còn khoảng 1/3 chưa sử dụng nên tình trạng thất nghiệp càng có nguy cơ gia tăng.
Trong khi đó kinh tế nông nghiệp vẫn lạc hậu là chủ yếu, năng suất lao động thấp, nên bản thân sản xuất nông nghiệp không có khả năng giải quyết lao động dư thừa trong nông thôn hiện nay. Sự phát triển của các làng nghề không những chỉ thu hút lao động ở gia đình mình, làng xã mình mà còn thu hút được nhiều lao động từ các địa phương khác đến. Phát triển sản xuất ngoài tăng thu nhập cho chính hộ gia đình còn tăng thêm thu nhập quốc dân, tăng thu ngân sách cho địa phương bằng việc đóng thuế, giải quyết việc làm, du lịch làng nghề. b)Tạo điều kiện thu hút vốn, tận dụng thời gian và lực lượng lao động Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Các làng nghề không đòi hỏi vốn đầu tư quá lớn, nhiều nghề chỉ cần công cụ thủ công, thô sơ người thợ trong làng có thể tự chế tạo được.