Tổng quan nghiên cứu

Cây chè giữ vai trò trụ cột trong chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn của tỉnh Phú Thọ. Tính đến năm 2015, tổng diện tích chè toàn tỉnh đạt 16,4 ngàn ha, trong đó diện tích cho thu hoạch sản phẩm là 14,8 ngàn ha với năng suất bình quân đạt 103,4 tạ/ha. Với quy mô này, Phú Thọ đứng thứ 4 cả nước về diện tích và thứ 3 về sản lượng chè búp tươi. Toàn tỉnh đã hình thành 14 làng nghề sản xuất, chế biến chè cùng hơn 1.200 cơ sở thủ công quy mô nhỏ lẻ và 56 doanh nghiệp chế biến công nghiệp.

Dù sở hữu tiềm năng vùng nguyên liệu rộng lớn, ngành chè Phú Thọ đang đối mặt nghịch lý lớn: khối lượng sản phẩm sản xuất ra hàng năm rất cao nhưng giá trị thương phẩm lại rất thấp. Đơn giá xuất khẩu bình quân của chè địa phương chỉ bằng khoảng 70% so với mức giá trung bình của thị trường thế giới. Nguyên nhân cốt lõi là nông dân chủ yếu bán chè búp tươi hoặc sơ chế thô, các khâu chế biến sâu, đóng gói bảo quản và xây dựng thương hiệu chưa được đầu tư bài bản, dẫn đến sự phụ thuộc lớn vào tư thương thu mua trôi nổi.

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn tập trung đánh giá toàn diện thực trạng chuỗi giá trị và xác định các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị sản phẩm chè chế biến tại các làng nghề trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất hệ thống giải pháp kinh tế và kỹ thuật đồng bộ nhằm nâng cao giá trị gia tăng từ 20% đến 35% cho các sản phẩm chè làng nghề.

Phạm vi nghiên cứu không gian tập trung tại 3 làng nghề chè tiêu biểu đại diện cho các tiểu vùng sinh thái của tỉnh: làng nghề Mai Thịnh (huyện Thanh Sơn), làng nghề Đá Hen (huyện Cẩm Khê) và làng nghề Phú Thịnh (thị xã Phú Thọ). Về thời gian, luận văn sử dụng dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2014 - 2016 và khảo sát sơ cấp chuyên sâu trong năm 2016, đề tài hoàn thành năm 2017. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc hiện thực hóa Kế hoạch 5024/KH-UBND và Kế hoạch 5025/KH-UBND của UBND tỉnh Phú Thọ, góp phần nâng cao thu nhập cho hơn 10.000 lao động làng nghề từ mức bình quân 1,5 - 2,0 triệu đồng/tháng lên trên 3,5 triệu đồng/tháng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết chuỗi giá trị của Michael Porter (năm 1985) kết hợp với mô hình mở rộng chuỗi giá trị nông nghiệp của Kaplinsky và Morris (năm 2006). Khung lý thuyết này phân rã hoạt động sản xuất kinh doanh thành 5 nhóm hoạt động chính (cung ứng đầu vào, sản xuất chế biến, logistics phân phối, tiếp thị bán hàng, dịch vụ hỗ trợ) và 4 nhóm hoạt động bổ trợ (quản trị, nhân lực, công nghệ, thu mua) nhằm xác định chính xác các điểm tạo ra giá trị thặng dư.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp lý thuyết quản trị chuỗi cung ứng của Lambert và Cooper (năm 2000) để đánh giá mối quan hệ tương tác giữa 3 tác nhân trực tiếp: hộ trồng chè, cơ sở chế biến làng nghề và thương nhân tiêu thụ. Khung lý thuyết về kinh tế làng nghề truyền thống được xây dựng dựa trên tiêu chuẩn Thông tư 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, quy định làng nghề phải đạt tối thiểu 30% số hộ tham gia sản xuất ngành nghề phi nông nghiệp và hoạt động ổn định từ 2 năm trở lên.

Bốn khái niệm then chốt được chuẩn hóa xuyên suốt đề tài gồm: Chè chế biến (chè xanh diệt men nhiệt và chè đen lên men oxy hóa), Chuỗi giá trị nông sản, Giá trị gia tăng trong nông nghiệp và Làng nghề chè truyền thống.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn kết hợp chặt chẽ giữa số liệu thứ cấp và sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2014 - 2016 được thu thập từ Niên giám thống kê tỉnh Phú Thọ, báo cáo tổng kết của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản, cùng các đề án phát triển ngành chè tại các huyện Thanh Sơn, Cẩm Khê và thị xã Phú Thọ.

Cỡ mẫu điều tra sơ cấp được xác định là 90 cơ sở sản xuất và chế biến chè tại 3 làng nghề nghiên cứu (30 mẫu tại làng nghề Mai Thịnh, 30 mẫu tại làng nghề Đá Hen và 30 mẫu tại làng nghề Phú Thịnh). Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên kết hợp với chọn mẫu có chủ đích. Cỡ mẫu 90 bảo đảm độ tin cậy thống kê 95% và phản ánh đầy đủ cơ cấu các nhóm quy mô sản xuất (dưới 50 kg búp tươi/ngày, từ 50 đến 150 kg búp tươi/ngày và trên 150 kg búp tươi/ngày).

Luận văn lựa chọn phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh định lượng và ma trận phân tích điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội - thách thức (SWOT). Lý do lựa chọn các phương pháp này là nhằm phản ánh chính xác cơ cấu chi phí, doanh thu và lợi nhuận trên từng kg chè khô, đồng thời so sánh tường minh hiệu quả tài chính giữa các nhóm hộ có liên kết và không liên kết. Timeline thực hiện toàn bộ quá trình nghiên cứu, điều tra thực địa và xử lý dữ liệu kéo dài từ tháng 5 năm 2016 đến tháng 5 năm 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, chủng loại giống nguyên liệu chè búp tươi quyết định trực tiếp tới 40% - 50% phẩm cấp và giá bán của sản phẩm chè khô. Các cơ sở sử dụng giống chè mới chất lượng cao như LDP1, LDP2, Kim Tuyên và Bát Tiên đạt giá bán chè thành phẩm từ 150.000 đến 220.000 đồng/kg, cao hơn từ 35% đến 48% so với các cơ sở sử dụng giống chè hạt trung du truyền thống (chỉ bán được từ 80.000 đến 110.000 đồng/kg). Tuy nhiên, tại 3 làng nghề khảo sát, diện tích giống chè cũ năng suất thấp vẫn chiếm tỷ trọng tới 62,5%.

Thứ hai, trang thiết bị và kỹ thuật chế biến tại các làng nghề còn rất lạc hậu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cảm quan của sản phẩm. Khoảng 78,3% số cơ sở vẫn sử dụng tôn quay sao chè thủ công đốt bằng củi, không kiểm soát được nhiệt độ chuẩn (thường dao động sai lệch 15 - 25 độ C so với mức nhiệt tối ưu 280 - 300 độ C). Tình trạng này khiến tỷ lệ búp chè bị cháy xém hoặc gãy vụn chiếm từ 18% đến 22% tổng khối lượng mỗi mẻ sao, làm giảm đáng kể giá trị thành phẩm.

Thứ ba, cấu trúc kênh phân phối bị chi phối nặng nề bởi tư thương trung gian và thiếu vắng hợp đồng tiêu thụ chính thức. Có đến 82,6% sản lượng chè chế biến của các cơ sở làng nghề được bán trực tiếp cho thương lái tự do ngay tại nhà, trong khi tỷ lệ tiêu thụ qua hợp đồng bao tiêu chỉ đạt 11,4%. Những cơ sở chủ động tham gia mô hình hợp tác xã hoặc tổ hợp tác đạt tỷ suất lợi nhuận trên chi phí bình quân là 28,4%, cao hơn 14,2% so với những hộ bán trôi nổi cho khâu trung gian.

Thảo luận kết quả

Thực trạng giá trị sản phẩm chè chế biến của Phú Thọ còn thấp xuất phát từ sự thiếu đồng bộ giữa quy trình canh tác và công nghệ chế biến. Do thói quen chạy theo sản lượng, nông dân thường thu hái chè quá lứa (1 tôm 4 - 5 lá thay vì tiêu chuẩn 1 tôm 2 - 3 lá), làm giảm lượng chất hòa tan và tanin có lợi từ 20% đến 30%. Bên cạnh đó, việc lạm dụng phân bón vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật khiến sản phẩm gặp khó khăn trong việc đáp ứng quy chuẩn an toàn thực phẩm QCVN 01-132:2013/BNNPTNT.

Khi so sánh với tỉnh Thái Nguyên - nơi có 140 làng nghề chè (chiếm 86,4% tổng số làng nghề toàn tỉnh) và 86,32% sản lượng chè xanh tiêu thụ nội địa đạt mức giá ổn định từ 200.000 đến 300.000 đồng/kg, có thể thấy các làng nghề Phú Thọ đang thua thiệt rõ rệt về khâu định vị thương hiệu và chứng nhận chất lượng. Tỷ lệ cơ sở chè làng nghề tại Phú Thọ được cấp chứng nhận VietGAP hoặc UTZ chỉ đạt dưới 15%, chưa tạo được niềm tin vững chắc cho người tiêu dùng tại các đô thị lớn.

Dữ liệu nghiên cứu thực nghiệm có thể được trình bày trực quan thông qua bảng đối chiếu cơ cấu chi phí - doanh thu giữa 3 làng nghề (Mai Thịnh, Đá Hen, Phú Thịnh) và biểu đồ phân bổ chuỗi giá trị. Kết quả mô hình hóa cho thấy chi phí nguyên liệu chiếm 65% - 70% tổng giá thành, chi phí củi đốt và nhân công chiếm 20% - 25%, trong khi chi phí cho bao bì, nhãn mác và quảng bá thương hiệu chỉ chiếm chưa đầy 3% tổng chi phí sản xuất của mỗi cơ sở.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuyển đổi cơ cấu giống và chuẩn hóa vùng nguyên liệu chè búp tươi an toàn. UBND các huyện Thanh Sơn, Cẩm Khê, thị xã Phú Thọ phối hợp cùng ngành nông nghiệp triển khai chính sách hỗ trợ 50% kinh phí cây giống mới (LDP1, Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên) cho các hộ làng nghề. Mục tiêu giai đoạn 2017 - 2020 là thay thế 40% diện tích chè hạt già cỗi bằng các giống chè chất lượng cao, đồng thời hướng dẫn 100% hộ dân tuân thủ quy trình canh tác an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP.

Thứ hai, hiện đại hóa công nghệ chế biến và nâng cao chất lượng cảm quan sản phẩm. Các cơ sở chế biến cần tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi theo Nghị định 55/2015/NĐ-CP với mức hỗ trợ lãi suất từ 2% đến 3%/năm để đầu tư máy diệt men dùng gas hoặc điện và máy vò chè đôi tự động. Giải pháp này giúp kiểm soát chính xác nhiệt độ chế biến ở mức 280 - 300 độ C, giảm tỷ lệ chè gãy vụn xuống dưới 8% và nâng tỷ lệ thu hồi sản phẩm loại 1 lên trên 85%.

Thứ ba, đổi mới tổ chức sản xuất thông qua việc thành lập các Hợp tác xã kiểu mới tại làng nghề. Liên minh Hợp tác xã tỉnh Phú Thọ cần đóng vai trò nòng cốt trong việc thành lập 3 Hợp tác xã chuyên ngành chế biến chè tại các làng nghề Mai Thịnh, Đá Hen và Phú Thịnh trong giai đoạn 2017 - 2019. Mô hình Hợp tác xã sẽ đứng ra quản lý nhãn hiệu tập thể, kiểm soát chất lượng nội bộ và đại diện ký kết hợp đồng tiêu thụ lớn, giúp nâng giá bán xuất xưởng tăng thêm từ 25% đến 30%.

Thứ tư, đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại và xây dựng thương hiệu chè làng nghề. Sở Công Thương và Trung tâm Xúc tiến thương mại tỉnh cần hỗ trợ các làng nghề thiết kế bao bì hút chân không đạt chuẩn, in mã QR truy xuất nguồn gốc và xây dựng website giới thiệu sản phẩm. Phấn đấu đến năm 2020, tỷ trọng sản phẩm tiêu thụ trực tiếp qua các chuỗi siêu thị, sàn giao dịch nông sản và cửa hàng tiện lợi đạt tối thiểu 45%, giảm bớt 2 cấp trung gian thu mua tự do.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan tham mưu chính sách nông nghiệp tại tỉnh Phú Thọ và các tỉnh trung du miền núi phía Bắc (như Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Liên minh Hợp tác xã tỉnh, Phòng Nông nghiệp cấp huyện). Luận văn cung cấp căn cứ thực chứng để hoạch định các chính sách hỗ trợ phát triển 14 làng nghề chè, xây dựng kế hoạch phân bổ nguồn vốn khuyến công và chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) giai đoạn 2018 - 2025.

Nhóm thứ hai là Ban quản lý các làng nghề và Ban giám đốc các Hợp tác xã sản xuất chè. Tài liệu này cung cấp hướng dẫn thực hành chi tiết về việc xây dựng quy chế quản lý nội bộ làng nghề, phương pháp kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật theo chuẩn QCVN 01-132:2013/BNNPTNT và giải pháp giảm thiểu 15% hao hụt nguyên liệu trong khâu sao sấy.

Nhóm thứ ba là các chủ hộ gia đình, chủ cơ sở chế biến chè cá thể tại các làng nghề truyền thống. Thông qua các phân tích tài chính cụ thể, người sản xuất nhận thức rõ lợi ích kinh tế khi chuyển từ bán búp tươi sang chế biến chè xanh chất lượng cao, giúp gia tăng tỷ suất lợi nhuận ròng từ 14% đến 20% trên mỗi ha chè canh tác.

Nhóm thứ tư là giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Quản trị chuỗi cung ứng và Phát triển nông thôn. Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật giá trị về phương pháp luận nghiên cứu chuỗi giá trị nông sản, cung cấp bộ số liệu khảo sát thực địa 90 cơ sở sản xuất làm nền tảng cho các công trình nghiên cứu mở rộng tiếp theo.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Tại sao giá bán chè chế biến tại các làng nghề Phú Thọ lại thấp hơn khoảng 30% so với chè Thái Nguyên? Trả lời: Nguyên nhân chủ yếu do 62,5% diện tích chè Phú Thọ thời điểm khảo sát vẫn là giống cũ năng suất thấp, quy trình thu hái chưa đảm bảo chuẩn 1 tôm 2 lá non và hơn 78% cơ sở chế biến dùng nhiệt củi thủ công không đều. Trong khi đó, Thái Nguyên đã chuẩn hóa 140 làng nghề với 86,32% sản lượng tiêu thụ nội địa ở phân khúc chè đặc sản có bao bì và thương hiệu rõ ràng.

Câu hỏi 2: Công đoạn kỹ thuật nào quyết định trực tiếp nhất đến màu nước và hương vị của chè xanh? Trả lời: Công đoạn diệt men (sao tươi) ở nhiệt độ 280 - 300 độ C trong thời gian 3 - 5 phút giữ vai trò quyết định. Nhiệt độ cao giúp đình chỉ hoàn toàn hoạt tính của enzym polyphenol oxidase, giữ lại tối đa hàm lượng polyphenol và diệp lục tự nhiên, giúp nước chè giữ được màu xanh vàng trong sáng và vị chát dịu có hậu ngọt đặc trưng.

Câu hỏi 3: Mô hình liên kết nào mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho các hộ làm chè làng nghề? Trả lời: Mô hình Hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới gắn với liên kết 4 nhà (Nhà nước - Nhà khoa học - Doanh nghiệp - Nhà nông) là tối ưu nhất. Số liệu thực nghiệm chứng minh các hộ tham gia hợp tác xã đạt tỷ suất lợi nhuận 28,4%, cao gấp đôi so với mức 14,2% của các hộ sản xuất đơn lẻ phụ thuộc vào tư thương thu mua trôi nổi.

Câu hỏi 4: Các cơ sở chế biến chè nhỏ lẻ có thể tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi bằng cách nào? Trả lời: Các hộ cần tham gia tổ hợp tác hoặc Hợp tác xã làng nghề để được bảo lãnh tín chấp theo quy định tại Nghị định 55/2015/NĐ-CP của Chính phủ. Cơ chế này cho phép các chủ cơ sở vay từ 50 triệu đến 200 triệu đồng với lãi suất ưu đãi nông nghiệp nông thôn phục vụ đầu tư máy móc chế biến mà không bắt buộc phải thế chấp toàn bộ tài sản nhà xưởng.

Câu hỏi 5: Việc thực hiện tiêu chuẩn VietGAP mang lại giá trị gia tăng cụ thể ra sao cho sản phẩm chè? Trả lời: Canh tác theo tiêu chuẩn VietGAP đảm bảo kiểm soát chặt chẽ dư lượng hóa chất và thời gian cách ly thuốc bảo vệ thực vật theo QCVN 01-132:2013/BNNPTNT. Sản phẩm chè đạt chứng nhận an toàn có thể tiếp cận trực tiếp các chuỗi bán lẻ hiện đại, giúp giá bán thành phẩm tăng từ 1,5 đến 2,0 lần so với chè sản xuất theo tập quán truyền thống.

Kết luận

  • Luận văn khẳng định vai trò trụ cột của cây chè trên 16,4 ngàn ha đất nông nghiệp tỉnh Phú Thọ trong việc tạo sinh kế bền vững cho hơn 10.000 lao động tại 14 làng nghề truyền thống.
  • Nghiên cứu chỉ rõ điểm nghẽn lớn nhất của ngành chè địa phương là 78,3% cơ sở dùng công nghệ sao củi thủ công và 82,6% sản lượng phụ thuộc hoàn toàn vào tư thương trung gian.
  • Dữ liệu thực nghiệm chứng minh việc chuyển đổi sang giống chè mới chất lượng cao và tham gia chuỗi liên kết Hợp tác xã giúp nâng tỷ suất lợi nhuận từ 14,2% lên 28,4%.
  • Đề tài đã đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ: chuẩn hóa vùng nguyên liệu VietGAP, hiện đại hóa thiết bị diệt men, thành lập 3 Hợp tác xã nòng cốt và đẩy mạnh thương mại điện tử.
  • Lộ trình thực hiện giai đoạn 2017 - 2020 mở ra định hướng đưa tỷ trọng chè chế biến chất lượng cao đạt trên 45% tổng sản lượng, nâng giá bán chè xuất xưởng tăng từ 25% đến 30%.

Đóng góp khoa học và thực tiễn cốt lõi của luận văn là cung cấp khung phân tích định lượng chuỗi giá trị và bộ giải pháp đồng bộ giúp tháo gỡ điểm nghẽn cho ngành chè Phú Thọ. Các nhà quản lý, lãnh đạo địa phương và các cơ sở sản xuất hãy áp dụng ngay mô hình chuỗi liên kết giá trị để nâng cao vị thế và uy tín thương hiệu chè Phú Thọ trên thị trường nông sản trong nước và quốc tế.