Tổng quan luận án

Công trình "Nghiên cứu một số bài tập phát triển kỹ năng vận động cơ bản cho trẻ 3 – 6 tuổi tại các trường mầm non khu vực TP. Hồ Chí Minh" là luận án tiến sĩ thuộc ngành Giáo dục học (mã số: 9140101), do nghiên cứu sinh Lê Hải thực hiện tại Trường Đại học Thể dục Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh năm 2022, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trịnh Hữu Lộc và TS. Nguyễn Văn Hùng.

Về tính cấp thiết, giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện của trẻ em. Theo Chương trình Giáo dục mầm non do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, việc rèn luyện tư thế và hình thành kỹ năng vận động cơ bản (KNVĐCB) là nội dung cốt lõi của lĩnh vực giáo dục phát triển vận động (PTVĐ). Tuy nhiên, tác giả chỉ ra thực trạng tại các trường mầm non khu vực TP. Hồ Chí Minh: việc tổ chức bài tập phát triển KNVĐCB còn mang tính rập khuôn theo chương trình khung, thiếu tính sáng tạo, phương pháp dạy học nặng về truyền thụ một chiều mà chưa lấy trẻ làm trung tâm, chưa phát huy năng lực vận động cá nhân. Đa số giáo viên mầm non còn hạn chế về kiến thức chuyên môn giáo dục thể chất, chưa xác định rõ năng lực vận động theo lứa tuổi và chưa khai thác đặc thù kinh tế - xã hội, không gian của từng địa bàn (nội thành và ngoại thành).

Về khoảng trống nghiên cứu, các công trình trước đây tại Việt Nam chủ yếu đề cập chung đến công tác giáo dục thể chất hoặc phát triển thể lực, thiếu vắng các nghiên cứu sâu về hệ thống bài tập chuyên biệt phát triển KNVĐCB kèm theo bộ công cụ test chuẩn hóa có kiểm định toán học phù hợp cho trẻ mẫu giáo từ 3 đến 6 tuổi tại địa bàn TP. Hồ Chí Minh.

Mục đích nghiên cứu của luận án là thông qua đánh giá thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục PTVĐ và mức độ phát triển KNVĐCB của trẻ mẫu giáo để xây dựng hệ thống bài tập giúp phát triển KNVĐCB cho trẻ 3 – 6 tuổi tại các trường mầm non ở TP. Hồ Chí Minh.

Luận án xác định 03 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Mục tiêu 1: Nghiên cứu xây dựng các test đánh giá KNVĐCB cho trẻ 3 – 6 tuổi tại TP. Hồ Chí Minh.
  2. Mục tiêu 2: Đánh giá thực trạng công tác giáo dục phát triển KNVĐCB của trẻ 3 – 6 tuổi tại các trường mầm non khu vực TP. Hồ Chí Minh.
  3. Mục tiêu 3: Nghiên cứu ứng dụng một số bài tập phát triển KNVĐCB cho trẻ 3 – 6 tuổi tại các trường mầm non khu vực TP. Hồ Chí Minh.

Giả thuyết khoa học của luận án: Nếu xây dựng được hệ thống bài tập phát triển KNVĐCB đa dạng về nội dung và hình thức luyện tập, phù hợp với năng lực vận động của trẻ, đảm bảo tính khoa học, phát huy tính tích cực vận động và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của TP. Hồ Chí Minh thì sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục PTVĐ cho trẻ mẫu giáo tại các trường mầm non trên địa bàn.

  • Đối tượng nghiên cứu: Một số bài tập phát triển KNVĐCB cho trẻ 3 – 6 tuổi tại các trường mầm non khu vực TP. Hồ Chí Minh.
  • Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục PTVĐ; trẻ em mẫu giáo 3 – 6 tuổi (chia làm 3 nhóm tuổi: mẫu giáo bé 3 – 4 tuổi, mẫu giáo nhỡ 4 – 5 tuổi, mẫu giáo lớn 5 – 6 tuổi); cán bộ quản lý (CBQL) và giáo viên mầm non (GVMN).
  • Phạm vi nghiên cứu: Các trường mầm non công lập và ngoài công lập tại khu vực nội thành và ngoại thành TP. Hồ Chí Minh, thực hiện trên trẻ từ 3 đến 6 tuổi.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại hệ thống quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và các cơ sở pháp lý về giáo dục mầm non và giáo dục thể chất:

  • Điều 22 Luật Giáo dục năm 2005 và Điều 23 Luật Giáo dục năm 2019 xác định mục tiêu giáo dục mầm non nhằm phát triển toàn diện trẻ em về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, chuẩn bị cho trẻ vào lớp một.
  • Sắc lệnh số 33 ngày 27/3/1946 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký thành lập Nha Thanh niên và Thể dục thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục cùng bài viết "Sức khoẻ và Thể dục".
  • Nghị quyết số 14-NQ/TW ngày 11/01/1979 của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục nhấn mạnh nhiệm vụ chăm sóc, giáo dục trẻ từ sơ sinh đến 6 tuổi.
  • Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX, X, XI của Đảng về công tác thể dục thể thao; Chương trình Giáo dục Mầm non ban hành kèm Thông tư 17/2009/TT-BGDĐT, sửa đổi bổ sung tại Thông tư 28/2016/TT-BGDĐT và Thông tư 51/2020/TT-BGDĐT; Kế hoạch triển khai chuyên đề "Nâng cao chất lượng giáo dục PTVĐ cho trẻ trong trường mầm non, giai đoạn 2013 - 2016" (Công văn 808/BGDĐT-GDMN).

Về kinh nghiệm giáo dục mầm non quốc tế, tác giả phân tích mô hình giáo dục tại một số quốc gia:

  • Chương trình giáo dục mầm non tại Anh với mô hình vừa chơi vừa học qua 6 lĩnh vực (giao tiếp và ngôn ngữ, phát triển thể chất, phát triển cá nhân xã hội và cảm xúc, toán học, hiểu về thế giới, nghệ thuật thể hiện và thiết kế).
  • Mô hình tại Nhật Bản chú trọng kỷ luật, khả năng làm việc nhóm và cá thể hóa.
  • Mô hình giáo dục sớm và dạy học tích hợp tại Canada.
  • Mô hình tích hợp hướng đến sự tự tin và khỏe mạnh tại New Zealand; triết lý phát triển hài hòa thể chất, tinh thần tại Hàn Quốc.

Về lý luận tâm vận động và giáo dục thể chất, luận án kế thừa các công trình nghiên cứu:

  • Lý thuyết tâm vận động: Nguyễn Khắc Viện khẳng định mối liên hệ chặt chẽ giữa sự phát triển thần kinh, vận động và trí khôn; I. M. Xêtsênốp tiếp cận tâm vận động là sự thống nhất giữa ý thức, quá trình tâm lý (tri giác, tư duy, cảm giác, ý chí) với hoạt động vận động; Kichyakovskaya chứng minh vai trò điều chỉnh của vỏ não đối với cấu trúc vận động và phản xạ trong những năm đầu đời.
  • Lý luận bài tập thể chất mầm non: Đồng Văn Triệu (2000) xác định bài tập thể chất là phương tiện cơ bản hình thành kĩ năng, kĩ xảo vận động cần thiết (đi, chạy, nhảy, ném, bắt...); Trịnh Trung Hiếu (2001) định nghĩa bài tập vận động là hoạt động vận động đặc biệt được cấu thành bởi nhiều động tác lặp lại; Đặng Hồng Phương (2018) phân tích cấu trúc hai yếu tố của bài tập vận động (nội dung và hình thức) và hệ thống mục tiêu KNVĐCB theo từng độ tuổi.
  • Dữ liệu phát triển thể lực: Tác giả điểm lại số liệu phát triển chiều cao của trẻ em Việt Nam 4 – 6 tuổi qua nghiên cứu năm 1995 – 1996 và 2002.

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết là xây dựng hệ thống bài tập phát triển KNVĐCB có chọn lọc, phối hợp chặt chẽ với hệ thống test kiểm tra sư phạm được chuẩn hóa qua các công cụ toán thống kê, áp dụng đồng bộ cho trẻ mẫu giáo 3 – 6 tuổi tại cả hai khu vực nội thành và ngoại thành TP. Hồ Chí Minh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên các khái niệm và khung lý thuyết:

  • Giáo dục mầm non và quan điểm tích hợp: Giáo dục tích hợp theo chủ đề và tích hợp theo hoạt động, lấy trẻ làm trung tâm, thực hiện phương châm "chơi mà học, học bằng chơi".
  • Giáo dục thể chất cho trẻ mầm non: Quá trình sư phạm hướng dẫn động tác nhằm hoàn thiện hình thể, chức năng sinh học và tố chất thể lực; bao gồm 3 nhiệm vụ: bảo vệ sức khỏe, giáo dưỡng, giáo dục.
  • Vận động cơ bản và biểu tượng vận động: Vận động thô (thực hiện bởi các nhóm cơ lớn: đi, chạy, bò...) và vận động tinh (thực hiện bởi nhóm cơ nhỏ, ngón tay). Kỹ năng vận động cơ bản là khả năng thực hiện hành động dựa trên sự hiểu biết, kinh nghiệm và sự điều khiển của ý thức. Kỹ xảo vận động là kỹ năng được tự động hóa có ý thức qua quá trình lặp lại.
  • Ba giai đoạn hình thành KNVĐCB: Giai đoạn hình thành biểu tượng vận động ban đầu (dạy học ban đầu); Giai đoạn hình thành kỹ năng (học sâu); Giai đoạn hoàn thiện kỹ năng (hình thành kỹ xảo).
  • Khái niệm bài tập phát triển KNVĐCB do luận án đưa ra: "Bài tập phát triển KNVĐCB là hệ thống những động tác có chọn lọc và hình thức thực hiện động tác đó nhằm hình thành và hoàn thiện KNVĐCB phù hợp với năng lực vận động cá nhân của trẻ."

Luận án sử dụng 05 phương pháp nghiên cứu:

  1. Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu: Nghiên cứu các chỉ thị, nghị quyết, thông tư của ngành giáo dục, các tài liệu giáo trình và công trình chuyên môn về giáo dục thể chất, tâm lý học và sinh lý học vận động lứa tuổi mầm non.
  2. Phương pháp phỏng vấn gián tiếp bằng phiếu hỏi anket: Sử dụng phiếu hỏi nhằm thu thập ý kiến của cán bộ quản lý và giáo viên mầm non với các cỡ mẫu: khảo sát nhu cầu test (n = 210); khảo sát tiêu chí test (n = 210); phỏng vấn lựa chọn test đánh giá KNVĐCB (n = 495); khảo sát thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục KNVĐCB và các yếu tố ảnh hưởng (n = 436); khảo sát tiêu chí và lựa chọn bài tập vận động (n = 121).
  3. Phương pháp kiểm tra sư phạm: Sử dụng các bài test vận động để đo lường năng lực và KNVĐCB của trẻ mẫu giáo ở từng độ tuổi.
  4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm có đối chứng, so sánh kết quả giữa nhóm thực nghiệm (TN) và nhóm đối chứng (ĐC) tại các trường mầm non khu vực nội thành và ngoại thành TP. Hồ Chí Minh với quy mô mẫu n = 50 trẻ cho mỗi nhóm theo từng độ tuổi và khu vực.
  5. Phương pháp toán thống kê: Sử dụng phần mềm thống kê để xử lý dữ liệu: tính giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, hệ số biến thiên; kiểm định độ tin cậy của test; kiểm định tính phù hợp nhân tố KMO và kiểm định Bartlett (KMO and Bartlett’s Test); phân tích nhân tố khám phá xoay ma trận (Rotated Component Matrix); kiểm định tính phân phối chuẩn; kiểm định t-Student so sánh trung bình giữa nhóm TN và ĐC; tính nhịp tăng trưởng vận động và lập tiêu chuẩn đánh giá xếp loại tổng hợp.

Nguồn dữ liệu/tư liệu bao gồm: văn bản quản lý nhà nước về giáo dục mầm non; phiếu anket thu thập từ 495 cán bộ quản lý, giáo viên mầm non tại TP. Hồ Chí Minh; dữ liệu đo lường sư phạm thực tế trên trẻ mẫu giáo 3 – 6 tuổi trước và sau thực nghiệm.

Nội dung chính theo từng chương

Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài:

  • Quan điểm của Đảng, Nhà nước và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật định hướng giáo dục thể chất trong trường mầm non.
  • Đặc điểm phát triển tâm vận động: Quá trình phát triển tâm lý gắn chặt với hoạt động vận động; ở lứa tuổi 3 – 6 tuổi, tư duy trực quan hành động và trực quan hình ảnh giữ vai trò chủ đạo, trẻ bắt đầu phát triển chú ý có ý thức và hứng thú thi đua vận động.
  • Đặc điểm phát triển sinh lý vận động:
    • Tăng trưởng cân nặng: Trẻ mẫu giáo tăng trung bình 0,98 – 1,69 kg/năm. Trẻ 6 tuổi có cân nặng trung bình gấp 1,9 lần so với lúc 1 tuổi và gấp 5,5 lần so với lúc mới sinh.
    • Tăng trưởng chiều cao: Tốc độ tăng trưởng chậm dần theo tuổi, trung bình ở trẻ 5 – 6 tuổi tăng từ 5 – 7 cm/năm. Luận án dẫn dữ liệu so sánh chiều cao trẻ em Việt Nam 4 – 6 tuổi giữa giai đoạn 1995 – 1996 và năm 2002:
Nhóm tuổi Chiều cao trẻ trai 1995 - 1996 (cm) Chiều cao trẻ trai 4/2002 (cm) Chiều cao trẻ gái 1995 - 1996 (cm) Chiều cao trẻ gái 4/2002 (cm)
4 tuổi 95,81 ± 3,61 96,45 ± 5,07 95,05 ± 3,52 95,30 ± 4,15
5 tuổi 101,87 ± 3,63 103,00 ± 6,12 101,61 ± 3,64 101,60 ± 5,19
6 tuổi 107,16 ± 3,99 107,50 ± 5,32 106,36 ± 3,91 107,60 ± 5,38
  • Hệ cơ quan: Hệ thần kinh có quá trình hưng phấn chiếm ưu thế hơn ức chế; hệ xương chưa cốt hóa hoàn toàn, chứa nhiều sụn và nước, dễ bị cong vẹo; hệ cơ có sợi mảnh, sức mạnh yếu và nhanh mệt mỏi; hệ tuần hoàn có cơ tim co bóp yếu, mạch đập nhanh từ 92 – 96 lần/phút; đường hô hấp hẹp, thông khí phổi chưa ổn định, thở nông.
  • Đặc điểm KNVĐCB theo 3 lứa tuổi: Trẻ 3 – 4 tuổi (mẫu giáo bé) vận động đi còn dao động, chạy chưa nâng cao đùi, bật nhảy chưa phối hợp tay chân; Trẻ 4 – 5 tuổi (mẫu giáo nhỡ) hình thành kỹ năng mới nhưng chưa bền vững, bật nhảy hai chân đã rời đất cùng lúc; Trẻ 5 – 6 tuổi (mẫu giáo lớn) cơ thể cân đối hơn, bước chạy ổn định, định hướng không gian và ném đích chính xác hơn.
  • Phân loại bài tập phát triển KNVĐCB gồm 4 nhóm: Bài tập đội hình đội ngũ; Bài tập phát triển chung (hô hấp, cơ tay, thân mình, chân); Bài tập vận động cơ bản (nhóm đi, chạy, thăng bằng; nhóm bò, trườn, leo trèo; nhóm nhảy - bật; nhóm ném, chuyền, bắt); Trò chơi vận động.
  • Hình thức tổ chức: Tiết thể dục (hoạt động học có chủ đích, thời lượng 15 – 20 phút cho trẻ 3 – 4 tuổi, 20 – 25 phút cho trẻ 4 – 5 tuổi, 25 – 30 phút cho trẻ 5 – 6 tuổi; cấu trúc gồm Khởi động – Trọng động – Hồi tĩnh); Thể dục sáng; Phút thể dục (chống mệt mỏi); Hoạt động dạo chơi ngoài trời.

Phương pháp nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu

Chương 2 mô tả quy trình phương pháp luận, tổ chức thực nghiệm và xử lý dữ liệu:

  • Khách thể phỏng vấn: Tổng cộng 495 cán bộ quản lý và giáo viên mầm non tham gia khảo sát (Bảng 2.1).
  • Tổ chức các giai đoạn khảo sát:
    • Giai đoạn 1: Khảo sát nhu cầu xây dựng test (n = 210) và tiêu chí test (n = 210); phỏng vấn lựa chọn các test đánh giá KNVĐCB (n = 495).
    • Giai đoạn 2: Khảo sát thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục KNVĐCB và các yếu tố ảnh hưởng tiêu cực (n = 436).
    • Giai đoạn 3: Khảo sát tiêu chí và lựa chọn bài tập vận động thực nghiệm (n = 121).
  • Thiết kế thực nghiệm sư phạm:
    • Địa bàn: Chia thành hai khu vực nội thành và ngoại thành TP. Hồ Chí Minh.
    • Phân nhóm: Chia thành nhóm Thực nghiệm (TN) và nhóm Đối chứng (ĐC) trên 3 khối lớp (mẫu giáo bé 3 – 4 tuổi, mẫu giáo nhỡ 4 – 5 tuổi, mẫu giáo lớn 5 – 6 tuổi). Quy mô mỗi nhóm là n = 50 trẻ cho từng độ tuổi ở mỗi khu vực.
    • Nhóm ĐC tập luyện theo phân phối chương trình giáo dục mầm non hiện hành; nhóm TN tập luyện theo hệ thống bài tập vận động do tác giả thiết kế và lựa chọn.
  • Xử lý dữ liệu: Ứng dụng toán thống kê phân tích kiểm định độ tin cậy của test, kiểm định KMO và Bartlett, phân tích nhân tố xoay ma trận, kiểm định tính phân phối chuẩn của các tiêu chí đánh giá KNVĐCB, so sánh điểm trung bình trước và sau thực nghiệm bằng kiểm định t-Student, tính nhịp tăng trưởng và xây dựng bảng xếp loại tổng hợp.

Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm tương ứng với 3 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Xây dựng các test đánh giá KNVĐCB cho trẻ 3 – 6 tuổi tại TP. Hồ Chí Minh:
  • Kết quả phỏng vấn GVMN xác định nhu cầu cấp thiết về bộ test chuẩn hóa (Bảng 3.1) và các tiêu chí xây dựng test (Bảng 3.2, n = 210). Sau phỏng vấn n = 495 cán bộ quản lý và giáo viên, tác giả chọn lọc danh mục các test chuyên biệt (Bảng 3.3, Bảng 3.4).
  • Kiểm định độ tin cậy và tính thông báo: Tác giả kiểm định độ tin cậy của các test ở trẻ mẫu giáo bé (Bảng 3.5), mẫu giáo nhỡ (Bảng 3.6), mẫu giáo lớn (Bảng 3.7).
  • Kiểm định tính phù hợp của mô hình nhân tố:
    • Mẫu giáo bé (3 – 4 tuổi): Kiểm định KMO and Bartlett’s Test đạt mức phù hợp (Bảng 3.8); phân tích nhân tố qua xoay ma trận Rotated Component Matrix (Bảng 3.9).
    • Mẫu giáo nhỡ (4 – 5 tuổi): Kiểm định KMO and Bartlett’s Test (Bảng 3.10) và phân tích ma trận nhân tố xoay (Bảng 3.11).
    • Mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi): Kiểm định KMO and Bartlett’s Test (Bảng 3.12) và phân tích ma trận nhân tố xoay (Bảng 3.13).
  • Từ kết quả toán học, tác giả chuẩn hóa danh mục các test đánh giá KNVĐCB cho từng độ tuổi tại TP. Hồ Chí Minh (Bảng 3.14).
  1. Đánh giá thực trạng công tác giáo dục phát triển KNVĐCB:
  • Kết quả khảo sát ý kiến cán bộ quản lý và giáo viên (n = 436) phản ánh thực trạng tổ chức các hoạt động giáo dục KNVĐCB còn nhiều bất cập (Bảng 3.15, Bảng 3.17); chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng không tốt đến chất lượng giáo dục vận động như cơ sở vật chất, sân bãi hạn chế, áp lực chương trình và kiến thức chuyên môn GDTC của giáo viên (Bảng 3.16).
  • Đánh giá thực trạng KNVĐCB của trẻ sau một năm học tại các trường mầm non:
    • Số liệu ở trẻ mẫu giáo bé (Bảng 3.18, Biểu đồ 3.1), mẫu giáo nhỡ (Bảng 3.19, Biểu đồ 3.2), mẫu giáo lớn (Bảng 3.20, Biểu đồ 3.3).
    • So sánh sự phát triển KNVĐCB giữa trẻ em khu vực nội thành và ngoại thành sau 1 năm học (với cỡ mẫu n = 200 cho mỗi lứa tuổi: Bảng 3.21 cho trẻ 3 – 4 tuổi; Bảng 3.22 cho trẻ 4 – 5 tuổi; Bảng 3.23 cho trẻ 5 – 6 tuổi).
  1. Ứng dụng bài tập phát triển KNVĐCB và đánh giá hiệu quả thực nghiệm:
  • Lựa chọn bài tập: Khảo sát tiêu chí xây dựng BTVĐ (Bảng 3.24, n = 121) và phỏng vấn lựa chọn bài tập (Bảng 3.25, n = 121). Luận án xác định danh sách các BTVĐ tiến hành thực nghiệm cho từng độ tuổi (Bảng 3.26).
  • So sánh trước thực nghiệm: Kiểm định sự tương đồng về trình độ KNVĐCB giữa nhóm TN và ĐC ở cả nội thành và ngoại thành trước thực nghiệm cho thấy sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê ở cả 3 độ tuổi (Bảng 3.27, Bảng 3.28, Bảng 3.29, n = 50).
  • Tiêu chuẩn hóa đánh giá: Kiểm định tính phân phối của các tiêu chí đánh giá KNVĐCB (Bảng 3.30); xây dựng tiêu chuẩn phân loại KNVĐCB theo độ tuổi (Bảng 3.31); bảng điểm đánh giá khả năng VĐCB (Bảng 3.32); tiêu chuẩn xếp loại tổng hợp KNVĐCB của trẻ (Bảng 3.33).
  • Kết quả sau thực nghiệm:
    • Đánh giá KNVĐCB của nhóm TN và ĐC trước và sau thực nghiệm tại khu vực nội thành và ngoại thành theo từng độ tuổi: mẫu giáo bé (Bảng 3.34, Bảng 3.35); mẫu giáo nhỡ (Bảng 3.36, Bảng 3.37); mẫu giáo lớn (Bảng 3.38, Bảng 3.39) với n = 50 trẻ/nhóm.
    • So sánh trực tiếp kết quả giữa nhóm TN và ĐC sau thực nghiệm ở mẫu giáo bé (Bảng 3.40), mẫu giáo nhỡ (Bảng 3.41), mẫu giáo lớn (Bảng 3.42) cho thấy nhóm TN đạt kết quả cao hơn nhóm ĐC.
    • Nhịp tăng trưởng các KNVĐCB của nhóm TN cao hơn rõ rệt so với nhóm ĐC ở cả nội thành và ngoại thành (Biểu đồ 3.4 đến Biểu đồ 3.9).
    • So sánh xếp loại tổng hợp trình độ KNVĐCB trước và sau thực nghiệm của nhóm ĐC (Bảng 3.43; Biểu đồ 3.10 – 3.15) và nhóm TN (Bảng 3.44; Biểu đồ 3.16 – 3.21; Biểu đồ 3.22 – 3.24) chứng minh tỷ lệ trẻ đạt loại tốt và khá ở nhóm TN tăng lên rõ rệt.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận:

  • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở khoa học về tâm vận động và sinh lý vận động của trẻ mẫu giáo 3 – 6 tuổi trong bối cảnh giáo dục mầm non tích hợp.
  • Đưa ra định nghĩa khoa học về "Bài tập phát triển KNVĐCB" cho trẻ mầm non dựa trên cấu trúc hành động vận động, quy luật hình thành kỹ năng - kỹ xảo vận động và quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm.

Về mặt thực tiễn:

  • Xây dựng và chuẩn hóa được hệ thống các test kiểm tra KNVĐCB cho trẻ 3 – 6 tuổi tại TP. Hồ Chí Minh thông qua kiểm định độ tin cậy, kiểm định KMO, kiểm định Bartlett và phân tích nhân tố xoay.
  • Cung cấp dữ liệu thực trạng toàn diện về công tác tổ chức giáo dục KNVĐCB và mức độ phát triển KNVĐCB của trẻ em mẫu giáo tại các trường mầm non thuộc hai khu vực nội thành và ngoại thành TP. Hồ Chí Minh sau một năm học.
  • Thiết kế, tuyển chọn và chứng minh thực nghiệm hiệu quả của hệ thống bài tập phát triển KNVĐCB cho trẻ 3 – 6 tuổi; xây dựng bảng tiêu chuẩn phân loại và thang điểm đánh giá xếp loại tổng hợp khả năng vận động cho trẻ mẫu giáo.

Về kiến nghị và giải pháp đề xuất:

  • Đề xuất các cơ sở giáo dục mầm non tại TP. Hồ Chí Minh áp dụng hệ thống bài tập phát triển KNVĐCB và bộ test đánh giá đã được chuẩn hóa vào kế hoạch năm học.
  • Đa dạng hóa hình thức tổ chức tập luyện (tiết học thể dục, thể dục sáng, phút thể dục, hoạt động ngoài trời); tăng cường bồi dưỡng năng lực chuyên môn giáo dục thể chất cho đội ngũ giáo viên mầm non; cải tạo sân bãi và bổ sung trang thiết bị, dụng cụ vận động phù hợp với đặc thù không gian trường lớp ở từng khu vực nội thành và ngoại thành.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế:

  • Phạm vi không gian nghiên cứu của đề tài giới hạn trên địa bàn các trường mầm non thuộc TP. Hồ Chí Minh, chưa mở rộng ra các tỉnh thành khác có điều kiện địa lý và kinh tế - xã hội khác biệt.
  • Đối tượng nghiên cứu mới chỉ tập trung vào lứa tuổi mẫu giáo (3 – 6 tuổi), chưa tiến hành nghiên cứu trên nhóm trẻ ở lứa tuổi nhà trẻ (dưới 3 tuổi).
  • Quy mô mẫu thực nghiệm sư phạm dừng lại ở mức n = 50 trẻ cho mỗi nhóm (TN và ĐC) tại từng lứa tuổi và khu vực.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Triển khai ứng dụng và kiểm chứng hệ thống bài tập trên các nhóm đối tượng trẻ em có nhu cầu đặc biệt hoặc mở rộng khảo sát ở các vùng nông thôn, miền núi.
  • Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các bài tập kết hợp phát triển vận động thô với vận động tinh và khả năng cảm thụ nhịp điệu của trẻ mầm non.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị thực tiễn và học thuật cho các nhóm đối tượng:

  • Cán bộ quản lý giáo dục mầm non: Sử dụng kết quả nghiên cứu và bộ tiêu chuẩn phân loại, bảng điểm tổng hợp để chỉ đạo chuyên môn, kiểm tra và đánh giá chất lượng chăm sóc, giáo dục phát triển thể chất tại các trường mầm non.
  • Giáo viên mầm non: Tham khảo trực tiếp danh mục bài tập vận động cơ bản, trò chơi vận động và các phương án tổ chức tiết học thể dục, phút thể dục, thể dục sáng để đưa vào giáo án giảng dạy hàng ngày.
  • Giảng viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành Giáo dục học, Giáo dục thể chất: Sử dụng khung lý thuyết về tâm vận động và quy trình áp dụng toán thống kê (kiểm định KMO, Bartlett, phân tích nhân tố Rotated Component Matrix) để thiết kế các nghiên cứu sư phạm tương tự.

Câu hỏi thường gặp

  1. Hệ thống bài tập vận động cơ bản cho trẻ mẫu giáo trong luận án được phân loại thành những nhóm nào?
    Luận án căn cứ vào đặc trưng cử động chia bài tập vận động cơ bản của trẻ thành 4 nhóm: nhóm bài tập đi, chạy và thăng bằng; nhóm bài tập bò, trườn và leo trèo; nhóm bài tập nhảy - bật; nhóm bài tập ném, chuyền, bắt.

  2. Các công cụ toán thống kê nào được tác giả sử dụng để chuẩn hóa các test đánh giá KNVĐCB?
    Tác giả sử dụng kiểm định độ tin cậy, kiểm định tính phù hợp nhân tố KMO và kiểm định Bartlett (KMO and Bartlett’s Test), phân tích nhân tố khám phá qua ma trận xoay (Rotated Component Matrix) cho từng độ tuổi mẫu giáo bé, nhỡ và lớn.

  3. Thời lượng cho một tiết học thể dục (hoạt động có chủ đích) ở từng độ tuổi mẫu giáo được quy định như thế nào?
    Thời lượng quy định theo độ tuổi gồm: 15 – 20 phút đối với trẻ 3 – 4 tuổi (mẫu giáo bé); 20 – 25 phút đối với trẻ 4 – 5 tuổi (mẫu giáo nhỡ); 25 – 30 phút đối với trẻ 5 – 6 tuổi (mẫu giáo lớn).

  4. Dữ liệu tăng trưởng chiều cao của trẻ em Việt Nam 4 – 6 tuổi giữa năm 1995 – 1996 và 2002 được dẫn liệu ra sao?
    Theo Bảng 1.1 trong văn bản, chiều cao trung bình của trẻ 6 tuổi tăng từ 107,16 ± 3,99 cm lên 107,50 ± 5,32 cm ở trẻ trai; và từ 106,36 ± 3,91 cm lên 107,60 ± 5,38 cm ở trẻ gái. Ở trẻ 5 tuổi, chiều cao trẻ trai tăng từ 101,87 ± 3,63 cm lên 103,00 ± 6,12 cm; trẻ gái đạt 101,61 ± 3,64 cm (1995-1996) và 101,60 ± 5,19 cm (2002).

  5. Quy mô mẫu khảo sát và thực nghiệm trong luận án được bố trí với số lượng bao nhiêu?
    Quy mô khảo sát bao gồm: n = 495 cán bộ quản lý và giáo viên tham gia phỏng vấn chung; n = 210 khảo sát nhu cầu và tiêu chí test; n = 436 khảo sát thực trạng tổ chức GDTC; n = 200 trẻ/độ tuổi khảo sát thực trạng sau 1 năm học; n = 121 khảo sát tiêu chí và lựa chọn BTVĐ; quy mô nhóm thực nghiệm sư phạm là n = 50 trẻ cho mỗi nhóm (TN và ĐC) theo từng độ tuổi ở nội thành và ngoại thành.

Kết luận

Luận án của tác giả Lê Hải đã giải quyết đồng bộ các mục tiêu nghiên cứu từ xây dựng cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng đến thiết kế và ứng dụng thực nghiệm hệ thống bài tập phát triển KNVĐCB cho trẻ 3 – 6 tuổi tại các trường mầm non khu vực TP. Hồ Chí Minh. Thông qua việc chuẩn hóa hệ thống test bằng các kiểm định toán học chặt chẽ và tổ chức thực nghiệm sư phạm có đối chứng ở cả hai địa bàn nội thành và ngoại thành, công trình đã chứng minh tính hiệu quả của các bài tập trong việc nâng cao kỹ năng vận động và nhịp tăng trưởng thể chất của trẻ. Kết quả nghiên cứu cung cấp tài liệu tham khảo có giá trị ứng dụng thực tế cho công tác quản lý và giảng dạy giáo dục thể chất ở bậc học mầm non.