phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non Chƣơng 2. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo ở các trường mầm non, thị xã Sông cầu, Tỉnh Phú Yên Chƣơng 3. Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo ở các trường mầm non, thị xã Sông cầu, tỉnh Phú Yên.
Kết luận Danh mục tài liệu tham khảo Phụ lục 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ MẪU GIÁO Ở TRƢỜNG MẦM NON 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nƣớc ngoài Từ giữa thế kỷ XX, nhiều nhà giáo dục tại các nước phát triển đã thấy được sự cần thiết phải giáo dục cho học sinh các khả năng giao lưu với thế giới xung quanh, khả năng xã hội và khả năng ứng phó với điều kiện sống thay đổi nhanh chóng, lựa chọn và ra quyết định khi cần thiết Kỹ năng sống và vấn đề giáo dục kỹ năng sống hiện nay được nhiều tác giả quan tâm. Trong cuốn "Một vài vấn đề chung về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống " [29, tr.34], Donald Walters đã truyền tải những kỹ năng tới nhà giáo dục, các bậc cha mẹ ở khắp nơi để giáo dục thành một quá trình toàn vẹn hài hoà giữa lý thuyết và thực hành.
Donald Walters đã khuyến khích mọi người ứng dụng một hệ thống giáo dục, trong đó nhấn mạnh sự tích hợp của việc giảng dạy cho trẻ những kiến thức cơ bản cùng với nghệ thuật sống. Ông đã chỉ ra cho mọi người “thấy được toàn bộ cuộc sống là giáo dục và giáo dục không chỉ giới hạn ở những năm tháng miệt mài trên ghế nhà trường. Đúng như Jesse J.Casbon nhận xét “Cuốn sách nói cho chúng ta biết về phương pháp cách nuôi dưỡng óc sáng tạo và trực giác ở mỗi đứa trẻ và làm sao có thể đánh thức những khả năng chưa được khai thác của trẻ” và hãy để “mỗi đứa trẻ là chính nó".35] Năm 1979, Gillbert Botvin (người Mỹ - nhà khoa học hành vi và giáo sư tâm thần học) đã công bố một chương trình đào tạo KNS có hiệu quả cao cho thanh thiếu niên từ lớp 7 đến lớp 9, chương trình được triển khai trong nhiều trường học khác nhau và đã thu được kết quả ấn tượng. Ở các nước phương tây, những nghiên cứu của WHO, UNICEF đã được vận dụng để giáo dục kỹ năng sống cho thanh thiếu niên.
Tại Mỹ, năm 1989, Ủy ban thư ký về rèn luyện các kỹ năng cần thiết (Tên tiếng anh là The secretary’s comission on achieving necessary skills – SCANS) đã được thành lập để thúc đẩy nền kinh tế. Tại Úc (1990 – 2002), quyển tài liệu “Kỹ năng hành nghề cho tương lai” (2002) đã được xuất bản, trong đó có đề cập đến những kỹ năng và kiến thức mà người lao động cần phải có liên quan đến nhiều kỹ năng sống.6] Giáo dục KNS đã được đưa vào chương trình tiểu học và trung học ở các nước phát triển từ khá sớm, nhằm thúc đẩy lối sống lành mạnh ở trẻ em, tạo nền tảng vững chắc cho các em khi bước vào tuổi trưởng thành. GDKNS ở khu vực Asean cũng đã được nghiên cứu và triển khai ở nhiều nước. 6 Ở Trung Quốc GDKNS được lồng ghép vào các môn học trong nhà trường về giáo dục đạo đức, giáo dục lao động và xã hội.
Ở Lào, GDKNS được lồng ghép vào chương trình đào tạo chính quy, không chính quy và trường Sư phạm đào tạo GV từ năm 1997. Quan niệm về GDKNS ở Bangladesh là giáo dục các kỹ năng (KN) xã hội, các KN phát triển, các KN chuẩn bị cho tương lai, ứng phó với các tình huống bất thường. Ở Mianma: Có các chủ đề giáo dục KNS trong chương trình giảng dạy sức khỏe và vệ sinh cá nhân, sự phát triển thể chất, phòng tránh bệnh tật, kỹ năng truyền thông và tự diễn đạt, kỹ năng giao tiếp và hợp tác, kỹ năng xử lí cảm xúc, khuyến khích lòng tự trọng. Những năm đầu thập niên 90 (thế kỷ XX), một số nước khu vực Đông Nam Á và cả Châu Á việc nghiên cứu kỹ năng sống theo hướng áp dụng thử nghiệm rất được quan tâm.
Mục tiêu chung là: “Nhằm nâng cao tiềm năng của con người để có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu, sự thay đổi, các tình huống của cuộc sống hằng ngày, đồng thời tạo ra sự đổi thay và nâng cao chất lượng cuộc sống”. Điển hình như tại Ấn Độ, kỹ năng sống được xem là khả năng giúp tăng cường sự lành mạnh về tinh thần và năng lực của con người. Như vậy, giáo dục KNS cho học sinh là một vấn đề đang được nhiều nước trên thế giới quan tâm. Ở một số quốc gia, giáo dục KNS được lồng ghép vào các môn học, chủ đề, nội dung có liên quan trực tiếp đến những vấn đề bức xúc trên thực tế.
Các nghiên cứu tại Việt Nam Ở Việt Nam, chương trình giáo dục kĩ năng sống với nhiều nghiên cứu khác nhau, có thể nhắc đến chương trình giáo dục kĩ năng sống cho học sinh và các nhóm đối tượng đặc thù trong công đồng dân cư ở Việt Nam như sau: Tác giả Nguyễn Thanh Bình đã đưa ra những yêu cầu về nội dung chương trình và phương pháp giáo dục KNS trong cuốn “Giáo trình Giáo dục kĩ năng sống”. Tác giả cho rằng: “Cốt lõi của việc đổi mới phương pháp dạy học là hướng vào học tập chủ động, chống thói quen thụ động, đồng thời coi dạy học thông qua tổ chức hoạt động của học sinh là đặc trưng thứ nhất của phương pháp dạy học tích cực” [5] Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục của tác giả Hoàng Thúy Nga (2016) với đề tài “ Quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học thành phố Hà Nội” đã xác định rõ các thành tố cấu trúc của hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh ở trường tiểu học, bên cạnh đó tác giả cũng đã xác định cụ thể quá trình quản lý, mục tiêu của quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh ở trường tiểu học [23]. Từ năm học 2010-2011, Bộ GD&ĐT đã triển khai kế hoạch 453/KH-BGDĐT, ngày 30-7-2010 về tập huấn và triển khai giáo dục KNS trong một số môn học và hoạt 7 động giáo dục ở tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông trên toàn quốc. Đã có nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này của các tác giả: Nguyễn Thị Hường, Lê Công Phượng; Nguyễn Thanh Bình, Lưu Thu Thủy; Nguyễn Kim Dung, Vũ Thị Sơn; Huỳnh Văn Sơn; Nguyễn Dục Quang… Tuy nhiên, một trong những người có những nghiên cứu mang tính hệ thống về KNS và GDKNS ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình.
Tác giả Nguyễn Thanh Bình đã đưa ra những yêu cầu về nội dung chương trình và phương pháp giáo dục KNS trong cuốn “Giáo trình Giáo dục kĩ năng sống”. Tác giả cho rằng: “Cốt lõi của việc đổi mới phương pháp dạy học là hướng vào học tập chủ động, chống thói quen thụ động, đồng thời coi dạy học thông qua tổ chức hoạt động của học sinh là đặc trưng thứ nhất của phương pháp dạy học tích cực” [5] Tác giả và cộng sự đã triển khai nghiên cứu tổng quan về quá trình nhận thức KNS và đề xuất yêu cầu tiếp cận KNS trong giáo dục, GDKNS ở nhà trường phổ thông, đồng thời tìm hiểu thực trạng GDKNS cho người học từ trẻ mầm non đến người lớn thông qua giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên ởViệt Nam. Tác giả đã xây dựng được khung lí luận về GDKNS từ xác định thuật ngữ, mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, nguyên tắc, phương pháp giáo dục cho đến đánh giá kết quảvà tác động của GDKNS [5], [6]. Đối với bậc học mầm non, nghiên cứu của tác giả Lê Bích Ngọc đã đề cập đến mục tiêu, nội dung, phương pháp và những nhóm KN cần giáo dục đối với trẻ MG [24], [25].
Bên cạnh đó, các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Phan Thị Thảo Hương trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm phát triển tâm sinh lý trẻ mầm non đã đưa ra các phương pháp tổ chức hoạt động GDKNS phù hợp với độ tuổi mầm non [21]. Nghiên cứu của Cao Văn Quang và cộng sự đã chỉ ra việc quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non theo cách tiếp cận các chức năng trong quản lý bao gồm 4 chức năng cơ bản:1) Xây dựng kế hoạch; 2) Tổ chức thực hiện kế hoạch; 3) Chỉ đạo thực hiện; 4) Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ [30]. Các khái niệm chính của đề tài 1. Quản lý Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng - Nhà xuất bản Giáo dục, 1998, thuật ngữ quản lý được định nghĩa: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan”.
Quản lý là một hoạt động có chủ đích, được tiến hành bởi một chủ thể quản lý nhằm tác động lên khách thể quản lý để thực hiện các mục tiêu xác định của công tác quản lý. Trong mỗi chu trình quản lý, chủ thể tiến hành những hoạt động theo các chức năng quản lý như xác định mục tiêu, các chủ trương, chính sách, hoạch định kế hoạch, tổ chức chỉ đạo thực hiện, điều hoà, phối hợp, kiểm tra và huy động, sử dụng các nguồn 8 lực cơ bản như tài lực, vật lực, nhân lực. để thực hiện các mục tiêu, mục đích mong muốn trong bối cảnh và thời gian nhất định. Khái niệm quản lý còn có rất nhiều định nghĩa khác nhau: F.
Taylor cho rằng: “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất’’. Koontz khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”. Quản lý là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt tới các mục tiêu đề ra.