CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN 1. Khái niệm và đặc điểm của kinh tế tư nhân a. Khái niệm kinh tế tư nhân KTTN bao gồm những doanh nghiệp dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, trong đó bao gồm các hình thức sở hữu cá nhân, sở hữu gia đình, sở hữu tập thể và sở hữu hỗn hợp, sở hữu của nhà kinh doanh nước ngoài.
Theo pháp luật hiện hành, các cơ sở kinh doanh ngoài quốc doanh hoạt động theo một trong các hình thức sau: Kinh tế tập thể - hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, Công ty cổ phần, công ty hợp danh và hộ kinh doanh cá thể. Nguyên tắc hoạt động: Tự bỏ vốn, tự tổ chức, tự chủ trong kinh doanh, tự bù lỗ. Đây là cơ chế gắn kết quả hoạt động kinh doanh với năng lực của nhà doanh nghiệp - một cơ chế tối ưu và hiệu quả. Việc quyết định hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp không phải là hình thức doanh nghiệp mà là cơ chế vận hành tại doanh nghiệp đó.
Cơ chế điều tiết tự nhiên của KTTN là cơ chế thị trường, phù hợp với những quy luật kinh tế khách quan là “sản xuất và bán cái thị trường cần chứ không phải là cái mình có”. Đặc điểm của kinh tế tư nhân ♦ Để hiểu rõ về bản chất của kinh tế tư nhân, cần phải xem xét những đặc điểm kinh tế - xã hội của nó trên ba mặt: - Quan hệ về sở hữu: Nó dựa trên quan hệ sở hữu tư nhân. Điều đó có nghĩa là toàn bộ tư liệu sản xuất và sản phẩm sản xuất ra nhờ tư liệu sản xuất ấy thuộc về tư nhân. Người chủ sở hữu có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng Luan van 7 định đoạt và chịu trách nhiệm hoàn toàn với tư liệu sản xuất do họ làm chủ.
Trong lịch sử, quan hệ sở hữu tư nhân được chia làm tồn tại dưới 2 hình thức: sở hữu tư nhân nhỏ và sử hữu tư nhân lớn. Trong sở hữu tư nhân nhỏ thì tư liệu sản xuất là do chính người sở hữu sử dụng và chi phối. Còn trong sở hữu tư nhân lớn thì tư liệu sản xuất thường được giao cho người khác sử dụng. Thường nó gắn với quan hệ bóc lột người.
- Quan hệ về quản lý: Do sở hữu là của tư nhân nên vai trò quản lý trong doanh nghiệp cũng do tư nhân là người quyết định. Cũng cần chỉ ra rằng, về mặt lịch sử, khi mới ra đời các chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân đồng thời là người quản lý. Song cùng với sự phát triển của sản xuất, của tín dụng và công ty cổ phần đã góp phần tách chức năng sở hữu với chức năng quản lý. - Quan hệ phân phối: Nguyên tắc chung: chủ sở hữu tư nhân là người có quyền quyết định việc phân phối sản phẩm.
Trong các doanh nghiệp tư bản tư nhân chủ sở hữu chiếm đoạt giá trị thặng dư, còn người lao động hưởng theo giá trị sức lao động. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường hiện đại, khi nhiều tổ chức kinh tế hoạt động dựa trên sự kết hợp, đan xen nhiều hình thức sở hữu khác nhau thì quan hệ phân phối càng trở nên phức tạp. Nhiều hình thức phân phối tồn tại đang xen lẫn nhau trong từng đơn vị sản xuất kinh doanh và cho từng cá nhân. Song nguyên tắc cơ bản vẫn là phân phối theo mức đóng góp các nguồn lực vào quá trình sản xuất kinh doanh.
♦ Ngoài những đặc điểm chung về kinh tế - xã hội, KTTN ở nước ta còn có thêm những đặc điểm sau: - Quy mô sản xuất còn nhỏ bé. Các doanh nghiệp thuộc KTTN của nước ta đại bộ phận thuộc loại doanh nghiệp vừa và nhỏ, thậm chí siêu nhỏ. Luan van 8 - Kỹ thuật công nghệ sản xuất kinh doanh đa phần lạc hậu, năng suất thấp. Những đặc điểm trên hạn chế sự phát triển, cũng như hiệu quả và khả năng cạnh tranh của KTTN nước ta trước thách thức của hội nhập với khu vực và thế giới.
Các loại hình kinh tế tư nhân ♦ Hộ kinh doanh cá thể Là hình thức tồn tại của thành phần kinh tế cá thể tiểu chủ, dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ về tư liệu sản xuất. Hình thức kinh doanh này chủ yếu sử dụng lao động trong gia đình, sử dụng lao động làm thuê không thường xuyên. Hộ kinh doanh cá thể là đơn vị kinh tế độc lập tự chủ trong sản xuất kinh doanh, là chủ thể trong mọi quan hệ sản xuất và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình. ♦ Doanh nghiệp tư nhân Là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
♦ Công ty trách nhiệm hữu hạn Là doanh nghiệp trong đó thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp. ♦ Công ty cổ phần Là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia nhỏ thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cổ đông góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. ♦ Công ty hợp danh Là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên hợp danh.
Ngoài 2 Luan van 9 thành viên hợp danh, có thể có thành viên góp vốn. Thành viên hợp danh là cá 0nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. ♦ Hợp tác xã (Kinh tế tập thể) Là tổ chức kinh tế tập thể (KTTT) do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia HTX, cùng nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng Cộng sản Việt Nam thì KTTT và kinh tế (KT) có vốn đầu tư nước ngoài không được tính vào thành phần KTTN. Tuy nhiên Quy ước này cũng mang tính tương đối vì theo quy định mới của HTX thì hình thức này cũng là một loại hình đơn vị kinh doanh do tư nhân tổ chức thành lập, hoạt động theo nguyên tắc giống như các loại hình khác của KTTN. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này thì khái niệm KTTN bao gồm cả Kinh tế tập thể - Hợp tác xã nhưng không bao gồm kinh tế có vốn nước ngoài và không đề cập đến hộ kinh doanh cá thể. Vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế quốc dân ♦ KTTN khai thác và tận dụng có hiệu quả tiềm năng về vốn, các nguồn nguyên liệu ở từng địa phương.
Phát triển KTTN sẽ tạo ra nguồn đầu tư quan trọng đóng góp vào quá trình tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế quốc dân. ♦ KTTN phát triển sẽ tạo việc làm cho một lượng lớn lao động, bảo đảm đời sống và do đó góp phần vào việc ổn định kinh tế- xã hội. Do có quy mô Luan van 10 vừa và nhỏ, các cơ sở và DNTN dễ thích nghi với điều kiện nông thôn, nơi có nhiều lao động nhàn rỗi, giải quyết việc làm, giảm thất nghiệp. Vai trò này càng có ý nghĩa quan trọng hơn trong điều kiện nước ta đang trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
♦ KTTN tạo ra nhiều sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, góp phần bình ổn giá cả, kiềm chế lạm phát. Khu vực KTTN có thế mạnh trong việc huy động vốn, khai thác các tiềm năng khác có hiệu quả, đóng góp ngày càng lớn cho ngân sách Nhà nước. ♦ KTTN giữ vai trò hỗ trợ, bổ sung cho khu vực kinh tế thuộc sở hữu Nhà nước, tạo thành mối liên kết cùng hợp tác, cùng cạnh tranh để cùng phát triển. Vai trò hỗ trợ không chỉ tạo ra hàng hoá đáp ứng nhu cầu tiêu dùng mà còn là động lực để kinh tế nhà nước thực hiện tốt vai trò chủ đạo của mình thông qua cạnh tranh.
Với sự xuất hiện ngày càng nhiều các chủ thể kinh tế tư nhân. ♦ KTTN góp phần duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống, qua đó sử dụng và phát huy kinh nghiệm sản xuất kinh doanh, kinh nghiệm quản lý sản xuất đã được tích luỹ qua nhiều thế hệ, kết hợp tính truyền thống và tính hiện đại trong sản xuất. Đặc điểm cơ bản nhất của ngành nghề truyền thống là gắn chặt với kinh tế cá thể và thực tế đã chứng minh, KTTN phát triển thì các ngành nghề truyền thống phát triển. Trong điều kiện hiện nay, cạnh tranh là động lực cho các chủ thể kinh tế nâng cao tay nghề, ứng dụng khoa học - công nghệ mới.
♦ KTTN tạo lập sự cân đối về phát triển kinh tế giữa các vùng, góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Để công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, không thể không có doanh nghiệp có quy mô lớn, có nhiều vốn, kỹ Luan van 11 thuật, công nghệ hiện đại trong một số ngành, nhằm tạo ra sức mạnh để cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Để làm được điều đó, cần tăng khả năng tích tụ và tập trung vốn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo điều kiện để vươn lên thành doanh nghiệp lớn. Điều này có thể thực hiện thông qua phát triển kinh tế tư nhân.
Thực tế cho thấy, quá trình phát triển KTTN đồng thời là quá trình tìm kiếm phương thức kinh doanh có hiệu quả nhằm làm giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường. Đó là quá trình các chủ doanh nghiệp phải tự đổi mới công nghệ, kỹ thuật tại doanh nghiệp mình, chuyển hướng kinh doanh vào những sản phẩm có lợi nhất. Tất cả những vấn đề đó, tự nó làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hơn, hợp lý hơn.