CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN 1. Khái niệm kinh tế tư nhân KTTN là một loại hình kinh tế phát triển dựa trên sở hữu tư nhân về toàn bộ các yếu tố sản xuất (cả hữu hình và vô hình) được đưa vào sản xuất kinh doanh. Nó hoàn toàn tự chủ, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ, cụ thể là: tự chủ về vốn, tự chủ về quản lý, tự chủ về phân phối sản phẩm, tự chủ lựa chọn hình thức tổ chức, quy mô, phương hướng sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trước pháp luật của Nhà nước [15].
Khu vực kinh tế tư nhân: là khu vực kinh tế bao gồm những đơn vị được tổ chức dựa trên sở hữu tư nhân [15]. Để đánh giá đúng tiềm năng của khu vực KTTN Việt Nam, thì khu vực KTTN bao gồm các hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp tư nhân. Tách riêng khu vực KTTN Việt Nam ra khỏi khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài sẽ giúp chúng ta đánh giá được đúng hơn vai trò của từng loại hình với sự phát triển chung của nền kinh tế. Trong phạm vi đề tài nghiên cứu của mình chúng tôi tập trung vào nghiên cứu về hộ cá thể và các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân.
Khái niệm phát triển kinh tế tư nhân Phát triển kinh tế tư nhân là quá trình tăng lên cả về chất và lượng của khu vực kinh tế tư nhân. Tăng lên về số lượng nghĩa là ở đó có sự tăng trưởng về số lượng các doanh nghiêp, quy mô doanh nghiệp được mở rộng, lao động tăng lên, mặt bằng sản xuất kinh doanh được mở rộng, máy móc thiết bị được Luan van 9 đầu tư. Tăng lên về chất là tăng về hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp, trình độ quản lý được nâng lên, trình độ sản xuất kinh doanh phát triển lên một bước mới, thị trường không ngừng được mở rộng, giá trị đóng góp cho nền kinh tế của khu vực KTTN ngày càng tăng lên. Đặc điểm của kinh tế tư nhân Xét về nguồn gốc, sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân ra đời là kết quả tất yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất là nguồn gốc cơ bản và trực tiếp ra đời của chế độ tư hữu. Từ đó, nhìn chung, kinh tế tư nhân có những đặc điểm cơ bản : - Kinh tế tư nhân gắn liền với lợi ích cá nhân mà lợi ích cá nhân trong lịch sử phát triển của xã hội loài người là động lực trước hết và chủ yếu thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, kinh tế tư nhân có sức sống mãnh liệt, nó xuất hiện một cách tự nhiên để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con người nên luôn chứa đựng bên trong những nhân tố ổn định tự có và ngay trong môi trường đào thải khắc nghiệt kinh tế tư nhân vẫn tồn tại. Trong các nền kinh tế không có sự cấm đoán đối với kinh tế tư nhân thì các doanh nghiệp thuộc loại hình kinh tế tư nhân được hình thành rất linh hoạt, dễ dàng, thích ứng theo nguyên tắc “ở đâu có cầu, ở đó có cung”.
- Kinh tế tư nhân với mô hình tiêu biểu là doanh nghiệp của tư nhân là tổ chức kinh doanh của nền sản xuất hàng hóa ở giai đoạn cao. Sự ra đời và phát triển của kinh tế tư nhân, gắn với kinh tế hàng hóa. Cùng với sự phát triển của sở hữu tư nhân và phân công lao động xã hội, kinh tế hàng hóa ra đời. Kinh tế hàng hóa có hai giai đoạn phát triển: kinh tế hàng hóa giản đơn và kinh tế thị trường.
Trong nền sản xuất hàng hóa giản đơn, khu vực kinh tế tư nhân có qui mô nhỏ chiếm tỉ trọng lớn gắn liền với sản xuất nhỏ tự cung, tự cấp mà gia đình là đơn vị cơ bản dựa trên cơ sở huyết thống hoặc công trường thủ công. Khi kinh tế hàng hóa giản đơn phát triển Luan van 10 thành kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa (thực chất là kinh tế thị trường) có nền tảng là sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, hoạt động trên cơ sở thuê mướn lao động, thì kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ với qui mô lớn và khả năng ứng dụng khoa học và công nghệ cao, trở thành động lực phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa gắn liền với sản xuất lớn, hiện đại dựa trên cơ sở của mô hình tổ chức doanh nghiệp có mục tiêu cao nhất và cuối cùng là tạo ra giá trị thặng dư và không ngừng chuyển giá trị thặng dư thành tích luỹ tăng thêm của sự phát triển kinh tế. Trong điều kiện chủ nghĩa tư bản, sự thống trị của kinh tế tư nhân không làm cho sở hữu tư nhân cá thể và các hoạt động của kinh tế tiểu chủ bị thủ tiêu mà ngược lại vẫn tồn tại và phát triển. Sự phát triển của lực lượng sản xuất và của kinh tế thị trường đã làm phong phú, phức tạp thêm các hình thức biểu hiện của sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân.
Sự đan xen của sở hữu nhà nước với sở hữu tư nhân ngày càng phổ biến, nền kinh tế có thêm các loại hình sở hữu hỗn hợp. - Lịch sử ra đời và phát triển của kinh tế tư nhân cho thấy, hình thức điều tiết tự nhiên của các hoạt động kinh tế tư nhân là cơ chế thị trường. Cơ chế thị trường hiện đại là dạng thức sinh tồn của kinh tế tư nhân mà điển hình là mô hình tổ chức doanh nghiệp - sản phẩm tự nhiên của cơ chế thị trường - tự nó lớn lên trong cơ chế thị trường nên nó có một sức sống mạnh mẽ. Ngược lại, bất kỳ một nền kinh tế nào hoạt động theo cơ chế thị trường đều phải thừa nhận và khuyến khích mô hình tổ chức doanh nghiệp của kinh tế tư nhân như là một tự nhiên.
Trong cơ chế thị trường - một kiểu tổ chức kinh tế mà người tiêu dùng và nhà sản xuất tác động lẫn nhau thông qua thị truờng - các hoạt động của chủ thể đều phải tuân theo và phù hợp với những qui luật kinh tế nên năng động và hiệu quả, chỉ những doanh nghiệp thích ứng được mới tồn tại và phát triển, ngược lại thì phá sản, qua đó nguồn lực xã hội được sử dụng có hiệu quả. Trong khi đó, kinh tế quốc doanh được sinh ra bởi các Luan van 11 mệnh lệnh của Nhà nước quản lý theo cơ chế kế hoạch tập trung, mệnh lệnh dù được hướng dẫn, động viên, chỉ thị phải ứng xử theo cơ chế thị trường nhưng vẫn khó thích ứng. Vì vậy, phát triển kinh tế thị trường chính là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển kinh tế tư nhân nói riêng và nền kinh tế nói chung. Ngược lại, sự phát triển của kinh tế tư nhân là nền tảng của kinh tế thị trường.
Các loại hình sản xuất kinh doanh trong khu vực kinh tế tư nhân a. Hộ cá thể Hộ kinh doanh cá thể chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh. Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký kinh doanh, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định mức thu nhập thấp áp dụng trên phạm vi địa phương.
Mức thu nhập thấp được quy định không được vượt quá mức khởi điểm chịu thuế thu nhập cá nhân theo quy định của pháp luật về thuế. Hộ kinh doanh có sử dụng thường xuyên hơn mười lao động phải đăng ký kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp. Hộ cá thể tồn tại như một tất yếu và mang tính đặc thù của nền kinh tế nhỏ lẻ, đang phát triển ở trình độ thấp bắt nguồn từ nông nghiệp như nước ta. Loại hình hộ cá thể đang tồn tại phổ biến ở nước ta hiện nay như các trang trại, chủ thầu xây dựng nhỏ, chủ cửa hàng, xưởng sản xuất.
Doanh nghiệp tư nhân Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh Luan van 12 nghiệp. Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân [12]. Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.
Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh. Trường hợp thuê người khác làm Giám đốc quản lý doanh nghiệp thì chủ doanh nghiệp tư nhân phải đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh và vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Công ty trách nhiệm hữu hạn * Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên: Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp, trong đó thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá năm mươi; thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp. Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phần [12]. Hội đồng thành viên gồm các thành viên, là cơ quan quyết định cao nhất của công ty. Thành viên là tổ chức chỉ định người đại diện theo uỷ quyền tham gia Hội đồng thành viên. Điều lệ công ty quy định cụ thể định kỳ họp Hội đồng thành viên, nhưng ít nhất mỗi năm phải họp một lần.
Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty là người điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty, chịu trách nhiệm trước Hội đồng thành viên về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ của mình.