CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN 1. Kinh tế tư nhân và vai trò của kinh tế tư nhân đối với phát triển kinh tế – xã hội 1. Khái niệm kinh tế tư nhân Khái niện kinh tế tư nhân hay khu vực kinh tế tư nhân hiện nay còn có nhiều ý kiến chưa đồng nhất. Ở nhiều nước, thuật ngữ kinh tế tư nhân được sử dụng để phân biệt với nền kinh tế Nhà nước.
Ở Việt Nam còn nhiều quan điểm khác nhau về kinh tế tư nhân. Một số người coi kinh tế tư nhân gồm các doanh nghiệp tư nhân trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Việc hiểu khu vực kinh tế tư nhân như vậy tạo cơ sở để đánh giá hết tiềm năng của khu vực kinh tế này đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam, nhưng mặt khác lại gặp khó khăn trong thống kê, khi muốn tách bạch phần vốn góp của Nhà nước trong các công ty cổ phần cũng như trong các doanh nghiệp liên doanh hay doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài. Hiện nay, quan niệm được nhiều người đồng tình nhất, đó là nói đến kinh tế tư nhân thực chất là nói đến bộ phận kinh tế tư nhân, trong đó hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, lao động, sản phẩm làm ra, kết quả quá trình sản xuất đó thuộc về tư nhân.
Kinh tế tư nhân ở Việt Nam bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân. Bản thân tôi ủng hộ quan điểm này [10]. Kinh tế cả thể được hiểu là hình thức kinh tế của một hộ gia đình hay một cá nhân hoạt động dựa trên quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và lao động là của chính hộ cá nhân đó, không thể thuê mướn lao động làm thuê. Kinh tế tiểu chủ được hiểu là hình thức kinh tế của chủ tổ chức, quản lý và điều hành hoạt động dựa trên quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và sử dụng lao động làm thuê; qui mô vốn đầu tư và lao động nhỏ hơn các hình thức doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần.
Luan van 10 Kinh tế tư bản tư nhân, về hình thức tổ chức sản xuất, hình thức doanh nghiệp bao gồm doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần được thành lập theo luật doanh nghiệp. Trong luận văn chỉ tập trung nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân Quận Hải Châu thông qua các loại hình doanh nghiệp: doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần. Các loại hình doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân 1. Doanh nghiệp tư nhân Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp tư nhân là một đơn vị kinh doanh do một cá nhân bỏ vốn ra thành lập làm chủ. Cá nhân này vừa là chủ sở hữu, vừa là người sử dụng tài sản, đồng thời cũng là người quản lý hoạt động của doanh nghiệp. Thông thường chủ doanh nghiệp là giám đốc, trực tiếp tiến hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nhưng cũng có trường hợp vì những lý do cần thiết, chủ doanh nghiệp không trực tiếp điều hành hoạt động kinh doanh mà thuê người khác làm giám đốc.
Nhưng dù trực tiếp hay gián tiếp điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp tư nhân quản lý và tự chịu trách nhiệm không có sự phân chia rủi ro với ai. Chủ doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ trong kinh doanh của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu làm ăn phát đạt thu được nhiều lợi nhuận, chủ doanh nghiệp được hưởng toàn bộ số lợi đó. Ngược lại, nếu gặp rủi ro hay kinh doanh bị thua lỗ, họ phải chịu trách nhiệm bằng chính tài sản của doanh nghiệp.
Công ty trách nhiệm hữu hạn Công ty trách nhiệm hữu hạn là doanh nghiệp có không quá 50 thành viên góp vốn thành lập công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của mình. Công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng tài sản của mình (trách nhiệm hữu hạn), thành viên công ty trách Luan van 11 nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty. Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thì chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty. Như vậy, trong công ty trách nhiệm hữu hạn có sự phân tán tài sản: tài sản của công ty và tài sản của thành viên.
Nguyên tắc phân tách được áp dụng trong mọi quan hệ tài sản, nợ nần và trách nhiệm của công ty. Công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phiếu ra công chúng để công khai huy động vốn. Việc chuyển nhượng vốn góp của thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn trước hết phải ưu tiên cho các thành viên khác của công ty. Chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là thành viên công ty nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không mua hết.
Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thì chủ sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác. Công ty cổ phần Công ty cổ phần là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn, vốn của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, người sở hữu cổ phần gọi là cổ đông, chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty cho đến hết giá trị cổ phần mà họ sở hữu. Trong suốt quá trình hoạt động của công ty cổ phần ít nhất phải có 3 thành viên tham gia công ty cổ phần. Là loại công ty đặc trưng cho công ty đối vốn cho nên có sự liên kết của nhiều thành viên và vì vậy việc quy định số thành viên tối thiểu phải có đã trở thành thông lệ quốc tế trong mấy trăm năm tồn tại của công ty cổ phần.
Ở hầu hết các nước đều có quy định số thành viên tối thiểu của công ty cổ phần. Phần vốn góp (cổ phần) của các thành viên được thể hiện dưới hình thức cổ phiếu. Các cổ phiếu do công ty phát hành là một loại hàng hóa. Người có cổ phiểu có thể tự do chuyển nhượng theo quy định của pháp luật.
Công ty cổ phần chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của công ty. Các cổ đông chịu Luan van 12 trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Trong quá trình hoạt động công ty cổ phần có quyền phát hành chừng khoán (như cổ phiếu, trái phiếu) ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán để huy động vốn. Điều này thể hiện khả năng huy động vốn lớn của công ty cổ phần.
Công ty hợp danh Công ty hợp danh được pháp luật ghi nhận là một hình thức của công ty đối nhân, trong đó có ít nhất 2 thành viên (đều là cá nhân và là thương nhân) cùng tiến hành hoạt động thương mại (theo nghĩa rộng) dưới một hàng chung (hay hội danh) và cùng liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ của công ty. Ngoài các thành viên hợp danh, có thể có thành viên góp vốn. Thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.
Do tính an toàn pháp lý đối với công chúng cao, mặt khác các thành viên thường có quan hệ mật thiết về nhân thân, nên việc quản lý công ty hợp danh chịu rất ít sự ràng buộc của pháp luật. Về cơ bản, các thành viên có quyền tự thỏa thuận về việc quản lý, điều hành công ty. Tuy nhiên cần lưu ý là quyền quản lý công ty hợp danh chỉ thuộc về các thành viên hợp danh, thành viên góp vốn không có quyền quản lý công ty. Trong công ty hợp danh, Hội đồng thành viên là cơ quan quyết đinh cao nhất của công ty bao gồm tất cả các thành viên hợp danh.
Hội đồng thành viên có quyền quyết định mọi hoạt động của công ty. Khi họp Hội đồng thành viên, các thành viên hợp danh có quyền ngang nhau trong biểu quyết (mỗi thành viên chỉ có một phiếu biểu quyết) mà không phụ thuộc vào giá trị phần vốn góp của họ trong công ty. Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa quyền của các thành viên trong quản lý của công ty hợp danh với quyền của các thành viên trong quản lý công ty đối vốn (công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần). Luan van 13 Trong quá trình hoạt động của công ty, các thành viên hợp danh phân công nhau đảm nhiệm các chức trách quản lý và kiểm soát công ty và cử một người (trong số thành viên hợp danh) làm Giám đốc công ty.
Giám đốc thực hiện nhiệm vụ điều hành công việc trong công ty, phân công, điều hòa, phối hợp công việc của các thành viên hợp danh và thực hiện các công việc khác theo ủy quyền của các thành viên hợp danh. Vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế Thứ nhất, KTTN tạo ra một khối lượng của cải vật chất to lớn, đóng góp đáng kể vào giá trị thu nhập của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Cũng cần nói thêm rằng, hiện nay không một quốc gia nào trên thế giới coi nhẹ vai trò, vị trí của KTTN. Thứ hai, trong nền kinh tế thị trường hiện đại, ở các nước có nền kinh tế phát triển cao và hiệu quả, tỷ lệ đóng góp vào tổng sản phẩm quốc dân của khu vực KTTN bao giờ cũng cao hơn khu vực kinh tế Nhà nước.
Thứ ba, KTTN tạo ra động lực phát triển mạnh mẽ, đóng góp ngày càng lớn vào ngân sách Nhà nước, tham gia tích cực và hiệu quả trong việc thực hiện các mục tiêu xã hội.