CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 1. Các lý thuyết kinh tế phát triển liên quan 1. Lý thuyết lợi thế theo qui mô: Theo Robert S.Pindyck và Raniel.Rubinfeld xuất bản năm 1999 nhà xuất bản thống kê: Hiệu suất kinh tế tăng dần theo quy mô có thể xảy ra do: - Một số chi phí như nghiên cứu, thiết kế, khấu hao ….
Có thể cố định so với sản lượng. - Chi phí nguyên liệu sử dụng trong máy móc thiết bị tăng cùng với sản lượng nhưng với một tỷ lệ thấp hơn. - Quy mô lớn hơn cho phép công nhân và các nhà quản lý chuyên môn hóa các nhiệm vụ của họ và khai thác những nhà xưởng thiết bị đồ sộ hơn, tinh vi hơn. Máy móc thiết bị được chuyên môn hoá cũng có năng suất cao hơn vì giảm thời gian gá lắp lại thiết bị.
Trường hợp này tổ chức sản xuất với quy mô lớn sẽ có lợi thế kinh tế hơn nhiều hãng nhỏ. Trường hợp thứ hai là hiệu suất không đổi theo quy mô tức là đầu ra tăng cùng một tỷ lệ với đầu vào, trong trường hợp này quy mô sản xuất không ảnh hưởng đến năng suất đầu vào. Trường hợp cuối cùng sản lượng có thể tăng với tỷ lệ nhỏ hơn tỷ lệ tăng của đầu vào, khi đó hiệu suất giảm dần theo quy mô. Điều này thường xảy ra đối với các quy mô sản xuất quá lớn.
Những khó khăn về sản xuất xuất phát từ tính phức tạp của quá trình tổ chức và điều hành sản xuất lớn rốt cục có thể làm cho năng suất của cả lao động lẫn vốn đều giảm, liên hệ giữa công nhân và các nhà quản lý càng trở nên khó theo dõi hơn và chỗ làm việc trở nên khó quản lý hơn. Như vậy trường hợp hiệu suất giảm dần theo quy mô có liên quan LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 với những vấn đề phối hợp các nhiệm vụ và duy trì những kênh liên lạc hữu ích giữa người quản lý và người làm thuê. Trở lại với vấn đề sản xuất nông nghiệp, sản xuất kiểu nông hộ với quy mô nhỏ lẻ gây khó khăn cho việc cơ giới hoá vì máy cày, máy xới rất khó di chuyển trong hoàn cảnh như vậy, việc tưới tiêu chủ động cũng khó khăn, thực tế khi dịch bệnh diễn ra cũng rất khó dập dịch vì các hộ chăn nuôi nhỏ thường thả rông. Kinh tế trang trại với diện tích đất tập trung lớn hơn sẽ thuận tiện cho cơ giới hóa, giải phóng sức người, vốn cũng được tập trung mật độ cao hơn do đó việc áp dụng các công nghệ kỹ thuật mới thuận tiện hơn, do vốn mạnh hơn việc ứng dụng phân bón và thuốc để đạt năng suất cao hơn cũng dễ dàng hơn do vậy kinh tế trang trại có hiệu suất cao hơn và có lợi thế kinh tế theo quy mô.
Lý thuyết về chuyển giao công nghệ sản xuất nông nghiệp Wharton C. (1971): đã đưa ra 6 nguyên nhân chính giải thích lý do mà nông dân không sẵn lòng áp dụng kỹ thuật mới: - Không biết hoặc không hiểu về kỹ thuật mới do đó không dám áp dụng - Không có đủ năng lực để thực hiện: vì không có kiến thức và kỹ năng mới để thực hiện kỹ thuật mới - Không được chấp nhận về mặt tâm lý văn hoá và xã hội: do nông dân sản xuất theo tập quán nông nghiệp truyền thống, cách tính toán không phải trên giấy mà bằng kinh nghiệm và suy nghĩ riêng. - Không thích nghi: do không biết kỹ thuật mới có thích nghi với điều kiện địa phương không. - Không khả thi về kinh tế: do chi phí tăng cùng với sản lượng tăng nhưng lợi nhuận thấp hơn cách tính truyền thống.
- Không sẵn có điều kiện để áp dụng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Như vậy trong 6 yếu tố ảnh hưởng chính thì có đến 3 yếu tố là do kiến thức yếu của nông dân. Có thể thấy ngoài những yếu tố đầu vào quan trọng của sản xuất như giống mới, phân, thuốc, trang bị cơ giới và vốn thì kiến thức nông nghiệp đã trở nên yếu tố quan trọng giúp nông dân thành công trong hoạt động sản xuất. Kiến thức nông nghiệp của nông dân có thể xem như là tổng thể các kiến thức về kỹ thuật , kinh tế và cộng đồng mà người nông dân có được và ứng dụng vào hoạt động sản xuất của mình.
Theo Alfred Marshall (1890), kiến thức là động lực mạnh mẽ nhất của sản xuất.C Hsiesh (1963), kiến thức nông nghiệp của nông dân phụ thuộc vào mức độ họ tiếp cận với các hoạt động cộng đồng ở vùng nông thôn. Wharton (1963) cho rằng nông dân phải có đủ kiến thức để kết hợp các nguồn lực thì sản xuất mới hiệu quả, nhất là các chủ trang trại với quy mô sản xuất lớn nếu không có kiến thức để kết hợp các nguồn lực do tích lũy phát triển đã trở nên lớn và phức tạp thì sẽ bị hiện tượng hiệu suất kinh tế giảm dần theo quy mô. Khái niệm về vốn trong nông nghiệp – Mô hình Harrod- Domar: Vốn trong sản xuất nông nghiệp: là toàn bộ tiền đầu tư, mua hoặc thuê các yếu tố nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp. Đó là số tiền dùng để mua hoặc thuê ruộng đất, đầu tư hệ thống thủy nông, vườn cây lâu năm, máy móc thiết bị, nông cụ và tiền mua vật tư (phân bón nông dược thức ăn gia súc).
Vốn trong nông nghiệp được phân thành vốn cố định và vốn lưu động. Vốn cố định: là biểu hiện bằng tiền giá trị đầu tư vào tài sản cố định như tư liệu lao động có giá trị lớn, sử dụng trong một thời gian dài vẫn giữ nguyên hình thái ban đầu và giá trị của nó được chuyển dần sang giá trị sản phẩm sản xuất ra LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 theo mức độ hao mòn. Ví dụ máy móc nông nghiệp, nhà kho, sân phơi, công trình thủy nông, gia súc làm việc, gia súc sinh sản, vườn câylâu năm. Vốn lưu động: là biểu hiện bằng tiền giá trị đầu tư vào tài sản lưu động là những tư liệu lao động có giá trị nhỏ, được sử dụng trong một thời gian ngắn, sau một chu kỳ sản xuất nó mất đi hoàn toàn hình thái ban đầu và chuyển toàn bộ vào giá trị sản phẩm sản xuất ra.
Ví dụ: phân bón, thuốc trừ sâu - dịch bệnh, thức ăn gia súc, nguyên vật liệu. Harrod- Domar cho rằng nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế chính là lượng vốn sản xuất tăng thêm có được từ đầu tư và tiết kiệm của quốc gia. Ứng dụng trong kinh tế trang trại khi quy mô vốn tự có tích lũy qua năm tháng và vốn vay tăng lên giá trị tổng sản lượng và năng suất lao động của trang trại sẽ tăng nếu vốn được đầu tư đúng. Lý thuyết mô hình kinh tế hai khu vực Luận điểm cơ bản: nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế chính là khả năng thu hút lao động nông nghiệp của khu vực công nghiệp.1 Mô hình Lewis: Đối với khu vực nông nghiệp: do đất đai ngày càng khan hiếm, trong khi lao động ngày càng tăng.
Hệ quả là có tình trạng dư thừa lao động trong khu vực nông nghiệp. Khi đó khu vực nông nghiệp có một số đặc trưng sau: - Sản phẩm biên của lao động nông nghiệp bằng không. - Mức tiền lương ở mức tối thiểu. - Lao động giảm đi không ảnh hưởng đến tổng sản phẩm nông nghiệp.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Đường tổng sản phẩm nông nghiệp Đối với khu vực công nghiệp: Lewis cho rằng mức tiền lương ở khu vực công nghiệp cao hơn khu vực nông nghiệp, ở mức cao hơn 30% so với mức tối thiểu của khu vực nông nghiệp thì có thể thu hút lao động dư thừa ở khu vực nông nghiệp. Lúc đầu vì tiền lương công nhân không đổi, tổng sản phẩm tăng do đó lợi nhuận của nhà tư bản công nghiệp tăng. Lợi nhuận được tái đầu tư mở rộng sản xuất và thu hút thêm lao động. Quá trình này sẽ tiếp tục cho đến khi thu hút hết lao động dư thừa.
Nếu tiếp tục thu hút lao động từ khu vực nông nghiệp tiền lương bây giờ phải cao hơn. Lợi nhuận của khu vực công nghiệp sẽ giảm. Do đó để mở rộng tổng sản phẩm nhà tư bản công nghiệp sẽ chọn yếu tố khác thay thế lao động (công nghệ thâm dụng vốn), quá trình tăng trưởng sẽ tiếp tục. Mô hình Lewis cho thấy tăng trưởng của nền kinh tế được thực hiện trên cơ sở của tăng trưởng công nghiệp thông qua tích lũy vốn từ lao động dư thừa của khu vực công nghiệp.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 Như vậy để thực hiện tăng trưởng nông nghiệp cần tăng sản lượng trên cơ sở tăng năng suất lao động, khi ta phát triển kinh tế trang trại quá trình tích lũy đất và vốn sẽ làm mở rộng quy mô dẫn đến tăng năng suất lao động, giải phóng lao động nông thôn sang làm bên khu vực kinh tế công nghiệp lương cao hơn. Y3 TP(K3) Y2 TP(K2) TP(K1) Y1 Li D3 D1 Si W2 W1 L1 L2 L3 Hình 1.2: Quá trình dịch chuyển lao động LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Oshima Oshima cho rằng: - Khu vực nông nghiệp có dư thừa lao động, nhưng chỉ là lúc thời vụ không căng thẳng. - Đầu tư chiều sâu cả nông nghiệp và công nghiệp là không khả thi vì nguồn lực và trình độ lao động có hạn của các nước đang phát triển. Do đó ông đề nghị 3 giai đoạn phát triển: - Giai đoạn 1: đầu tư cho nông nghiệp phát triển theo chiều rộng nhằm đa dạng hóa sản xuất thu hút lao động tại nông nghiệp không cần dịch chuyển qua khu vực công nghiệp.
Như vậy đòi hỏi vốn không lớn và kỹ thuật trình độ không cao. Nông nghiệp mở rộng sản lượng và xuất khẩu tạo ngoại tệ nhập khẩu máy móc thiết bị cho các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động. - Giai đoạn 2: đồng thời đầu tư phát triển theo chiều rộng các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Tiếp tục đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp, ứng dụng công nghệ sinh học, sản xuất theo quy mô lớn (trang trại) nhằm mở rộng quy mô sản lượng.
Phát triển công nghiệp chế biến, công nghiệp cung cấp đầu vào cho nông nghiệp và các ngành công nghiệp thâm dụng lao động. Như vậy phát triển nông nghiệp tạo điều kiện để mở rộng thị trường công nghiệp, tăng thêm quy mô sản xuất công nghiệp và nhu cầu về các hoạt động dịch vụ. - Giai đoạn 3: Phát triển kinh tế theo chiều sâu nhằm giảm nhu cầu lao động.