Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế trang trại 1. Trang trại và kinh tế trang trại KTTT ra đời và phát triển từ rất lâu, các chuyên gia về sử học và kinh tế học thế giới đã chứng minh từ thời đế quốc La Mã, các TT đã hình thành, trong đó lực lượng sản xuất chủ yếu là các nô lệ, ở Trung Quốc TT có từ đời nhà Đường. TT trên thế giới bắt đầu phát triển mạnh khi chế độ tư bản chủ nghĩa ra đời [1].
Ở Việt Nam TT đã xuất hiện nhiều thế kỷ, trong thời kỳ lịch sử của đất nước, quá trình hình thành và phát triển của TT cũng có sự khác nhau. TT thực sự phát triển là sau khi thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ chính trị (1988), Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều nghị quyết, Luật Đất đai, Luật dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư và các Nghị định nhằm thể chế hoá chính sách đối với kinh tế tư nhân trong nông nghiệp, cho đến năm 2000 Chính phủ ban hành nghị quyết 03/2000/NQ - CP ngày 02/02/2000 về KTTT đã nhấn mạnh chủ trương của Chính phủ trong việc phát triển KTTT tạo hành lang pháp lý cho loại hình KTTT phát huy năng lực SXKD thông qua các chính sách ưu đãi về nhiều mặt đối với KTTT. Mặt khác, hình thành các tiêu chí KTTT nhằm tạo điều kiện quản lý, hỗ trợ và khuyến khích phát triển KTTT trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Các tiêu chí thực hiện lần lượt theo các thông tư sau: Thông tư Liên tịch số 69/2000/TTLT-BNN-TCTK ngày 23/6/2000 của Bộ NN&PTNT và Tổng cục Thống kê hướng dẫn tiêu chí để xác định KTTT; Thông tư Số 74/2003/TT-BNN, ngày 04 tháng 07 năm 2003 của Bộ NN&PTNT sửa đổi, bổ sung Mục III của Thông tư liên tịch 69/2000/TTLT/BNN- TCTK và hiện tiêu chí TT đang thực hiện theo Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13 tháng 4 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn.
Khái niệm trang trại và kinh tế trang trại a. Khái niệm trang trại Để biểu đạt loại hình TT, các nước đều có ngôn từ dùng để chỉ các hình thức tổ chức sản xuất tập trung (Farm, Farm stedd, Farm house (Anh); Ferme (Pháp); Oepma…) khi chuyển sang tiếng Việt dịch là TT hay nông trại [23]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 - Theo tác giả Đào Hữu Hòa: “TT là cơ sở, là doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp của một hoặc một số nhóm nhà kinh doanh” [19]. Qua đó “TT” là thuật ngữ dùng để mô tả, chỉ tên và gắn liền với hình thức SXNN tập trung trên một diện tích đủ lớn, với quy mô hộ gia đình là chủ yếu, trong điều kiện sản xuất hàng hoá của nền kinh tế thị trường.
- Theo tác giả Lê Xuân Lãm: “TT là một loại hình tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm, thuỷ sản có mục đích chính là sản xuất hàng hoá, có tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường” [24]. Các quan khái niệm trên xem xét TT ở nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng thành tựu chung đều thống nhất cho rằng: TT là một hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa, trong đó: người đầu tư vào TT với mục đích sản xuất hàng hoá để cung ứng cho thị trường với quy mô mức độ tập trung các yếu tố sản xuất (đất đai, vốn, trình độ kỹ thuật sản xuất, năng lực quản lý điều hành) tương đối lớn hơn so với các hình thức tổ chức sản xuất thông thường của các hộ nông dân. Như vậy có thể khái quát khái niệm TT như sau: “TT là loại hình cơ sở SXKD nông-lâm-ngư nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa của các hộ gia đình nông dân, hình thành và phát triển chủ yếu trong điều kiện kinh tế thị trường với quy mô lớn” là phù hợp hơn cả. Trong thực tế nói đến phát triển TT và phát triển kinh tế TT theo nghĩa đồng nhất.
Tuy nhiên, về mặt thuật ngữ đây là hai khái niệm không hoàn toàn đồng nhất. Như trên đã nêu, nói TT là nhấn mạnh đến hình thức tổ chức sản xuất, còn nói KTTT là nhấn mạnh đến loại hình kinh tế. Khái niệm kinh tế trang trại Theo tác giả Đào Hữu Hòa: “KTTT là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở, là doanh nghiệp trực tiếp tổ chức sản xuất ra nông sản hàng hoá dựa trên cơ sở hợp tác và phân công lao động xã hội, được chủ TT đầu tư vốn, thuê mướn phần lớn hoặc hầu hết sức lao động và trang bị tư liệu sản xuất để hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của nền kinh tế thị trường, được Nhà nước bảo hộ theo luật định” [19]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT về KTTT: “KTTT là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thủy sản.
Có quy mô đất đai, vốn, lao động, thu nhập tương đối cao hơn mức trung bình của kinh tế hộ gia đình tại địa phương, tương ứng với từng ngành nghề cụ thể” [3]. Theo một số tác giả khác có cùng chung một quan điểm đó là “KTTT là một loại hình kinh tế sản xuất hàng hoá phát triển trên cơ sở kinh tế hộ nhưng ở quy mô lớn hơn, được đầu tư nhiều hơn về cả vốn và kỹ thuật, có thể thuê mướn nhân công để sản xuất ra một hoặc vài loại sản phẩm hàng hoá từ nông nghiệp với khối lượng lớn cho thị trường”. Xuất phát từ các khái niệm và quan điểm trên theo tôi, ta có thể hiểu về KTTT như sau: “KTTT là một hình thức tổ chức kinh tế SXKD hàng hóa về nông - lâm - ngư nghiệp được hình thành trên cơ sở kinh tế hộ, có sự tập trung cao về các yếu tố sản xuất, có nhu cầu lớn về thị trường và khoa học công nghệ, có giá trị sản phẩm hàng hoá và thu nhập cao hơn so với mức bình quân của hộ gia đình trong vùng. Cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao”.
Vai trò của kinh tế trang trại Phát triển KTTT ở nhiều nước trên thế giới và nước ta trong những năm gần đây cho thấy vai trò quan trọng của KTTT trong quá trình phát triển kinh tế thị trường nói chung và hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nói riêng. Phát triển KTTT một cách tất yếu, cũng có nhu cầu về hợp tác cả về chiều rộng và chiều sâu, cả về chiều ngang lẫn chiều dọc. Nó cũng cần có cả một hệ thống chính sách, biện pháp ở tầm quản lí vĩ mô, đóng vai trò là bà đỡ, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng, lành mạnh theo hướng chuyên môn hoá, hợp tác hoá, để trở thành nền nông nghiệp sản xuất lớn đủ sức, là cơ sở nông nghiệp cho quá trình CNH-HĐH. Điều quan trọng hơn nữa của KTTT đã thể hiện rõ nét cả về mặt kinh tế cũng như về mặt xã hội và môi trường, đặc biệt là khai thác tiềm năng về đất đai, lao động, vốn.
Trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, vai trò của KTTT thể hiện ở một số nội dung cơ bản sau đây: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - Về mặt kinh tế: TT góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các loại cây trồng và vật nuôi có giá trị hàng hoá cao, khắc phục dần tình trạng sản xuất phân tán, manh mún, tạo nên những vùng chuyên môn hoá, tập trung hàng hoá và thâm canh cao. Mặt khác thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn. Thực tế cho thấy việc phát triển KTTT ở những nơi có điều kiện bao giờ cũng đi liền với việc khai thác và sử dụng một cách đầy đủ và hiệu quả các nguồn lực trong nông nghiệp, nông thôn so với kinh tế nông hộ. Do vậy, phát triển KTTT sẽ góp phần tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế của nông nghiệp và nông thôn.
- Về mặt xã hội: Phát triển KTTT giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho nông dân, góp phần xoá đói giảm nghèo. Mặt khác, phát triển KTTT còn góp phần thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng trong nông thôn và tạo tấm gương tốt cho các hộ nông dân sở tại và vùng lân cận về cách tổ chức và quản lý SXKD. Do đó, phát triển KTTT góp phần tích cực vào việc giải quyết các vấn đề xã hội và đổi mới bộ mặt nông thôn. - Về mặt môi trường: Do SXKD mang tính tự chủ và lợi ích thiết thực, lâu dài của mình cho nên các chủ TT luôn có ý thức khai thác hợp lý và quan tâm bảo vệ môi trường, trước hết là trong phạm vi không gian sinh thái TT đến phạm vi từng vùng.
Tại các tỉnh trung du Miền núi thì TT đã góp phần quan trọng vào việc trồng rừng, bảo vệ rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc và sử dụng hiệu quả tài nguyên đất đai, những việc làm này đã góp phần tích cực cải tạo và bảo vệ môi trường sinh thái trên các vùng, miền trong cả nước. Đặc trưng của kinh tế trang trại Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT, KTTT có các đặc trưng sau [3]. - Thứ nhất, mục đích chủ yếu của KTTT là sản xuất nông, lâm, thủy sản hàng hoá với quy mô lớn. - Thứ hai, mức độ tập trung chuyên môn hoá các điều kiện và yếu tố sản xuất cao hơn so với sản xuất nông hộ, thể hiện ở quy mô sản xuất như đất đai, qui mô đàn gia súc gia cầm, lao động, giá trị nông, lâm, thủy sản hàng hoá.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Thứ ba, Chủ TT có ý thức làm giàu, có nghị lực và quyết tâm làm giàu cho bản thân, gia đình và xã hội. Nhìn chung, chủ TT là người có năng lực và kinh nghiệm tổ chức, quản lý điều hành sản xuất, biết áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật (KHKT), tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới vào sản xuất, sử dụng lao động gia đình và thuê lao động bên ngoài sản xuất có hiệu quả cao, có thu nhập vượt trội so với kinh tế hộ.