CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI 1. Khái niệm về trang trại, kinh tế trang trại Trang trại là một đơn vị kinh doanh nông nghiệp, được phát triển trên cơ sở kinh tế hộ gia đình nông dân, với mục đích chính là sản xuất hàng hoá. Trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở tập trung nông, lâm, thuỷ sản với mục đích chính là sản xuất hàng hoá, có quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất đủ lớn, có trình độ kỹ thuật cao, tổ chức và quản lý tiến bộ [23].
Theo Michael Liptop, tháng 6 năm 2005, “Kinh tế trang trại là những đơn vị hoạt động kinh doanh trong nông nghiệp mà phần lớn là lao động gia đình và được điều hành bởi người chủ là thành viên gia đình”. Kinh tế trang trại là khái niệm rộng hơn, là tổ chức kinh tế hàng hoá nông, lâm, ngư nghiệp, được hình thành trên cơ sở kinh tế hộ gia đình, có tích tụ nhất định về quy mô đất đai, lao động, vốn, khoa học kỹ thuật và công nghệ nhằm tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hoá ngày càng lớn và thu được lợi nhuận cao. Theo Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02 tháng 02 năm 2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại như sau [6]: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản”. Để thuận lợi cho việc nghiên cứu đề tài, trong khuôn khổ nội dung nghiên cứu tác giả xin đưa ra cách xác định kinh tế trang trại như sau: Kinh tế Luan van -7- trang trại là đơn vị hoạt động kinh doanh độc lập trong nông, lâm, ngư nghiệp, lao động chủ yếu là thành viên trong gia đình, quy mô tương đối lớn, với việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật nhằm tạo ra khối lượng hàng hoá nông sản lớn và nâng cao hiệu quả sản xuất.
Đề tài nghiên cứu tập trung phần lớn vào các trang trại thuộc sở hữu tư nhân (trạng trại kinh tế gia đình). Đặc trưng của kinh tế trang trại Kinh tế trang trại được quan niệm khác hẳn với kinh tế hộ nông dân. Kinh tế hộ nông dân thường được hiểu là kinh tế tiểu nông, sử dụng lao động gia đình là chính, chủ yếu nhằm thoả mãn các nhu cầu tiêu dùng của hộ gia đình. Kinh tế trang trại là một hình thức kinh tế nông nghiệp mang tính sản xuất hàng hoá, có sử dụng lao động thuê ngoài, sản xuất với mục tiêu chính để phục vụ thị trường.
Nền kinh tế trang trại có những đặc trưng sau [24]: a. Sản xuất mang tính hàng hoá nông nghiệp: Kinh tế trang trại chủ yếu là sản xuất ra sản phẩm hàng hoá, dịch vụ nông, lâm và ngư nghiệp ngày càng nhiều đáp ứng nhu cầu của thị trường để thu được lợi nhuận, tích luỹ vốn nhằm phát triển mở rộng quy mô sản xuất. Còn hộ tiểu nông chỉ sản xuất nông nghiệp là chủ yếu để tự đáp ứng những nhu cầu hàng ngày của gia đình. Thông thường, người nông dân phải trích một lượng sản phẩm làm ra của mình đem bán để có tiền chi tiêu cho các nhu cầu tái sản xuất và sinh hoạt thường ngày của gia đình.
Trình độ chuyên môn hoá, tập trung hoá: Hiện nay, trong sản xuất nông nghiệp chia ra làm 3 cấp độ: Các xí nghiệp, lâm trường, nông trường sản xuất hàng hoá theo hướng chuyên môn hoá, tập trung hoá cao nhất. Kinh tế hộ nông nghiệp sản xuất chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu của gia đình, đây là kiểu sản xuất manh mún, nhỏ lẻ và không mang tính chuyên môn hoá. Kinh tế trang trại thuộc loại giữa, phát triển sản xuất với mục đích kinh doanh. Quy mô sản xuất, vốn đầu tư, trang thiết bị, lao động… lớn hơn nhiều với kinh tế hộ.
Do Luan van -8- vậy, sẽ tạo ra khối lượng sản phẩm vượt nhu cầu của gia đình để thành hàng hoá cung cấp cho thị trường. Mặc khác, do mục tiêu chính là lợi nhuận nên sản xuất kinh doanh ở trang trại phải đi vào chuyên môn hoá, tập trung hoá. Trình độ áp dụng khoa học kỹ thuật: So với kinh tế nông hộ, kinh tế trang trại với mục tiêu là sản xuất hàng hoá bán ra thị trường để thu lợi nhuận. Do vậy, đầu tư để trang bị và áp dụng những kỹ thuật mới cho việc sản xuất kinh doanh nằm nâng cao năng suất, chất lượng cho sản phẩm.
Chỉ có như vậy, kinh tế trang trại mới sản xuất ra khối lượng hàng hoá có sức cạnh tranh trên thị trường. Rõ ràng, để chuyển từ kinh tế hộ nông dân bình thường sang làm chủ trang trại là một bước chuyển biến về chất trên nhiều lĩnh vực, từ tư duy đến trình độ kỹ thuật, quản lý và phong cách làm ăn mới trong nền kinh tế thị trường đáp ứng nhu cầu tất yếu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Mối quan hệ với thị trường: Đối với kinh tế trang trại, việc hạch toán dưới hình thức giá trị là tối cần thiết. Hoạt động sản xuất kinh doanh phải luôn gắn chặt với thị trường, lấy thị trường và lợi nhuận là mục tiêu, là đích cuối cùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Do vậy, chủ trang trại phải luôn tìm hiểu, nghiên cứu thị trường trong và ngoài vùng, từ đó tìm ra xu hướng nhu cầu của thị trường để có chiến lược sản xuất kinh doanh và marketing cho sản phẩm hàng hoá của trang trại mình. Chủ trang trại - nhà kinh doanh: Tuy không hình thành bộ máy tổ chức quản lý, chủ yếu là sử dụng lao động của gia đình, việc thuê mướn lao động chỉ phát sinh khi thực sự cần thiết với quy mô hạn chế. Hiện nay, một số trang trại quy mô tương đối lớn đã thuê lao động thường xuyên. Chủ trang trại là người có đầu óc tổ chức, biết hạch toán lỗ, lãi, có khao khát và tham vọng làm giàu.
Các loại hình trang trại [17] + Trong nền kinh tế tự cấp tự túc và buổi đầu của kinh tế hàng hoá, hộ tiểu nông không chỉ là đơn vị sản xuất cơ bản mà còn là đơn vị tiêu dùng. Nó chỉ sử dụng tiền vốn và sức lao động của chính gia đình nông hộ với mục tiêu tối đa hoá lợi ích, còn ruộng đất có thể thuộc sở hữu của nông hộ, cũng có thể đi thuê hoặc lĩnh canh. Đó chính là trang trại gia đình tự cấp tự túc. Lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ sản xuất mới ra đời cho phép mở rộng qui mô sản xuất và nâng cao hiệu quả của sản xuất nông nghiệp, làm thay đổi quan hệ sản xuất.
Theo đó, các hộ tiểu nông dần dần trở thành các tổ chức kinh doanh nông nghiệp với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận. Vì thế, các trang trại sản xuất hàng hoá ra đời với tư cách là kết quả của quá trình tích tụ tư bản, mà trước hết là tích tụ ruộng đất trong nông nghiệp. Mục tiêu tối đa hoá lợi ích và tối đa hoá lợi nhuận của sản xuất nông nghiệp là tiêu chí cơ bản để phân định hộ tiểu nông (trang trại gia đình tự cấp tự túc) với trang trại sản xuất hàng hoá - tổ chức kinh doanh trong nông nghiệp theo cơ chế kinh tế thị trường. Vì thế, sản xuất nông nghiệp của trang trại sản xuất hàng hoá mang tính chất kinh doanh, còn hộ tiểu nông thì không.
Với tư cách là một tổ chức kinh doanh nông nghiệp trong nền kinh tế thị trường, các trang trại cũng tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, được phân loại dựa trên tiêu chí về bản chất kinh tế - xã hội, chế độ sở hữu và địa vị pháp lý, như các tổ chức kinh doanh trong các ngành công nghiệp, dịch vụ. + Hộ kinh doanh cá thể (“doanh nghiệp gia đình”) trong nông nghiệp chính là kinh tế nông hộ hay chính là trang trại gia đình sản xuất hàng hoá (Farmhousehold). Theo đó, trang trại gia đình chủ yếu sử dụng tiền vốn, ruộng đất (thuộc quyền sở hữu hay quyền sử dụng, nếu phải đi thuê hay lĩnh canh) và sức lao động của gia đình để sản xuất nông sản hàng hoá. Do vậy, tiền vốn và ruộng đất cũng phải được tích tụ đến mức đủ lớn để trang trại có Luan van -10- thể sản xuất hàng hoá có hiệu quả, nhờ đầu tư lớn hơn hộ tiểu nông.
+ Doanh nghiệp cá nhân kinh doanh nông nghiệp chính là trang trại cá nhân (Solefarm) sản xuất nông sản hàng hoá. Trang trại cá nhân do một cá nhân đầu tư vốn với tư cách là chủ sở hữu duy nhất, và chủ yếu sử dụng sức lao động làm thuê. Chủ trang trại có thể mua hoặc thuê, lĩnh canh ruộng đất của người khác để tạo lập trang trại. Trang trại gia đình và trang trại cá nhân đều giống nhau về mặt sở hữu vốn đầu tư, nhưng khác nhau ở chỗ chủ yếu sử dụng sức lao động gia đình hay sức lao động làm thuê.
+ Công ty hợp danh kinh doanh nông nghiệp chính là trang trại hợp danh (Farming Partnership). Trong đó, có 2 loại chủ sở hữu, 2 loại thành viên công ty. Một loại chủ (thành viên) là đồng sở hữu chủ và chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi vốn góp của mình vào trang trại, chỉ được phân chia lợi tức và rủi ro (lỗ) theo tỉ lệ vốn góp và không có quyền quản lý trang trại, gọi là thành viên góp vốn; một loại chủ (thành viên) cũng là đồng sở hữu chủ và được hưởng lợi tức và chịu rủi ro theo tỉ lệ vốn góp của mình vào trang trại, nhưng phải chịu trách nhiệm vô hạn trước các khoản công nợ của trang trại, nên có quyền quản lý trang trại, được gọi là thành viên hợp danh. Cũng như trang trại cá nhân, trang trại hợp danh chủ yếu sử dụng sức lao động làm thuê, có thể có quyền sở hữu ruộng đất hoặc thuê đất, lĩnh canh đất của người khác.
Nhưng do khả năng về vốn lớn hơn, nên qui mô sản xuất - kinh doanh của trang trại hợp danh lớn hơn trang trại cá nhân. + Công ty trách nhiệm hữu hạn kinh doanh nông nghiệp chính là trang trại hữu hạn (Farming Company limited).