Luận văn: Phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi tại tỉnh Phú Thọ

Luận văn thạc sĩ: Phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi tại Phú Thọ. Nghiên cứu giải pháp thúc đẩy ngành chăn nuôi Phú Thọ bền vững và hiệu quả.

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Tác giả

Phạm Thanh Bình

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

104
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan kinh tế trang trại chăn nuôi Phú Thọ 2024

Phú Thọ, một tỉnh trung du miền núi phía Bắc, sở hữu những điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội đặc thù, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi. Với địa hình đa dạng gồm vùng núi cao, vùng gò đồi và dải đồng bằng ven sông, tỉnh có lợi thế để phát triển đa dạng các mô hình chăn nuôi quy mô lớn. Luận văn của tác giả Phạm Thanh Bình (2018) đã chỉ ra rằng, vị trí địa lý của Phú Thọ là một cầu nối giao thương quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm. Giai đoạn 2012-2016 chứng kiến sự chuyển dịch tích cực trong cơ cấu nông nghiệp, trong đó kinh tế trang trại (KTTT), đặc biệt là trang trại chăn nuôi, đã khẳng định vai trò then chốt. Số lượng trang trại tăng lên, góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân và thúc đẩy xây dựng nông thôn mới. Tuy nhiên, sự phát triển này vẫn còn mang tính tự phát, chưa khai thác hết tiềm năng sẵn có. Việc nhận diện đúng thực trạng, từ đó đưa ra các giải pháp chiến lược là yêu cầu cấp thiết để mô hình này phát triển một cách bền vững, chuyên nghiệp và hiệu quả hơn, đóng góp nhiều hơn vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh.

1.1. Điều kiện tự nhiên và tiềm năng phát triển chăn nuôi

Phú Thọ có vị trí địa lý chiến lược, nằm ở trung tâm vùng Trung du miền núi phía Bắc, là cửa ngõ kết nối các tỉnh Tây Bắc với đồng bằng sông Hồng và thủ đô Hà Nội. Địa hình bị chia cắt thành hai tiểu vùng rõ rệt: vùng núi cao phía Tây và Nam phù hợp cho trang trại lâm nghiệp và chăn nuôi đại gia súc; vùng gò đồi thấp xen kẽ đồng bằng ven sông Hồng, sông Lô thuận lợi cho việc trồng cây công nghiệp, lương thực và phát triển chăn nuôi gia cầm, lợn quy mô lớn. Khí hậu nhiệt đới gió mùa với lượng mưa và số giờ nắng dồi dào là điều kiện lý tưởng cho sự sinh trưởng của nhiều loại cây trồng, vật nuôi. Nguồn tài nguyên đất đa dạng, từ đất phù sa ven sông màu mỡ đến các loại đất feralit trên đồi núi, cho phép đa dạng hóa cơ cấu sản xuất. Những yếu tố này tạo nên một bức tranh tổng thể đầy tiềm năng để phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi Phú Thọ một cách toàn diện.

1.2. Vai trò của kinh tế trang trại trong cơ cấu nông nghiệp

Kinh tế trang trại đóng vai trò là động lực chính trong quá trình hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn tại Phú Thọ. Mô hình này góp phần phá vỡ tư duy sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, chuyên môn hóa cao. Theo nghiên cứu, các trang trại không chỉ tạo ra khối lượng sản phẩm lớn, đáp ứng nhu cầu thị trường tiêu thụ mà còn là nơi tiên phong áp dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất. Sự phát triển của các trang trại chăn nuôi giúp giải quyết việc làm cho lao động địa phương, tăng thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo và ổn định xã hội. Hơn nữa, đây là mô hình nòng cốt trong việc xây dựng chuỗi giá trị sản phẩm, từ khâu sản xuất, chế biến đến tiêu thụ, nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản địa phương.

II. Top 3 thách thức lớn của kinh tế trang trại chăn nuôi Phú Thọ

Mặc dù sở hữu nhiều tiềm năng, quá trình phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi tại Phú Thọ vẫn đối mặt với không ít rào cản. Các thách thức này không chỉ đến từ yếu tố nội tại của các trang trại mà còn từ môi trường chính sách và thị trường. Luận văn của Phạm Thanh Bình đã nhấn mạnh, một trong những hạn chế lớn nhất là sự phát triển còn tự phát, thiếu quy hoạch đồng bộ, dẫn đến việc sử dụng tài nguyên chưa hiệu quả và tiềm ẩn nguy cơ về môi trường. Các chủ trang trại thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi, đặc biệt là vốn trung và dài hạn để đầu tư cơ sở hạ tầng hiện đại. Bên cạnh đó, việc ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất còn hạn chế, chủ yếu vẫn dựa vào kinh nghiệm truyền thống. Thị trường tiêu thụ sản phẩm cũng là một bài toán nan giải khi thiếu sự liên kết bền vững trong chuỗi giá trị, khiến sản phẩm thường bị ép giá và đầu ra không ổn định. Việc nhận diện và giải quyết triệt để những thách thức này là yếu tố quyết định sự thành bại của mô hình KTTT chăn nuôi trong tương lai.

2.1. Hạn chế về quy hoạch và chính sách đất đai còn chồng chéo

Một trong những rào cản cốt lõi là công tác quy hoạch phát triển KTTT chăn nuôi chưa theo kịp thực tiễn. Nhiều trang trại hình thành một cách tự phát, không nằm trong vùng quy hoạch, gây khó khăn cho công tác quản lý, đầu tư hạ tầng và kiểm soát dịch bệnh, môi trường. Chính sách đất đai vẫn còn những điểm vướng mắc. Việc tích tụ ruộng đất để mở rộng quy mô trang trại còn gặp nhiều khó khăn do tình trạng đất đai manh mún. Thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Giấy chứng nhận kinh tế trang trại đôi khi còn phức tạp, làm chậm quá trình đầu tư và hạn chế khả năng thế chấp vay vốn tín dụng của các chủ trang trại. Sự thiếu đồng bộ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch phát triển ngành chăn nuôi cần được giải quyết để tạo hành lang pháp lý thông thoáng.

2.2. Khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn và khoa học kỹ thuật

Vốn và công nghệ là hai yếu tố sống còn của sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Tuy nhiên, đa số các trang trại tại Phú Thọ, đặc biệt là các trang trại quy mô vừa và nhỏ, đang đối mặt với bài toán thiếu nguồn vốn. Việc tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi từ ngân hàng còn hạn chế do các yêu cầu về tài sản thế chấp và thủ tục phức tạp. Song song đó, trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi chưa cao. Nhiều chủ trang trại vẫn sản xuất theo kinh nghiệm, chưa mạnh dạn đầu tư vào các công nghệ chăn nuôi hiện đại, hệ thống xử lý chất thải hay giống vật nuôi năng suất cao. Điều này làm giảm hiệu quả kinh tế, tăng rủi ro dịch bệnh và ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường.

2.3. Vấn đề thị trường tiêu thụ và liên kết chuỗi giá trị yếu

Thị trường tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi vẫn là một điểm nghẽn lớn. Phần lớn sản phẩm được bán qua các kênh thương lái truyền thống, dẫn đến tình trạng bị động về giá cả và đầu ra không ổn định. Sự liên kết chuỗi giữa trang trại – doanh nghiệp chế biến – nhà phân phối còn rất lỏng lẻo. Các trang trại chưa xây dựng được thương hiệu mạnh cho sản phẩm của mình, làm giảm sức cạnh tranh trên thị trường. Việc thiếu thông tin thị trường, dự báo cung cầu cũng khiến các chủ trang trại gặp rủi ro khi mở rộng sản xuất. Để phát triển bền vững, việc xây dựng các chuỗi giá trị hoàn chỉnh, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ là nhiệm vụ bắt buộc.

III. Phương pháp quy hoạch phát triển trang trại chăn nuôi Phú Thọ

Để khắc phục tình trạng phát triển tự phát và thiếu định hướng, công tác quy hoạch đóng vai trò xương sống, định hình tương lai cho ngành chăn nuôi của tỉnh. Một bản quy hoạch hiệu quả cần được xây dựng dựa trên sự phân tích kỹ lưỡng về lợi thế từng vùng sinh thái, nhu cầu thị trường và mục tiêu phát triển bền vững. Nội dung quy hoạch không chỉ dừng lại ở việc xác định các vùng chăn nuôi tập trung mà còn phải tích hợp các giải pháp về hạ tầng, xử lý môi trường và kết nối chuỗi giá trị. Theo định hướng trong luận văn, việc khảo sát và xây dựng quy hoạch cần phù hợp với từng vùng sinh thái tự nhiên, đáp ứng các tiêu chí về kinh tế - xã hội - môi trường. Quy hoạch phải gắn liền với các chính sách hỗ trợ cụ thể về đất đai, tín dụng và công nghệ để đảm bảo tính khả thi. Đồng thời, cần tăng cường vai trò quản lý của nhà nước trong việc giám sát và thực thi quy hoạch, đảm bảo các trang trại phát triển đúng hướng, khai thác hiệu quả nguồn lực và giảm thiểu tác động tiêu cực đến cộng đồng.

3.1. Xây dựng vùng chăn nuôi tập trung theo lợi thế sinh thái

Quy hoạch cần xác định rõ các vùng chăn nuôi tập trung, xa khu dân cư để đảm bảo vệ sinh môi trường và phòng chống dịch bệnh. Dựa trên điều kiện tự nhiên, cần phân vùng cụ thể: các huyện miền núi như Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập ưu tiên phát triển chăn nuôi đại gia súc (trâu, bò) gắn với kinh tế đồi rừng; các huyện trung du như Phù Ninh, Lâm Thao, Tam Nông tập trung phát triển chăn nuôi lợn và gia cầm theo hướng công nghiệp, bán công nghiệp. Việc hình thành các vùng chuyên canh không chỉ giúp tối ưu hóa việc sử dụng đất đai, nguồn nước mà còn tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư đồng bộ cơ sở hạ tầng như điện, đường giao thông, hệ thống xử lý chất thải, và thu hút doanh nghiệp đầu tư vào chế biến, tiêu thụ sản phẩm.

3.2. Lồng ghép quy hoạch hạ tầng và xử lý môi trường chăn nuôi

Một bản quy hoạch thành công phải lồng ghép chặt chẽ giữa quy hoạch sản xuất với quy hoạch xây dựng hạ tầng và bảo vệ môi trường. Cần ưu tiên ngân sách nhà nước và huy động các nguồn lực xã hội để đầu tư hệ thống giao thông, điện, nước đến các vùng chăn nuôi tập trung. Đặc biệt, vấn đề xử lý chất thải chăn nuôi phải được xem là một tiêu chí bắt buộc. Quy hoạch cần định hướng các trang trại áp dụng công nghệ xử lý chất thải tiên tiến như hầm biogas, đệm lót sinh học, sản xuất phân hữu cơ vi sinh. Các chính sách hỗ trợ cần ưu tiên cho các trang trại đầu tư vào công nghệ xanh, chăn nuôi an toàn sinh học, góp phần xây dựng một nền nông nghiệp tuần hoàn, phát triển bền vững.

IV. Bí quyết huy động vốn và công nghệ cho trang trại chăn nuôi

Để hiện thực hóa quy hoạch và nâng cao sức cạnh tranh, việc giải quyết bài toán về nguồn vốnkhoa học kỹ thuật là nhiệm vụ cấp bách. Các chính sách hỗ trợ của tỉnh cần được thiết kế một cách đồng bộ và thực chất, tập trung vào việc khơi thông dòng vốn tín dụng và thúc đẩy chuyển giao công nghệ. Thay vì hỗ trợ dàn trải, cần tập trung vào các trang trại hoạt động hiệu quả, có tiềm năng mở rộng và nằm trong vùng quy hoạch. Kinh nghiệm từ các địa phương phát triển như Bắc Giang, Thái Nguyên cho thấy, việc lồng ghép các chương trình, dự án quốc gia và tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia vào chuỗi liên kết là giải pháp hiệu quả để thu hút vốn và công nghệ. Ngoài ra, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là kỹ năng quản trị và kiến thức kỹ thuật cho chủ trang trại, cũng là một yếu tố then chốt. Một chủ trang trại giỏi không chỉ biết cách chăn nuôi mà còn phải biết cách quản lý tài chính, tiếp cận thị trường và ứng dụng công nghệ để tối ưu hóa hiệu quả kinh tế.

4.1. Hoàn thiện chính sách tín dụng và hỗ trợ lãi suất ưu đãi

Cần đa dạng hóa các kênh huy động nguồn vốn cho KTTT chăn nuôi. Chính quyền tỉnh cần làm việc với các tổ chức tín dụng để xây dựng các gói vay ưu đãi với lãi suất hợp lý, thời hạn vay phù hợp với chu kỳ sản xuất của vật nuôi. Giấy chứng nhận kinh tế trang trại cần được công nhận là một tài sản pháp lý có giá trị để thế chấp vay vốn. Ngoài ra, cần triển khai các chính sách hỗ trợ lãi suất cho các dự án đầu tư vào công nghệ cao, chăn nuôi an toàn sinh học, hoặc các mô hình liên kết theo chuỗi giá trị. Việc đơn giản hóa thủ tục vay vốn, tăng cường vai trò của các quỹ hỗ trợ phát triển, quỹ khuyến nông sẽ tạo đòn bẩy tài chính mạnh mẽ, giúp các trang trại tự tin đầu tư, mở rộng sản xuất.

4.2. Đẩy mạnh chuyển giao khoa học kỹ thuật và khuyến nông

Hoạt động khuyến nông cần được đổi mới theo hướng thực chất và hiệu quả hơn. Thay vì các lớp tập huấn lý thuyết, cần tổ chức các mô hình trình diễn, tham quan thực tế tại các trang trại thành công. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần là cầu nối chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới về giống, thức ăn chăn nuôi, quy trình phòng bệnh và công nghệ chế biến sau thu hoạch. Hỗ trợ các trang trại xây dựng quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAHP để nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm. Đồng thời, cần đầu tư phát triển nguồn nhân lực thông qua các khóa đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý kinh tế, marketing và kỹ năng đàm phán thị trường cho các chủ trang trại.

4.3. Giải pháp thị trường gắn với xây dựng thương hiệu sản phẩm

Giải pháp về thị trường tiêu thụ phải đi trước một bước. Cần tăng cường công tác xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm chăn nuôi đặc trưng của Phú Thọ. Hỗ trợ các trang trại xây dựng thương hiệu, đăng ký nhãn hiệu và truy xuất nguồn gốc sản phẩm để tạo niềm tin cho người tiêu dùng. Khuyến khích hình thành các hợp tác xã, tổ hợp tác để tăng cường sức mạnh đàm phán và ký kết các hợp đồng tiêu thụ ổn định với siêu thị, doanh nghiệp chế biến. Nhà nước cần cung cấp thông tin thị trường, dự báo giá cả một cách thường xuyên, giúp các trang trại có kế hoạch sản xuất phù hợp, tránh tình trạng "được mùa, mất giá".

V. Định hướng 2030 cho kinh tế trang trại chăn nuôi Phú Thọ

Hướng tới tầm nhìn năm 2030, mục tiêu của Phú Thọ là xây dựng một nền chăn nuôi trang trại phát triển theo hướng hiện đại, bền vững và có sức cạnh tranh cao. Phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi Phú Thọ sẽ không chỉ tập trung vào việc tăng số lượng và quy mô mà phải chú trọng vào việc nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng. Định hướng chiến lược là chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, ưu tiên các mô hình ứng dụng công nghệ cao, chăn nuôi hữu cơ, an toàn sinh học. Vai trò quản lý nhà nước sẽ được tăng cường, từ việc hoàn thiện hệ thống chính sách hỗ trợ đến công tác kiểm tra, giám sát để đảm bảo ngành chăn nuôi phát triển đúng quy hoạch, bảo vệ môi trường và an toàn thực phẩm. Việc hình thành các chuỗi giá trị hoàn chỉnh, nơi có sự liên kết chặt chẽ giữa các trang trại, doanh nghiệp và thị trường, sẽ là nền tảng cốt lõi cho sự phát triển bền vững. Tương lai của KTTT chăn nuôi Phú Thọ gắn liền với việc tạo ra những sản phẩm sạch, có thương hiệu và đáp ứng được yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường trong và ngoài nước.

5.1. Chuyển dịch sang mô hình chăn nuôi công nghệ cao bền vững

Định hướng đến năm 2030 là ưu tiên phát triển các trang trại chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao, tự động hóa trong các khâu cho ăn, kiểm soát nhiệt độ, xử lý chất thải. Khuyến khích các mô hình chăn nuôi tuần hoàn, tận dụng phế phẩm nông nghiệp làm thức ăn và xử lý chất thải thành phân bón hữu cơ, giảm thiểu tác động đến môi trường. Phát triển bền vững không chỉ là mục tiêu kinh tế mà còn là trách nhiệm xã hội, đảm bảo hài hòa giữa tăng trưởng và bảo vệ hệ sinh thái. Tỉnh cần có chính sách đặc thù để thu hút đầu tư vào các dự án chăn nuôi công nghệ cao, tạo ra các sản phẩm chất lượng, an toàn và có giá trị xuất khẩu.

5.2. Tăng cường vai trò quản lý nhà nước và liên kết 4 nhà

Để đảm bảo sự phát triển đúng định hướng, vai trò quản lý của nhà nước phải được nâng cao. Các cơ quan chuyên môn cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy hoạch, tiêu chuẩn về môi trường và an toàn dịch bệnh. Quan trọng hơn, cần thúc đẩy mạnh mẽ mô hình liên kết “4 nhà”: Nhà nông (chủ trang trại), Nhà nước, Nhà khoa học và Nhà doanh nghiệp. Sự phối hợp nhịp nhàng này sẽ giúp giải quyết các vấn đề từ nguồn vốn, công nghệ đến thị trường tiêu thụ, tạo ra một hệ sinh thái hỗ trợ hiệu quả cho kinh tế trang trại chăn nuôi phát triển một cách toàn diện và bền vững, đóng góp vào sự thịnh vượng chung của tỉnh Phú Thọ.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

26/09/2025
Luận văn thạc sĩ phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi tại tỉnh phú thọ

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia làm 4 chƣơng cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi trên địa bàn cấp tỉnh. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi tại tỉnh Phú Thọ. Chƣơng 4: Định hƣớng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi tại tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2018 – 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI CHĂN NUÔI TRÊN ĐỊA BÀN CẤP TỈNH 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Những công trình nghiên cứu về kinh tế trang trại và phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Kinh tế trang trại chăn nuôi phát triển từ rất lâu đời và có rất nhiều các công trình nghiên cứu về kinh tế trang trại chăn nuôi vì nó có vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển ngành nông nghiệp hàng hóa.

Khái niệm, loại hình và quy mô của trang trại chăn nuôi ở mỗi quốc gia có sự khác nhau. Vì vậy, trong quá trình phát triển nền kinh tế nông nghiệp hàng hóa, trang trại chăn nuôi luôn là một chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, quản lý, cả về phƣơng diện lý luận và thực tiễn. Đã có rất nhiều tác giả nƣớc ngoài nghiên cứu khá công phu về kinh tế trang trại chăn nuôi, các nghiên cứu tập trung làm rõ sự tồn tại của loại hình trang trại này trong điều kiện cạnh tranh toàn cầu; mối quan hệ giữa quy mô và năng suất, hiệu quả của trang trại; mối quan hệ chặt chẽ giữa trang trại với thị trƣờng. Tác giả Buckett, trong tác phẩm “Tổ chức quản lý nông trại gia đình” công bố năm 1993 [25], tác giả đề cập đến những nguyên lý cơ bản trong quá trình quản lý, điều hành nông trại gia đình theo mô hình sản xuất hàng hóa.

Nghĩa là quản lý nông trại về cơ bản không khác quản lý một doanh nghiệp, tuy nhiên do đặc thù của sản phẩm trong quá trình sản xuất phụ thuộc khá lớn vào điều kiện tự nhiên và do sản phẩm nông sản thƣờng nhanh hỏng nên quản lý một nông trại phức tạp hơn rất nhiều so với việc điều hành một doanh nghiệp công nghiệp. Vì lẽ đó, tác giả cho rằng, các cơ quan quản lý, các hiệp hội cần đặc biệt chú trọng công tác đào tạo và tập huấn về kỹ năng quản lý cho chủ trang trại. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tác giả Ellis, Frank, tác phẩm “Kinh tế nông nghiệp: Hộ trang trại và sự phát triển nông nghiệp” tái bản lần 2, công bố năm 2005 của Trƣờng Đại học Cambrige [26], tác giả đã cho thấy sự tất yếu khách quan về phát triển mô hình kinh tế trang trại từ kinh tế hộ gia đình trong quá trình phát triển nông nghiệp ở các nƣớc trên thế giới. Trong những năm gần đây, tổ chức Nông lƣơng thế giới (FAO) đã có một số công trình nghiên cứu về KTTT nói chung và kinh tế trang trại chăn nuôi nói riêng.

Đối với các nƣớc đang phát triển, trong đó có Việt Nam, FAO đã triển khai nhiều dự án nhằm góp phần phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi, hỗ trợ nông dân phát triển KTTT theo hƣớng bền vững kết hợp với xóa đói giảm nghèo ở địa phƣơng. Qua nghiên cứu các công trình của các tác giả về phát triển KTTT ở một số nƣớc cho thấy: các tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng phát triển KTTT ở một số quốc gia trên thế giới về số lƣợng, quy mô và cơ cấu; mô hình trang trại và phƣơng thức điều hành sản xuất; vốn, tƣ liệu sản xuất và nguồn lao động có khác nhau tùy thuộc vào hƣớng SXKD và thu nhập của các chủ trang trại; thị trƣờng đầu vào, thị trƣờng đầu ra của các trang trại. Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm để xác định vị trí, vai trò của KTTT nói chung, kinh tế trang trại chăn nuôi nói riêng trong quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa (CNH-HĐH) nông nghiệp nông thôn ở Việt Nam; các yếu tố tác động đến sự phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi ở tỉnh Phú Thọ. Nghiên cứu trong nước Kinh tế trang trại phát triển rất lâu và đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu trong nƣớc về cơ sở lý luận, tình hình phát triển của trang trại.

KTTT đƣợc phát triển mạnh vào đầu năm 1990 đến nay, ở nƣớc ta KTTT là chủ đề nghiên cứu của nhiều cơ quan, tổ chức khoa học và đƣợc sự chỉ đạo thực tiễn của các nhà khoa học thực sự quan tâm. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về lĩnh vực KTTT nhƣ: Nguyễn Điền (1993, 1997, 1999, 2001) [9]; Phạm Minh Đức (1997) cùng cộng sự [10]; Trần Đức (1995, 1997, 1998) [11]; Nguyễn Đình Hƣơng (2000) [14]; Lê Trọng (2000) [21]… Ngoài ra còn có rất nhiều luận văn nghiên cứu 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Sau đây tác giả xin trình bày những nét chính của các luận văn cùng nghiên cứu về trang trại nhƣ sau: - Lý Văn Toàn, 2007.“Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển mô hình kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên”. Luận văn thạc sỹ kinh tế nông nghiệp, Đại học Kinh tế Thái Nguyên [20].

Luận Văn đã nghiên cứu và đánh giá đƣợc thực trạng phát triển kinh tế trang trại của tỉnh Thái Nguyên, từ đó đƣa ra các giải pháp phù hợp đối với các mô hình kinh tế trang trại của địa phƣơng, đề tài đã nêu lên đƣợc sự so sánh hiệu quả kinh tế giữa các mô hình, các vùng khác nhau, từ đó có thể đánh giá đƣợc các yếu tố bên ngoài và các yếu tố bên trong tác động đến phát triển kinh tế trang trại, trong đó có trang trại chăn nuôi. - Trần Quốc Đạt, 2012. “Một số giải pháp phát triển kinh tế trang trại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam”. Luận văn thạc sỹ kinh tế phát triển, Đại học Kinh tế Đà Nẵng [8].

Phần cơ sở lý luận của nghiên cứu này nêu khá đầy đủ tổng quan về kinh tế trang trại, phân tích các nhân tố tác động đến sự phát triển của nó. Trong phần thực trạng, đề tài đã phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại của huyện Đại Lộc, trong đó có kinh tế trang trại chăn nuôi. Nghiên cứu cũng đƣa ra các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lƣợng sản phẩm của các trang trại và phát triển thị trƣờng tiêu thụ. - Trƣơng Thành Long, 2014.

“Phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình”. Luận văn thạc sỹ kinh tế chính trị, trƣờng Đại học kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội [15]. Tác giả luận văn đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về phát triển kinh tế trang trại, phân tích đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế trang trại tại huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2015 – 2020.

6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trên cơ sở tổng hợp các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài “Phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” bƣớc đầu có thể rút ra một số kết luận sau đây: - Chủ đề phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam đƣợc sự quan tâm nghiên cứu của nhiều cơ quan quản lý Nhà nƣớc, nhiều cơ sở nghiên cứu khoa học và bản thân các nhà khoa học. Đồng thời một số học viên cao học cũng đã lựa chọn chủ đề KTTT làm đề tài nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu của các công trình nói trên là cơ sở quan trọng cung cấp những luận cứ cho việc hoạch định chủ chƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc đối với phát triển kinh tế trang trại ở nƣớc ta. - Các công trình nghiên cứu về KTTT ở các cấp độ khác nhau và ở khắp các vùng, miền trong cả nƣớc.

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã nêu ra và đều mong muốn làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về KTTT để tìm ra hƣớng đi, đề xuất những giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn vƣớng mắc, phát huy vai trò của KTTT trong nền nông nghiệp của nƣớc ta hiện nay,. Một số công trình nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp cụ thể để phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn một tỉnh, huyện cụ thể và trong cả nƣớc. Đó là những tài liệu quý báu để tác giả tham khảo trong quá trình thực hiện đề tài luận văn. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu - Kế thừa những kết quả nghiên cứu về phát triển KTTT, luận văn tiếp tục tập trung nghiên cứu những vấn đề về phát triển kinh tế trang trại từ góc độ của khoa học quản lý kinh tế.

- Hầu nhƣ chƣa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt về phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi. Nhìn chung kinh tế trang trại chăn nuôi chỉ đƣợc đề cập đến nhƣ một loại hình trang trại trong kinh tế trang trại khi nghiên cứu về kinh tế trang trại cả về lý luận và thực tiễn. - Nghiên cứu về phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi từ góc độ của chuyên ngành quản lý kinh tế tại tỉnh Phú Thọ là một yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn này đi sâu nghiên cứu phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Phú Thọ từ góc độ của chuyên ngành quản lý kinh tế.

Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi trên địa bàn tỉnh 1. Khái quát về trang trại và kinh tế trang trại Kinh tế trang trại ra đời và phát triển từ rất lâu, các chuyên gia về sử học và kinh tế học thế giới đã chứng minh từ thời đế quốc La Mã, các trang trại đã hình thành, trong đó lực lƣợng sản xuất chủ yếu là các nô lệ, ở Trung Quốc trang trại có từ đời nhà Đƣờng. Trang trại trên thế giới bắt đầu phát triển mạnh khi chế độ tƣ bản chủ nghĩa ra đời. Ở Việt Nam trang trại đã xuất hiện nhiều thế kỷ, trong từng thời kỳ lịch sử của đất nƣớc, quá trình hình thành và phát triển của trang trại cũng có sự khác nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ