phần mở đầu và kết luận đề tài gồm 4 chương: - Chƣơng 1: Cơ sở l luận và thực tiễn về phát triển kinh tế trang trại ở thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên theo hướng bền vững. - Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu. - Chƣơng 3: Thưc trạng phát triển kinh tế trang trại ở thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên theo hướng bền vững. - Chƣơng 4: Một số giải pháp hoàn thiện phát triển kinh tế trang trại ở thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên theo hướng bền vững.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 6 Chƣơng 1 C Ở U N VÀ TH C TI N VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI Ở THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 1. Cơ sở uận của đề tài 1. Tăng trưởng và phát triển 1. Tăng trưởng Tăng trưởng kinh tế: Là sự biến đổi kinh tế theo chiều hướng tiến bộ, mở rộng qui mô về mặt số lượng của các yếu tố của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định nhưng trong khuôn khổ giữ nguyên về mặt cơ cấu và chất lượng.
Tăng trưởng kinh tế thực chất là sự lớn mạnh của nền kinh tế chỉ đơn thuần về mặt số lượng; đây là sự biến đổi có nghĩa tích cực, mặc dù nó cũng giúp cho xã hội có thêm các điều kiện vật chất cụ thể để đáp ứng các nhu cầu đặt ra của công dân, của xã hội. Để biểu thị sự tăng trưởng kinh tế, người ta dùng mức tăng thêm của tổng sản lượng nền kinh tế của thời kì sau so với thời kì trước: Yo: Tổng sản lượng thời kì trước Y1: Tổng sản lượng thời kì sau Mức tăng trưởng tuyệt đổi : delta = Y1 - Yo. Mức Tăng trưởng tương đổi: = Y1/ Yo. Phát triển Phát triển kinh tế: Là sự biến đổi kinh tế theo chiều hướng tích cực dựa trên sự biến đổi cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu của các yếu tố cấu thành của nền kinh tế.
Như vậy, đã có phát triển kinh tế là bao hàm nội dung của sự tăng trưởng kinh tế, nhưng nó được tăng trưởng theo một cách vượt trội so với sự đổi mới về khoa học công nghệ, do năng suất xã hội cao hơn hẳn và có cơ cấu kinh tế hợp lí và hiệu quả hơn hẳn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 7 Tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế gắn liền với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa của mỗi quốc gia, là bước đi tất yếu của mọi sự biến đổi kinh tế từ thấp đến cao, theo xu hướng biến đổi không ngừng. Phát triển bền vững Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa. Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa l , văn hóa.
riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó. Ấn phẩm Chiến ƣợc bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) - 1980: Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học". Khái niệm của Herman Da y, 1973 (Wor d Bank): Một thế giới bền vững là một thế giới không sử dụng các nguồn tài nguyên tái tạo như nước, thổ nhưỡng, sinh vật,.nhanh hơn sự tái tạo của chúng. Một xã hội bền vững cũng không sử dụng các nguồn tài nguyên không tái tạo như nhiên liệu hoá thạch, khoáng sản,…nhanh hơn quá trình tìm ra loại thay thế chúng và không thải ra môi trường các vật độc hại nhanh hơn quá trình trái đất hấp thụ và vô hiệu hóa chúng.
Ủy ban Thế giới về môi trƣờng và phát triển (WCED) (1987) : Phát triển bền vững là "sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Định nghĩa trên hàm chứa hai tưởng chính: 1) khái niệm "nhu cầu", đặc biệt nhấn mạnh ưu tiên đến nhu cầu thiết yếu của người nghèo trên thế giới; 2) khái niệm hóa những hạn chế (khuôn định công nghệ và xã hội trong khả năng chịu đựng của môi trường) để đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai. Định nghĩa của FAO - 1989: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 8 "Phát triển bền vững là việc quản l và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, định hướng những thay đổi công nghệ và thể chế theo một phương thức sao cho đạt đến độ thỏa mãn một cách liên tục những nhu cầu của con người, của thế hệ hôm nay và mai sau”. Sự phát triển bền vững như vậy trong lĩnh vực nông nghiệp chính là sự bảo tồn đất nước, các nguồn gen động vật và thực vật, không làm suy thoái môi trường, là kỹ thuật thích hợp, kinh tế sống động và được xã hội tiếp nhận.
Theo báo cáo Brundtland: Phát triển bền vững là sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu của hiện tại mà không phương hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Đó là quá trình phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên được tái tạo và tôn trọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và những hệ thống trợ giúp tự nhiên đối với cuộc sống của con người, động và thực vật. Nhưng ở một mức độ nào đó, nó cũng hàm chứa sự bình đẳng giữa những nước giầu và nước nghèo, và giữa các thế hệ. Thậm chí nó còn bao hàm sự cần thiết giải trừ quân bị, coi đây là điều kiện tiên quyết nhằm giải phóng nguồn tài chính cần thiết để áp dụng khái niệm phát triển bền vững.
Trong Luật Bảo vệ môi trƣờng năm 2005 của Việt Nam (Đã sửa đổi): “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường”. Như vậy, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển về 3 mục tiêu: Kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ. Vì vậy để đạt được sự phát triển bền vững cho đất nước nói chung và thế giới nói riêng đòi hỏi các nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội.phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường. Một số vấn đề cơ bản về trang trại Trong lịch sử loài người, trải qua các phương thức sản xuất đã hình thành nhiều loại hình tổ chức sản xuất nông nghiệp khác nhau, dựa trên cơ sở chiếm hữu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 9 tư liệu sản xuất quan trọng (đất đai).
Xét về quan hệ sở hữu các nhà kinh tế học đã khái quát thành năm hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp cơ bản nhất đó là: Điền trang lớn. Nông nghiệp đồn điền. Trang trại cộng đồng. Nông nghiệp tập thể hoá.
Trang trại gia đình. “Kinh tế trang trại là một tổ chức cơ sở trong nông, lâm, ngư nghiệp, mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hóa, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của mỗi người chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô và tất cả các yếu tố sản xuất được tập trung đủ lớn với các tổ chức quản l tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường” [14]. Khái niệm về trang trại và kinh tế trang trại Khái niệm về trang trại: “Trên thế giới người ta thường dùng các thuật ngữ: Ferme (Tiếng Pháp), Farm (tiếng Anh).vv, được hiểu chung là nông dân - chủ trang trại gia đình. Các thuật ngữ trên được hiểu chung là nông dân, chủ trang trại gia đình, người nông dân gắn với ruộng đất, với đất đai nói chung”[24].
Theo Mác, trong sản xuất nông nghiệp, vai trò hết sức quan trọng của trang trại là mang lại hiệu quả kinh tế cao “Ngay ở nước Anh với nền công nghiệp phát triển, hình thức sản xuất có lợi nhất không phải là các xí nghiệp nông nghiệp quy mô lớn, mà là các trang trại gia đình sử dụng lao động làm thuê” [6]. Khái niệm về kinh tế trang trại: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, trồng rừng, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ, hải sản” [10]. FAO (1997), đã đưa ra khái niệm trang trại trên cơ sở khái niệm nông trại. Theo FAO, nông trại (Farm) là một mảnh đất mà trên đó nông hộ thực hiện các hoạt động sản xuất nông nghiệp phục vụ cho sinh kế của họ.
Nông trại ởkhu vực châu Á được chia thành 6 loại hình cơ bản theo mục đích sản xuất, diện tích đất đai và mức độ phụ thuộc khác nhau: a. Nông trại gia đình qui mô nhỏ sản xuất theo hướng tự cấp tự túc. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 10 Đối với nông trại thuộc loại này, "tự cấp tự túc" (sản xuất để tiêu thụ gia đình) là mục tiêu chủ yếu của nông trại. Có thể có sản phẩm để bán nhưng không đáng kể.
Nông trại thuộc loại này thường độc lập với bên ngoài (không chịu tác động của thị trường). Nông trại gia đình qui mô nhỏ, một phần sản xuất hàng hóa. Mục tiêu của nông trại thuộc loại này là (l) tiêu thụ gia đình thông qua việc sản xuất các nông sản phục vụ cho tiêu dùng hàng ngày của gia đình và (2) thu nhập tiền mặt thông qua việc bán sản phẩm dư thừa so với yêu cầu tiêu dùng gia đình. Nông trại gia đình qui mô nhỏ, sản xuất chuyên môn hóa và độc lập.
Đặc trưng của nông trại thuộc loại này là chuyên môn hóa trong một số hoạt động sản xuất trồng trọt, chăn nuôi cụ thể.