Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu thuộc loại hình Luận án Tiến sĩ Kinh tế, chuyên ngành Kinh tế Tài chính - Ngân hàng (mã số: 62.01), được thực hiện tại Học viện Ngân hàng dưới sự hướng dẫn khoa học của Nguyễn Thị Minh Hiền và Nguyễn Như Minh. Luận án có tiêu đề chính thức là "Thu hút vốn đầu tư phát triển Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh", do tác giả Nguyễn Thị Mỹ Dung hoàn thành năm 2009 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ thực trạng trình độ công nghệ trong các doanh nghiệp tại Việt Nam nhìn chung còn ở mức thấp và lạc hậu, dẫn đến chất lượng sản phẩm kém, chi phí sản xuất lớn, giá thành cao và sức cạnh tranh trên thị trường yếu. Trong bối cảnh kinh tế tri thức và quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, việc tiếp cận, đón đầu và ứng dụng công nghệ cao trở thành mục tiêu trọng yếu của doanh nghiệp và quốc gia. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, bài toán giữa yêu cầu tăng trưởng với chất lượng tăng trưởng, bảo đảm vị trí cạnh tranh và ổn định xã hội đòi hỏi phải tập trung phát triển Khu công nghệ cao có năng lực nghiên cứu, phát triển và chuyển giao công nghệ mới. Tuy nhiên, việc phát triển này đối diện đồng thời với các rào cản về vốn đầu tư, quy hoạch, công nghiệp phụ trợ và năng lực hấp thụ công nghệ. Thực tế đặt ra yêu cầu cấp bách phải xây dựng một hệ thống giải pháp tài chính đồng bộ nhằm thu hút vốn đầu tư cho Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh.

Mục đích nghiên cứu của luận án được văn bản xác định cụ thể qua bốn nội dung:

  1. Tập trung làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề thu hút vốn đầu tư phát triển Khu công nghệ cao.
  2. Phân tích, đánh giá tình hình hoạt động Khu công nghệ cao của một số nước và rút ra bài học kinh nghiệm đối với Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Đánh giá đúng mức thực trạng thu hút vốn đầu tư của Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh; đồng thời nêu lên những thành tựu, hạn chế và những nguyên nhân hạn chế.
  4. Đưa ra hệ thống giải pháp để thu hút vốn đầu tư phát triển Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh một cách có hiệu quả và bền vững.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là vấn đề thu hút vốn đầu tư phát triển Khu công nghệ cao.

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn:

  • Về nội dung: Tập trung vào hoạt động thu hút các nguồn vốn đầu tư phát triển Khu công nghệ cao.
  • Về không gian và thời gian: Lấy thực tế thu hút vốn đầu tư vào Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2002 đến năm 2008 làm cơ sở thực chứng, đồng thời xây dựng các dự báo và định hướng giải pháp đến năm 2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả điểm lại các ấn phẩm, đề án và bài báo khoa học liên quan đến lĩnh vực công nghệ cao và khu công nghệ cao:

  • Báo Sài Gòn đầu tư và xây dựng số 10/2006 với các bài viết: "Khu công nghệ cao công trình trọng điểm trong kế hoạch 5 năm (2006 - 2010) phát triển kinh tế xã hội TP.HCM" và "Quy hoạch Khu công nghệ cao TP.HCM từ ý tưởng đến hiện thực".
  • Các bài viết trên các trang thông tin điện tử shtp.vn và vnexpress.net đề cập đến vấn đề đào tạo nguồn nhân lực và vai trò của công nghệ cao trong giai đoạn hiện nay.
  • Các công trình nghiên cứu của chính tác giả Nguyễn Thị Mỹ Dung đã công bố trên Tạp chí Ngân hàng và Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng về lĩnh vực công nghệ cao.
  • Đề án "Quy hoạch tổng thể và nghiên cứu khả thi giai đoạn I của Khu công nghệ cao TP.HCM" (2002) do Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh chủ trì, tập trung vào phương diện tổng quát về tính tất yếu, sự cần thiết xây dựng, công tác chuẩn bị mặt bằng, cơ cấu quy hoạch và dự kiến tổng mức đầu tư cho giai đoạn I.
  • Đề án "Kinh nghiệm quốc tế về xây dựng và phát triển các Khu công nghệ cao" (2006) của Bộ Khoa học và Công nghệ, đi sâu phân tích sự thành công của các mô hình quốc tế và tổng hợp các văn bản pháp lý liên quan đến hoạt động của các khu công nghệ cao tại Trung Quốc.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết: Các tài liệu trước đó chủ yếu dừng lại ở mức độ nêu vấn đề tổng quát về sự cần thiết xây dựng khu công nghệ cao, phản ánh kỹ thuật quy hoạch hạ tầng thuần túy hoặc giới thiệu kinh nghiệm quốc tế một cách rời rạc. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề thu hút các nguồn vốn đầu tư (kết hợp vốn ngân sách nhà nước, vốn tự có của doanh nghiệp, vốn tín dụng ngân hàng, vốn thị trường chứng khoán và vốn đầu tư nước ngoài) cho Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh từ cả góc độ lý luận tài chính lẫn thực tiễn triển khai giai đoạn 2002 - 2008 nhằm phục vụ mục tiêu phát triển dài hạn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở lý luận kinh tế học về công nghệ cao và tài trợ vốn đầu tư:

  • Khái niệm công nghệ cao: Luận án trích dẫn Luật Công nghệ cao được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 13/11/2008, xác định công nghệ cao là công nghệ được tích hợp từ các thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, có khả năng tạo ra sự thay đổi lớn về năng suất lao động, tính năng, chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm, hình thành các ngành sản xuất hoặc dịch vụ mới mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao. Tác giả nhấn mạnh công nghệ cao mang đặc tính "định hướng hệ thống" và đặc trưng "3 cao": hiệu quả cao, giá trị gia tăng cao và độ thâm nhập cao, với tỷ lệ chi phí R&D trong giá thành vượt trội so với các ngành công nghiệp thông thường.
  • Khái niệm Khu công nghệ cao: Là khu kinh tế - kỹ thuật đa chức năng, có ranh giới xác định, do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, nhằm thực hiện các chức năng R&D, ươm tạo công nghệ và doanh nghiệp, đào tạo nhân lực trình độ cao, sản xuất và kinh doanh sản phẩm công nghệ cao.
Tiêu chí Khu công nghiệp Khu chế xuất Khu công nghệ cao
Mục tiêu hoạt động Sản xuất công nghiệp thông thường, gia công hàng hóa Sản xuất chuyên phục vụ xuất khẩu Nghiên cứu - phát triển (R&D), ươm tạo doanh nghiệp, sản xuất sản phẩm công nghệ cao
Hàm lượng khoa học - công nghệ Trung bình hoặc thấp Trung bình hoặc thấp, thâm dụng lao động Tích hợp thành tựu khoa học kỹ thuật cao, hàm lượng tri thức lớn
Chi phí R&D và nhân sự R&D Chiếm tỷ trọng rất nhỏ Chiếm tỷ trọng rất nhỏ Tỷ lệ chi phí R&D và tỷ lệ nhân viên làm R&D rất cao
Tiêu hao năng lượng và tài nguyên Thâm dụng nguyên liệu và năng lượng truyền thống Thâm dụng nguyên liệu, chi phí vận chuyển Sử dụng ít nguyên liệu và năng lượng không tái tạo, thân thiện môi trường
Quan hệ thuế quan và thị trường Phục vụ nội địa và xuất khẩu, chịu thuế nội thương/ngoại thương Khu hải quan riêng biệt, hàng hóa được miễn thuế xuất nhập khẩu đặc thù Sản xuất cho cả xuất khẩu và tiêu thụ nội địa, quan hệ nội thương, chịu thuế theo luật
  • Năm loại hình Khu công nghệ cao trên thế giới được luận án phân loại gồm:
    1. Khu công nghiệp công nghệ cao (High-Tech Industrial Parks).
    2. Khu công nghệ cao chuyên ngành (Specialized High-Tech Parks).
    3. Vườn ươm công nghệ cao và Doanh nghiệp công nghệ cao (Technology and Business Incubator).
    4. Công viên đổi mới công nghệ (Technology Innovation Park - TIP).
    5. Thành phố khoa học (Science City hay Technopolis).
  • Khung lý thuyết về nguồn vốn thu hút: Luận án phân định hai nhóm nguồn vốn chính:
    • Nguồn vốn trong nước: Vốn Ngân sách Nhà nước (đóng vai trò "vốn mồi", xây dựng hạ tầng kỹ thuật ban đầu, không thu hồi trực tiếp); vốn tự có của doanh nghiệp; vốn tín dụng ngân hàng thương mại (ngắn hạn dưới 1 năm, trung hạn 1-5 năm, dài hạn từ 5 năm trở lên); và vốn huy động qua thị trường chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu).
    • Nguồn vốn nước ngoài: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI), vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và tín dụng quốc tế.

Về phương pháp nghiên cứu, luận án sử dụng phương pháp định tính kết hợp phân tích thống kê mô tả:

  • Phương pháp luận: Tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học, phương pháp thống kê kinh tế, kế toán, phương pháp so sánh đối chiếu, mô hình hóa kinh tế vĩ mô, quan sát và tổng kết thực tiễn.
  • Công cụ xử lý: Xây dựng hệ thống bảng số liệu, biểu đồ xu hướng và sơ đồ tổ chức, cơ cấu chức năng nhằm minh họa các luận điểm.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê Thành phố Hồ Chí Minh; các báo cáo định kỳ và đề án quy hoạch của Ban quản lý Khu công nghệ cao TP.HCM (SHTP); số liệu của Bộ Khoa học và Công nghệ, UBND TP.HCM; số liệu từ các tổ chức quốc tế như JICA (Nhật Bản), SPICE (năm 2005), WB, ADB, UNIDO.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khu công nghệ cao và thu hút vốn đầu tư phát triển Khu công nghệ cao

Chương 1 thiết lập khung lý luận toàn diện về khu công nghệ cao và cơ chế huy động vốn, kết hợp phân tích kinh nghiệm quốc tế:

  • Luận án phân tích 4 chức năng cốt lõi của khu công nghệ cao: tạo ra công nghệ mới; tạo ra sản phẩm mới có giá trị gia tăng cao; ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; thu hút nguồn lực trí tuệ có trình độ cao. Luận án cũng chỉ rõ 6 vai trò kinh tế vĩ mô: thúc đẩy khoa học và công nghệ; chuyển dịch cơ cấu từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức; giữ vai trò chủ đạo và xúc tác lan tỏa công nghệ (technology diffusion); gia tăng tài sản cố định, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực; tạo việc làm chuyên môn hóa cao; nâng cao sức cạnh tranh kinh tế.
  • Năm điều kiện cần thiết để xây dựng khu công nghệ cao được phân tích gồm: điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý; điều kiện kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường; hạ tầng kỹ thuật và xã hội đồng bộ (điện, cấp thoát nước, mạng viễn thông internet tốc độ cao, giao thông kết nối cao tốc); điều kiện vốn đầu tư và cơ chế tài chính minh bạch; nguồn nhân lực quản lý và kỹ thuật chất lượng cao.
  • Về sự cần thiết thu hút vốn: Luận án lập luận vốn là công cụ tạo mũi nhọn nội sinh, tích hợp hoạt động R&D với sản xuất kinh doanh, giúp liên kết quốc tế để đón đầu công nghệ và hình thành mô hình điểm cho cả nước. Phân tích chi tiết từng nguồn vốn chỉ ra rằng vốn NSNN là điều kiện tiên quyết làm nền tảng, vốn ngân hàng giải quyết nhu cầu tài trợ vốn lưu động và đầu tư tài sản cố định, trong khi thị trường vốn giảm áp lực vay nợ cho doanh nghiệp.
  • Kinh nghiệm quốc tế và số liệu cụ thể:
    • Trung Quốc: Triển khai Chương trình Bó Đuốc (Torch) với 53 khu công nghệ cao quốc gia. Đến năm 2005, Trung Quốc có 460 vườn ươm công nghệ hoạt động hiệu quả. Năm 2005, các khu công nghệ cao tạo giá trị công nghiệp khoảng 600 triệu USD, giá trị gia tăng gần 150 triệu USD, xuất khẩu 130 triệu USD. Riêng 6 tháng đầu năm 2006, tổng doanh thu đạt 208 tỷ USD, tỷ lệ tự chủ sở hữu trí tuệ trên 70%, với gần 6.000 dự án khoa học công nghệ từ cấp tỉnh trở lên. Mô hình doanh nghiệp "Hương trấn" nâng cao năng suất lao động gấp 3 lần trong 10 năm nhờ sử dụng linh kiện và chuyển giao công nghệ từ các khu này.
    • Vùng lãnh thổ Đài Loan: Khu công viên khoa học Tân Trúc (Hsinchu), thành lập năm 1980 (đến năm 2002 định hướng thành Thành phố khoa học Tân Trúc). Nguồn vốn nội địa ban đầu nhỏ nhưng sau đó chiếm tới 91% tổng số vốn các doanh nghiệp đầu tư sản xuất, với các doanh nghiệp như TSMC, UMC, AU Optronics, Acer, góp phần nâng GDP bình quân đầu người vượt mức 20.000 USD.
    • Malaysia: Khu công nghệ cao Kulim đạt tiêu chuẩn ISO 9002 năm 2002, thu hút các tập đoàn quốc tế như Intel, Advanced Disk, Entergis, BCM, NUR, Toyo, Fuji, Hamadatec, NSC.
    • Pháp: Khu Sophia Antipolis thành lập từ năm 1960 nhưng cần gần 30 năm để đạt được các mục tiêu chiến lược đề ra.
  • Bài học rút ra cho Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm: cần sự cam kết đầu tư dài hạn từ ngân sách trung ương; chuẩn bị hạ tầng đồng bộ trước khi kêu gọi đầu tư; xây dựng chính sách ưu đãi tài chính và giá thuê đất linh hoạt; gắn kết chặt chẽ khu công nghệ cao với các trường đại học kế cận để bảo đảm nhân lực; tập trung phát triển các doanh nghiệp phụ trợ nội địa.

Chương 2: Thực trạng thu hút vốn đầu tư phát triển Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 2 phản ánh chi tiết quá trình hình thành, môi trường đầu tư và số liệu thu hút vốn thực tế tại SHTP giai đoạn 2002 - 2008:

  • Quá trình hình thành: Khu CNC TP.HCM được thành lập theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, tổ chức quản lý điều hành theo Sơ đồ 2.1 gồm Ban quản lý và các đơn vị trực thuộc. Cơ cấu các khu chức năng chính (Hình 2.1) được quy hoạch thành các phân khu: khu sản xuất công nghệ cao, khu R&D, khu đào tạo, vườn ươm doanh nghiệp, khu thương mại dịch vụ và công trình hạ tầng kỹ thuật.
  • Môi trường thu hút vốn: Luận án phân tích bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội TP.HCM (Bảng 2.1 và Bảng 2.8), đánh giá chỉ số cảm nhận tham nhũng của Việt Nam (Bảng 2.2), so sánh thực trạng cơ sở hạ tầng giao thông, viễn thông, cảng biển của Việt Nam với các nước ASEAN (Bảng 2.9).
  • Tình hình thu hút vốn đầu tư qua hai giai đoạn:
    • Giai đoạn I (2002 - 2005): Tập trung nguồn vốn NSNN cho công tác đền bù giải tỏa, thu hồi đất và xây dựng các hạng mục hạ tầng kỹ thuật khung (Bảng 2.4 và Hình 2.2).
    • Giai đoạn II (2006 - 2008): Tăng tốc thu hút các dự án trong và ngoài nước, chuyển dịch mạnh cơ cấu vốn sang khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (Bảng 2.5 và Hình 2.3).
    • Thống kê dự án đầu tư (Bảng 2.6 và Bảng 2.7): Đến cuối năm 2008, khu đã cấp phép cho hàng chục dự án công nghệ, nổi bật nhất là việc thu hút dự án đầu tư nhà máy sản xuất và thử nghiệm chip bán dẫn của Tập đoàn Intel (Hoa Kỳ) với quy mô vốn đăng ký ban đầu lớn, cùng các dự án sản xuất linh kiện điện tử, cơ khí chính xác, phần mềm và công nghệ sinh học.
  • Đánh giá thành tựu và hạn chế:
    • Thành tựu: Hình thành diện mạo khu công nghệ tập trung đầu tiên tại phía Nam; thu hút được các tập đoàn công nghệ quy mô quốc tế; tạo nền tảng chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu và thúc đẩy liên kết đào tạo nhân lực.
    • Hạn chế: Tiến độ xây dựng hạ tầng kỹ thuật còn chậm so với quy hoạch đề ra (Bảng 2.3); công tác giải phóng mặt bằng kéo dài làm chậm tiến độ bàn giao đất cho nhà đầu tư; nguồn vốn từ ngân sách cấp chưa kịp thời; mối liên kết giữa doanh nghiệp FDI với công nghiệp phụ trợ trong nước còn lỏng lẻo; tỷ lệ doanh nghiệp R&D và vườn ươm hoạt động thương mại hóa chưa cao; thiếu hụt đội ngũ lao động kỹ thuật cao và cán bộ quản lý am hiểu nghiệp vụ công nghệ.
    • Nguyên nhân: Thủ tục hành chính qua nhiều cấp thẩm quyền; cơ chế chính sách tài chính - đất đai chưa thật thông thoáng và thiếu ổn định; hệ thống giáo dục - đào tạo đại học chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn của công nghiệp công nghệ cao.

Chương 3: Giải pháp thu hút vốn đầu tư phát triển Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3 trình bày các dự báo phát triển đến năm 2020 và đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện cùng các kiến nghị thực thi:

  • Định hướng và dự báo phát triển:
    • Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và dự báo tăng trưởng kinh tế TP.HCM đến năm 2020 (Bảng 3.1 và Bảng 3.2).
    • Dự kiến nhu cầu vốn đầu tư phát triển và cơ cấu nguồn vốn đầu tư của toàn thành phố đến năm 2020 (Bảng 3.3 và Bảng 3.4).
    • Dự kiến quy hoạch diện tích xây dựng toàn Khu CNC TP.HCM và dự kiến vốn đầu tư xây dựng các phân khu chức năng đến năm 2020 (Bảng 3.5, Bảng 3.6 và Biểu đồ 3.1).
  • Hệ thống giải pháp của tác giả (gồm 9 nhóm giải pháp cụ thể):
    1. Cải thiện môi trường đầu tư: Hoàn thiện cơ chế "một cửa tại chỗ", giảm thiểu thủ tục hành chính, minh bạch hóa quy trình giao dịch đất đai và cấp phép xây dựng.
    2. Xây dựng lộ trình chiến lược phát triển: Phân kỳ các giai đoạn đầu tư cụ thể, ưu tiên hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật cốt lõi trước khi mở rộng diện tích phụ trợ.
    3. Xây dựng cơ chế, chính sách tài chính ưu đãi: Quy định giá thuê đất hợp lý, phí dịch vụ hạ tầng cạnh tranh, áp dụng triệt để chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế xuất nhập khẩu theo quy định pháp luật.
    4. Đổi mới công tác quản lý, quy hoạch và quản lý nhập khẩu công nghệ cao: Tránh nhập khẩu công nghệ lạc hậu thông qua cơ chế giám định công nghệ độc lập.
    5. Xác định danh mục công nghệ cao ưu tiên phát triển: Tập trung vào vi điện tử, công nghệ thông tin - viễn thông, cơ khí chính xác - tự động hóa, công nghệ sinh học và vật liệu mới.
    6. Tăng cường chiều sâu của vốn đầu tư NSNN: Sử dụng vốn ngân sách có trọng tâm, tập trung xây dựng các công trình xử lý chất thải, hạ tầng viễn thông và phòng thí nghiệm trọng điểm để làm vốn mồi.
    7. Đẩy mạnh xúc tiến đầu tư và liên kết với các công ty FDI: Hỗ trợ tự do hóa nhập khẩu sản phẩm trung gian, khuyến khích doanh nghiệp nội địa tham gia chuỗi cung ứng phụ trợ để phục vụ xuất khẩu.
    8. Thành lập các tổ chức tài chính hỗ trợ: Thành lập các quỹ hỗ trợ ươm tạo doanh nghiệp, quỹ đầu tư mạo hiểm và các công ty tài chính chuyên ngành để đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án.
    9. Thiết lập hệ thống quản lý và đào tạo nhân lực: Phối hợp chặt chẽ giữa Khu CNC với Đại học Quốc gia TP.HCM và các trường kỹ thuật để đào tạo theo đơn đặt hàng của các nhà đầu tư.
  • Hệ thống 3 nhóm kiến nghị cụ thể:
    1. Kiến nghị đối với Nhà nước Việt Nam: Hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành Luật Công nghệ cao 2008; bố trí vốn ODA và ngân sách trung ương hỗ trợ hạ tầng giao thông kết nối liên vùng ngoài hàng rào; phân cấp thẩm quyền mạnh mẽ hơn cho Ban quản lý.
    2. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Ban hành cơ chế tín dụng khuyến khích đầu tư công nghệ cao; hướng dẫn định giá và nhận thế chấp bằng tài sản sở hữu trí tuệ, tài sản hình thành từ vốn vay; điều hành lãi suất và tỷ giá ổn định phục vụ doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
    3. Kiến nghị đối với các Ngân hàng thương mại Việt Nam: Thiết kế các sản phẩm tín dụng trung và dài hạn tài trợ cho các dự án xây dựng hạ tầng và dự án sản xuất công nghệ cao; cung cấp các dịch vụ thanh toán quốc tế, quản lý dòng tiền và tài trợ chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp trong khu.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt học thuật và thực tiễn:

  • Về mặt lý luận:
    • Hệ thống hóa các khái niệm cơ bản về công nghệ cao, đặc trưng "3 cao" và bản chất của khu công nghệ cao như một khu kinh tế - kỹ thuật đa chức năng.
    • Phân định rõ nét sự khác biệt giữa Khu công nghệ cao với Khu công nghiệp tập trung và Khu chế xuất trên các tiêu chí về tích hợp KH&CN, tỷ lệ R&D, tiêu hao năng lượng và cơ chế quản lý nội thương.
    • Phân loại 5 mô hình khu công nghệ cao trên thế giới và phân tích sâu cơ cấu các nguồn vốn thu hút (ngân sách, doanh nghiệp, tín dụng ngân hàng, thị trường chứng khoán, FDI, ODA).
    • Rút ra các bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn từ Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia, Pháp áp dụng cho điều kiện cụ thể của Việt Nam.
  • Về mặt thực tiễn:
    • Cung cấp nguồn số liệu hệ thống về thực trạng thu hút vốn đầu tư giai đoạn 2002 - 2008 của Khu công nghệ cao TP.HCM, phân chia theo giai đoạn I (2002 - 2005) và giai đoạn II (2006 - 2008).
    • Phân tích nguyên nhân của các tồn tại, đặc biệt là tình trạng chậm tiến độ xây dựng hạ tầng kỹ thuật và giải ngân vốn.
    • Đưa ra khung dự báo nhu cầu vốn đầu tư và cơ cấu vốn của Khu CNC TP.HCM đến năm 2020.
    • Đề xuất hệ thống 9 nhóm giải pháp đồng bộ gắn kết chặt chẽ với 3 nhóm kiến nghị cụ thể đối với Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và các Ngân hàng thương mại nhằm khai thác hiệu quả các kênh vốn tài chính phục vụ công nghệ cao.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án bị giới hạn bởi phạm vi thời gian số liệu thực tiễn từ năm 2002 đến năm 2008. Đây là giai đoạn đầu triển khai xây dựng và chuẩn bị mặt bằng của Khu CNC TP.HCM, do đó các phân tích về doanh thu sản xuất kinh doanh, kim ngạch xuất khẩu và tỷ suất sinh lời thực tế của các doanh nghiệp trong khu chưa có đủ dữ liệu chuỗi thời gian dài để đánh giá hiệu quả kinh tế sau đầu tư một cách toàn diện. Về phương diện chuyên môn, nghiên cứu tập trung vào góc độ kinh tế tài chính và huy động vốn vĩ mô, không đi sâu vào quy trình kỹ thuật thẩm định công nghệ chuyên biệt của từng dự án.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi và đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của nguồn vốn FDI và vốn trong nước khi các dự án quy mô lớn (như Intel và các dự án phụ trợ) đi vào hoạt động toàn diện sau năm 2008; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế thành lập các quỹ đầu tư mạo hiểm nội địa và đánh giá mức độ lan tỏa công nghệ từ các tập đoàn đa quốc gia sang các doanh nghiệp trong nước.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Khoa học và Công nghệ, UBND TP.HCM, Ban quản lý SHTP): Đề tài là tài liệu tham khảo trong việc hoạch định chính sách ưu đãi tài chính, xác định giá thuê đất và phí dịch vụ hạ tầng, đồng thời xây dựng kế hoạch phân bổ vốn đầu tư công làm "vốn mồi" phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật.
  • Đối với ngành ngân hàng và các tổ chức tài chính: Là căn cứ thực tiễn để Ngân hàng Nhà nước và các NHTM nghiên cứu ban hành các quy chế cho vay trung - dài hạn, thẩm định dự án công nghệ cao và áp dụng cơ chế nhận tài sản bảo đảm là tài sản hình thành trong tương lai hoặc quyền sở hữu trí tuệ.
  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế phát triển: Công trình cung cấp hệ thống lý thuyết, tiêu chí phân loại khu công nghệ cao, phương pháp tổng hợp số liệu hạ tầng và dự báo nhu cầu vốn phát triển kinh tế vùng.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân biệt Khu công nghệ cao với Khu công nghiệp và Khu chế xuất dựa trên những tiêu chí nào? Theo Bảng 1.1 và phân tích tại Chương 1, sự khác biệt căn bản thể hiện ở: mức độ tích hợp thành tựu khoa học kỹ thuật; năng suất lao động vượt trội do sử dụng hàm lượng trí tuệ và thông tin cao; quy trình sản xuất tiêu tốn rất ít nguyên liệu và năng lượng không tái tạo; tỷ lệ chi phí R&D và tỷ lệ nhân sự làm R&D trên tổng số nhân viên rất cao; quan hệ với thị trường nội địa là quan hệ nội thương (chịu thuế xuất nhập khẩu khi đưa hàng ra nước ngoài, khác với khu chế xuất là khu phi thuế quan).

2. Năm mô hình Khu công nghệ cao trên thế giới được luận án phân loại là những mô hình nào? Luận án chỉ ra 5 loại hình chính: (1) Khu công nghiệp công nghệ cao (High-Tech Industrial Parks); (2) Khu công nghệ cao chuyên ngành (Specialized High-Tech Parks); (3) Vườn ươm công nghệ cao và Doanh nghiệp công nghệ cao (Technology and Business Incubator); (4) Công viên đổi mới công nghệ (Technology Innovation Park - TIP); (5) Thành phố khoa học (Science City hay Technopolis).

3. Kinh nghiệm thu hút vốn tại Khu công viên khoa học Tân Trúc (Đài Loan) được tác giả dẫn chứng bằng những số liệu nào? Tại mục 1.3, luận án dẫn chứng: Khu Tân Trúc thành lập năm 1980; số vốn ban đầu của nhà đầu tư nội địa rất nhỏ nhưng sau đó vốn của các doanh nghiệp sản xuất trong nước đã chiếm tới 91% tổng số vốn đầu tư, tập trung vào các công ty sản xuất bán dẫn và vi mạch như TSMC, UMC, Acer, góp phần đưa GDP bình quân đầu người của Đài Loan vượt mức 20.000 USD.

4. Luận án xác định vai trò của nguồn vốn Ngân sách Nhà nước và nguồn vốn Tín dụng ngân hàng như thế nào? Vốn Ngân sách Nhà nước được xác định là nguồn vốn không thu hồi trực tiếp, dùng để lập dự án quy hoạch tổng thể, giải phóng mặt bằng và xây dựng hạ tầng kỹ thuật khung, đóng vai trò "vốn mồi" để kích thích các dòng vốn khác. Vốn tín dụng ngân hàng thương mại là kênh bổ sung vốn lưu động (ngắn hạn dưới 1 năm) và vốn mua sắm thiết bị, xây dựng cơ bản mở rộng sản xuất (trung hạn 1-5 năm và dài hạn trên 5 năm) cho các doanh nghiệp hoạt động trong khu.

5. Luận án kiến nghị những nội dung trọng tâm nào đối với Ngân hàng Nhà nước và các NHTM Việt Nam? Luận án kiến nghị Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi, điều hành tỷ giá và lãi suất ổn định, hướng dẫn cơ chế cho vay chấp nhận tài sản bảo đảm là tài sản hình thành từ vốn vay hoặc quyền sở hữu trí tuệ. Đối với các NHTM, luận án kiến nghị đa dạng hóa các gói cho vay trung - dài hạn, tài trợ chuỗi cung ứng phụ trợ và cung ứng dịch vụ quản lý tài chính hiện đại cho các doanh nghiệp công nghệ cao.

Kết luận

Luận án Tiến sĩ Kinh tế của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Dung là công trình nghiên cứu hệ thống về lý luận và thực tiễn thu hút các nguồn vốn đầu tư phát triển Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh. Thông qua việc phân tích kinh nghiệm quốc tế tại các nền kinh tế châu Á và khảo sát thực trạng SHTP giai đoạn 2002 - 2008, luận án đã làm rõ các nguyên nhân gây chậm trễ trong đầu tư hạ tầng và đề xuất khung giải pháp huy động vốn đến năm 2020. Hệ thống 9 nhóm giải pháp và 3 nhóm kiến nghị cụ thể đối với Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và các NHTM mang giá trị ứng dụng rõ nét cho công tác quản lý tài chính và phát triển các khu kinh tế kỹ thuật cao tại Việt Nam.