Luận văn: Phát triển kinh tế nông thôn ở Nam Định - Thực trạng và Giải pháp (ĐH Quốc Gia Hà Nội)

Luận văn thạc sĩ kinh tế nghiên cứu phát triển kinh tế nông thôn ở nam định thực trạng và giải pháp, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cải thiện thực

Chuyên ngành

Kinh tế nông thôn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2005

120
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan phát triển kinh tế nông thôn Nam Định Cơ hội

Nam Định là tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng, một khu vực có vị trí chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Địa bàn nông thôn chiếm tới 97,1% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh, phản ánh vai trò quyết định của kinh tế nông thôn đối với sự thịnh vượng chung. Phát triển kinh tế nông thôn Nam Định dựa trên nền tảng của một vùng đất bằng phẳng, màu mỡ, khí hậu thuận lợi cho nông nghiệp thâm canh, đặc biệt là trồng lúa nước. Hệ thống sông ngòi phong phú và đường bờ biển dài hơn 70km mở ra tiềm năng to lớn cho ngành nuôi trồng và đánh bắt thủy sản. Theo Luận văn Thạc sỹ của Nguyễn Trung Hiếu (2005), vị trí địa lý này tạo điều kiện cho Nam Định giao lưu kinh tế, văn hóa với các địa phương trong vùng và cả nước, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, tài nguyên khoáng sản và tài nguyên rừng hạn chế là một bất lợi không nhỏ. Dù vậy, điểm mạnh lớn nhất của tỉnh nằm ở nguồn nhân lực. Với dân số trên 1,9 triệu người và lực lượng lao động dồi dào, Nam Định sở hữu tiềm năng con người to lớn. Người dân nơi đây nổi tiếng cần cù, thông minh và có trình độ học vấn tương đối cao so với mặt bằng chung. Đây là nền tảng vững chắc để tiếp thu khoa học công nghệ và các mô hình sản xuất tiên tiến. Các giá trị văn hóa đặc sắc như tín ngưỡng thờ Mẫu, di tích thời Trần, cùng các làng nghề truyền thống không chỉ là di sản mà còn là nguồn lực để phát triển du lịch, dịch vụ, góp phần đa dạng hóa cơ cấu kinh tế nông thôn.

1.1. Đánh giá vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của tỉnh

Tỉnh Nam Định nằm ở vùng Đông Nam châu thổ Sông Hồng, sở hữu vị trí địa lý thuận lợi cho giao thương và phát triển các hoạt động dịch vụ. Tổng diện tích tự nhiên là 1641,32 km², trong đó khu vực nông thôn chiếm phần lớn. Địa hình tỉnh tương đối bằng phẳng, được bồi đắp bởi phù sa màu mỡ từ hệ thống sông Hồng và sông Đáy. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, với lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1600mm, tạo điều kiện lý tưởng cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là cây lúa. Tỉnh có đường bờ biển dài trên 70km với các cửa sông lớn như Ba Lạt, Lạch Giang, cửa Đáy. Điều này mang lại lợi thế vượt trội trong việc phát triển kinh tế biển tổng hợp, bao gồm nuôi trồng, đánh bắt thủy sản và du lịch. Nguồn nước ngọt, mặn và nước ngầm dồi dào là tài nguyên quý giá phục vụ sản xuất và đời sống. Tuy nhiên, một hạn chế là tài nguyên khoáng sản và rừng rất nghèo nàn.

1.2. Phân tích đặc điểm kinh tế xã hội và nhân văn độc đáo

Nam Định là tỉnh có dân số đông, mật độ cao (1186 người/km²), và lực lượng lao động dồi dào với 77,6% làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Người dân Nam Định được biết đến với đức tính cần cù, thông minh, và có truyền thống hiếu học, tạo nên một nguồn nhân lực chất lượng cao về mặt nhận thức. Đây là yếu tố then chốt cho việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất. Tuy nhiên, một thách thức lớn là tỷ lệ lao động qua đào tạo ở nông thôn còn thấp, chỉ chiếm 6,46%. Về văn hóa, Nam Định là vùng đất có bề dày lịch sử, là trung tâm của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh và quê hương của vương triều Trần. Hệ thống di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh phong phú như Phủ Giầy, chùa Cổ Lễ, bãi biển Quất Lâm là tiềm năng lớn để phát triển du lịch, đa dạng hóa nền kinh tế nông thôn.

II. Phân tích thực trạng kinh tế nông thôn Nam Định và thách thức

Mặc dù đạt được những thành tựu nhất định, quá trình phát triển kinh tế nông thôn Nam Định vẫn đối mặt với nhiều hạn chế và thách thức. Theo phân tích trong tài liệu gốc, một trong những vấn đề nổi cộm là sự chậm chạp trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Nền kinh tế vẫn phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp thuần túy, trong khi tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ còn khiêm tốn. Quá trình CNH, HĐH diễn ra chưa theo kịp yêu cầu của thị trường, làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm. Một hạn chế khác là mô hình tổ chức quản lý sản xuất còn nhiều bất cập. Kinh tế nông hộ vẫn chiếm đa số nhưng quy mô nhỏ lẻ, manh mún. Các hình thức kinh tế hợp tác, như hợp tác xã kiểu mới, chưa thực sự phát huy vai trò liên kết, hỗ trợ hiệu quả cho nông dân. Mối liên kết giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ còn lỏng lẻo, khiến người nông dân thường xuyên đối mặt với rủi ro “được mùa mất giá”. Trình độ khoa học và công nghệ trong hầu hết các lĩnh vực nông – lâm – thủy sản còn lạc hậu và thiếu đồng bộ. Việc ứng dụng công nghệ sinh học, cơ giới hóa còn hạn chế, dẫn đến năng suất lao động thấp. Kết cấu hạ tầng nông thôn như giao thông, thủy lợi, điện dù đã được cải thiện nhưng vẫn thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu của một nền sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Hệ thống thị trường nông thôn, đặc biệt là thị trường tiêu thụ nông sản, còn nhiều yếu kém, phụ thuộc nhiều vào thương lái, gây bất lợi cho người sản xuất.

2.1. Những hạn chế trong chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

Cơ cấu ngành kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn rất chậm. Nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn, trong khi các ngành phi nông nghiệp chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Sự phụ thuộc vào cây lúa, dù đảm bảo an ninh lương thực, nhưng lại hạn chế việc đa dạng hóa sản xuất và nâng cao giá trị gia tăng. Các ngành công nghiệp chế biến nông sản, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ hỗ trợ sản xuất (cung ứng vật tư, tín dụng, tiêu thụ) chưa tạo được bước đột phá. Theo luận văn, sự chuyển dịch này "diễn ra chậm chạp và chưa theo sát yêu cầu của thị trường", đây là một "nút thắt" lớn cản trở sự phát triển toàn diện của kinh tế nông thôn Nam Định.

2.2. Bất cập trong mô hình tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh

Mô hình tổ chức sản xuất ở nông thôn còn nhiều vướng mắc. Kinh tế nông hộkinh tế trang trại tuy đã có những chuyển biến tích cực nhưng quy mô sản xuất còn nhỏ, phân tán. Điều này gây khó khăn cho việc áp dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật và xây dựng các vùng sản xuất hàng hóa tập trung. Vai trò của các hợp tác xã trong việc cung cấp dịch vụ đầu vào, đầu ra và kết nối thị trường còn mờ nhạt. Sự liên kết "4 nhà" (Nhà nông - Nhà nước - Nhà khoa học - Nhà doanh nghiệp) chưa chặt chẽ, khiến nông dân gặp khó trong việc tiếp cận vốn, công nghệ và thị trường tiêu thụ ổn định. Tình trạng sản xuất tự phát, không theo quy hoạch vẫn còn phổ biến.

2.3. Trình độ khoa học công nghệ và kết cấu hạ tầng lạc hậu

Một trong những hạn chế cố hữu là trình độ khoa học và công nghệ trong sản xuất nông nghiệp còn thấp. Hầu hết các khâu từ sản xuất, thu hoạch đến bảo quản, chế biến vẫn dựa nhiều vào lao động thủ công. Việc áp dụng giống mới, công nghệ sinh học, quy trình canh tác tiên tiến chưa được nhân rộng. Kết cấu hạ tầng nông thôn như hệ thống giao thông, thủy lợi, điện, thông tin liên lạc tuy được đầu tư nhưng vẫn thiếu đồng bộ và lạc hậu. Đặc biệt, hệ thống thủy lợi chưa hoàn toàn chủ động trong việc tưới tiêu, phòng chống thiên tai. Giao thông nông thôn nhiều nơi còn khó khăn, ảnh hưởng đến chi phí vận chuyển và lưu thông hàng hóa, làm giảm sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa.

III. Giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Nam Định

Để thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn Nam Định, giải pháp trọng tâm là đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng CNH, HĐH. Đây là một quá trình tất yếu nhằm đưa nền kinh tế từ thuần nông sang phát triển tổng hợp nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ. Mục tiêu là xây dựng một cơ cấu ngành hợp lý, đa dạng, khai thác tối đa lợi thế của địa phương và đáp ứng nhu cầu thị trường. Hướng đi chiến lược là giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, đồng thời tăng nhanh tỷ trọng của công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến, và các ngành dịch vụ. Phát triển các làng nghề truyền thống, xây dựng các cụm công nghiệp nông thôn là cần thiết để tạo việc làm, tăng thu nhập và thay đổi bộ mặt nông thôn. Bên cạnh đó, ngay trong nội bộ ngành nông nghiệp, cần phá vỡ thế độc canh cây lúa, thực hiện đa dạng hóa sản xuất. Việc hình thành các vùng sản xuất chuyên canh quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao cho các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh như lúa chất lượng cao, cây dược liệu, chăn nuôi công nghệ cao, và nuôi trồng thủy sản sẽ tạo ra nguồn nguyên liệu ổn định cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu. Quá trình chuyển dịch này phải gắn liền với việc nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường, hướng tới phát triển bền vững. Đồng thời, phải kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế và xây dựng nông thôn mới văn minh, hiện đại.

3.1. Hướng đi giảm tỷ trọng nông nghiệp tăng công nghiệp dịch vụ

Giải pháp cốt lõi là từng bước giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế nông thôn. Thay vào đó, tập trung nguồn lực để phát triển mạnh mẽ tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp chế biến và các ngành dịch vụ. Việc phát triển công nghiệp chế biến nông sản không chỉ nâng cao giá trị hàng hóa mà còn giải quyết vấn đề đầu ra cho nông dân. Các ngành dịch vụ như cung ứng vật tư nông nghiệp, tín dụng, vận tải, du lịch sinh thái cần được khuyến khích phát triển để tạo thành một hệ sinh thái kinh tế hoàn chỉnh. Cần có chính sách thu hút đầu tư vào các cụm, điểm công nghiệp ở nông thôn, ưu tiên các ngành sử dụng nhiều lao động tại chỗ và thân thiện với môi trường.

3.2. Đa dạng hóa sản xuất hình thành vùng chuyên canh quy mô lớn

Trong lĩnh vực nông nghiệp, cần chuyển mạnh từ tư duy sản xuất lấy số lượng làm mục tiêu sang chất lượng và hiệu quả. Phải thực hiện đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi để phá thế độc canh. Nam Định cần quy hoạch và xây dựng các vùng sản xuất chuyên canh hàng hóa quy mô lớn, gắn với lợi thế của từng địa phương. Ví dụ, vùng lúa đặc sản, vùng nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, vùng chăn nuôi tập trung xa khu dân cư. Việc hình thành các vùng chuyên canh sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng đồng bộ khoa học công nghệ, cơ giới hóa, quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn và xây dựng thương hiệu cho nông sản hàng hóa của tỉnh.

3.3. Kết hợp phát triển kinh tế với xây dựng nông thôn mới văn minh

Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải được đặt trong tổng thể chương trình xây dựng nông thôn mới. Phát triển kinh tế phải đi đôi với giải quyết các vấn đề xã hội như việc làm, giảm nghèo, nâng cao dân trí và chăm sóc sức khỏe cho người dân. Việc xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn hiện đại không chỉ phục vụ sản xuất mà còn nâng cao chất lượng đời sống văn hóa, tinh thần cho cư dân. Mỗi bước tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với thực hiện công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo sự phát triển bền vững cho các thế hệ tương lai.

IV. Phương pháp phát triển hạ tầng và các mô hình kinh tế mới

Một trụ cột quan trọng trong phát triển kinh tế nông thôn Nam Định là đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và nhân rộng các mô hình kinh tế hiệu quả. Hạ tầng kinh tế - xã hội phải đi trước một bước để tạo nền tảng cho sản xuất hàng hóa lớn. Việc tích cực huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư là yếu tố quyết định. Cần thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, kết hợp vốn ngân sách với vốn tín dụng, vốn doanh nghiệp và sự đóng góp của người dân để xây dựng hệ thống giao thông, thủy lợi, điện và thông tin liên lạc đồng bộ. Song song với đó, cần phát triển mạnh mẽ kinh tế nông hộ, kinh tế trang trại và các hợp tác xã kiểu mới. Đây là những chủ thể sản xuất chính ở nông thôn. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ về đất đai, vốn, kỹ thuật và thị trường để các mô hình này phát triển. Đặc biệt, cần khuyến khích tích tụ ruộng đất để hình thành các trang trại quy mô lớn, sản xuất theo hướng chuyên nghiệp. Đồng thời, cần củng cố và phát triển các hợp tác xã kiểu mới, biến chúng thành "bà đỡ" thực sự cho kinh tế hộ thông qua việc cung cấp dịch vụ và làm cầu nối với doanh nghiệp. Đẩy mạnh liên kết kinh tế giữa nông hộ, trang trại, hợp tác xã với các tổ chức kinh tế khác, đặc biệt là doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ, là giải pháp then chốt để hình thành chuỗi giá trị nông sản bền vững, khắc phục tình trạng sản xuất manh mún và bị ép giá.

4.1. Cách huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư

Để phát triển kết cấu hạ tầng, cần đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư. Ngoài nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, cần tạo môi trường kinh doanh thuận lợi để thu hút vốn từ các thành phần kinh tế khác, bao gồm cả doanh nghiệp tư nhân và vốn đầu tư nước ngoài. Cần có cơ chế, chính sách tín dụng ưu đãi cho nông nghiệp, nông thôn. Đặc biệt, phương thức huy động tổng lực theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” cần được phát huy, quy tụ mọi nguồn lực tài chính để đầu tư có trọng tâm, trọng điểm vào các công trình hạ tầng thiết yếu như giao thông, thủy lợi và mạng lưới điện, phục vụ trực tiếp cho CNH, HĐH nông nghiệp.

4.2. Phát triển mạnh mẽ kinh tế nông hộ và kinh tế trang trại

Kinh tế nông hộkinh tế trang trại được xác định là chủ thể quan trọng để phát triển kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa. Cần tiếp tục hoàn thiện chính sách đất đai, khuyến khích tích tụ, tập trung ruộng đất để mở rộng quy mô sản xuất. Nhà nước cần có các chương trình hỗ trợ cụ thể về vốn vay ưu đãi, chuyển giao kỹ thuật, cung cấp thông tin thị trường để các hộ nông dân và chủ trang trại yên tâm đầu tư, phát triển sản xuất lâu dài. Các mô hình trang trại tổng hợp, ứng dụng công nghệ cao cần được nhân rộng để tạo ra các sản phẩm có giá trị kinh tế lớn và sức cạnh tranh cao.

4.3. Đẩy mạnh liên kết kinh tế giữa nông hộ HTX và doanh nghiệp

Phát triển các hợp tác xã kiểu mới và thúc đẩy liên kết kinh tế là giải pháp đột phá. Hợp tác xã phải thực sự là tổ chức của nông dân, do nông dân và vì nông dân, hoạt động hiệu quả trong các khâu dịch vụ đầu vào và tiêu thụ sản phẩm. Cần xây dựng các mô hình liên kết chặt chẽ giữa nông hộ, trang trại với các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu. Mối liên kết này giúp đảm bảo đầu ra ổn định, giá cả hợp lý cho nông sản hàng hóa, đồng thời giúp doanh nghiệp có được vùng nguyên liệu chất lượng, đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và quốc tế.

V. Hướng đi nâng cao nguồn nhân lực và ứng dụng khoa học công nghệ

Con người và công nghệ là hai động lực chính cho sự phát triển kinh tế nông thôn Nam Định trong giai đoạn mới. Do đó, cần tập trung vào các giải pháp phát triển giáo dục - đào tạo và thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ (KHCN). Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho nông thôn là nhiệm vụ cấp bách. Cần đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo nghề, gắn liền với nhu cầu thực tiễn của sản xuất và thị trường lao động. Các chương trình khuyến nông, tập huấn kỹ thuật phải được tổ chức thường xuyên, hiệu quả để nông dân có thể tiếp cận và làm chủ các quy trình sản xuất tiên tiến. Song song đó, phải đẩy mạnh việc nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao các tiến bộ KHCN vào mọi lĩnh vực của kinh tế nông thôn. Ưu tiên phát triển công nghệ sinh học để tạo ra các giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao, khả năng chống chịu tốt. Đẩy mạnh cơ giới hóa các khâu sản xuất để giải phóng sức lao động và nâng cao hiệu quả. Ngoài ra, việc mở rộng và phát triển thị trường nông thôn cũng như thị trường tiêu thụ nông sản là vô cùng quan trọng. Cần xây dựng hệ thống thông tin thị trường, hỗ trợ xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm chủ lực của tỉnh, giúp nông dân và doanh nghiệp kết nối hiệu quả với người tiêu dùng.

5.1. Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo cho lao động nông thôn

Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự thành công của quá trình CNH, HĐH. Cần đầu tư nâng cấp hệ thống trường dạy nghề ở nông thôn. Các chương trình đào tạo cần được thiết kế lại để phù hợp với thực tế, không chỉ dạy kỹ thuật canh tác mà còn trang bị kiến thức về quản lý kinh tế, marketing và kinh doanh. Phải làm tốt công tác tổ chức hệ thống khuyến nông, biến đây thành kênh chuyển giao tiến bộ KHCN hiệu quả và nhanh chóng nhất đến với từng hộ nông dân, giúp họ thay đổi tư duy sản xuất từ nhỏ lẻ, tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa chuyên nghiệp.

5.2. Thúc đẩy nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất

Ứng dụng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ sinh học, là con đường ngắn nhất để tạo ra bước đột phá về năng suất và chất lượng trong nông nghiệp. Cần có chính sách khuyến khích các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp đầu tư vào việc lai tạo, chọn lọc các giống cây, con mới phù hợp với điều kiện của Nam Định. Nhà nước cần hỗ trợ nông dân tiếp cận các công nghệ tiên tiến trong sản xuất, bảo quản sau thu hoạch và chế biến sâu để nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản hàng hóa, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và đáp ứng các tiêu chuẩn xuất khẩu.

5.3. Mở rộng và phát triển thị trường tiêu thụ nông sản hàng hóa

Giải quyết bài toán thị trường nông thôn và đầu ra cho nông sản là nhiệm vụ sống còn. Cần xây dựng và hiện đại hóa hệ thống chợ, trung tâm thương mại ở nông thôn để thúc đẩy lưu thông hàng hóa. Chính quyền cần đóng vai trò cầu nối, hỗ trợ doanh nghiệp và nông dân trong các hoạt động xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường mới. Việc xây dựng thương hiệu, đăng ký chỉ dẫn địa lý cho các sản phẩm đặc trưng của Nam Định như gạo Tám Xoan, ngao Giao Thủy... là hết sức cần thiết để nâng cao sức cạnh tranh và khẳng định vị thế trên thị trường.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

26/09/2025
Luận văn thạc sĩ phát triển kinh tế nông thôn ở nam định thực trạng và giải pháp

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN Ở VIỆT NAM 1. Kinh tế nông thôn và vai trò của phát triển kinh tế nông thôn đối với nền kinh tế quốc dân. Khái niệm kinh tế nông thôn Để có thể hiểu được khái niệm “Kinh tế nông thôn”, chúng ta cần phải bắt đầu từ khái niệm “nông thôn”. Theo định nghĩa trong Từ điển tiếng Việt thì khái niệm “nông thôn” được hiểu là khu vực dân cư tập trung chủ yếu làm nghề nông.

Cũng có quan niệm cho rằng nông thôn dùng để chỉ một địa bàn mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn.[2-351] Trong thực tế, nông thôn là nơi sinh sống và quy tụ thành thôn/xóm, làng xã của những người làm nghề nông. Xét các mặt cụ thể, nông thôn có những đặc trưng sau: Về địa lý tự nhiên: nông thôn là địa bàn rộng lớn bao quanh các đô thị. Về kinh tế: nông thôn là địa bàn hoạt động chủ yếu của các ngành sản xuất vật chất nông- lâm- ngư nghiệp. Ngoài ra nó còn có các ngành nghề phi nông nghiệp như: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ.

TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 12 - Về tổ chức xã hội- cơ cấu dân cư: ở nông thôn chủ yếu là nông dân và gia đình họ với mật độ cư dân thấp. Ngoài ra có một số người làm việc ở nông thôn nhưng sống ở đô thị; một số người làm việc ở đô thị nhưng sống ở nông thôn. Về văn hoá: nông thôn là nơi bảo tồn lưu giữ các di sản văn hoá truyền thống chủ yếu của dân tộc như: phong tục, tập quán cổ truyền, các ngành nghề truyền thống, các di tích lịch sử. Về trình độ dân trí, khoa học công nghệ và kết cấu hạ tầng: thấp kém, thua xa so với đô thị.

Từ những nhận định trên, chúng tôi cho rằng nông thôn là một vùng khác đô thị ở chỗ: đó là nơi sinh sống và làm việc của cộng đồng những người nông dân, có mật độ dân cư thấp, kết cấu hạ tầng kém phát triển, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá còn nhiều hạn chế. Ở nước ta, nông thôn luôn gắn liền với làng xã vì làng xã cũng chỉ những khu vực tụ cư của người nông dân, lấy sản xuất nông nghiệp làm nền tảng của xã hội truyền thống, tạo thành các cộng đồng khác nhau như cộng đồng về khu vực cư trú, cộng đồng về khu vực canh tác, cộng đồng về thiết chế tổ chức, cộng đồng sinh hoạt văn hoá, tập tục… các cộng đồng làng xã này tồn tại và phát triển mang nặng tính chất truyền thống. Trải qua hàng ngàn năm, những thăng trầm của lịch sử, các cộng đồng làng xã vẫn tồn tại vững chắc với tư cách là đơn vị tổ chức nhà nước cơ sở, cuối cùng của mọi hình thái nhà nước. Cho nên muốn hiểu được xã hội Việt Nam truyền thống và cả hiện nay thì cần bắt đầu từ chính làng xã Việt Nam- tức nông thôn Việt Nam.

Nông thôn Việt Nam xét về bản chất là mô hình làng xã Việt Nam đồng thời là mô hình kinh tế - xã hội khép kín mang nặng tính tự cấp, tự túc, lấy nghề nông làm gốc; lấy kỹ thuật thâm canh lúa nước với tiểu thủ công nghiệp làm công nghệ chuẩn; lấy đất đai tự nhiên và sức lao động thủ công TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 13 - cùng với các nông cụ thô sơ làm lực lượng sản xuất; lấy mô hình gia đình làm đơn vị tổ chức sản xuất hàng đầu; lấy lệ làng, hương ước làm thiết chế xã hội. Sự biến đổi, phát triển của kinh tế ở nông thôn luôn gắn liền với sự biến đổi của làng xã, công xã nông thôn vì nó là nét tiêu biểu cho mỗi giai đoạn lịch sử vốn có của nền văn minh lúa nước. Các quan hệ kinh tế nông thôn bị chi phối bởi quan hệ tập tục của làng xã, trong đó tiêu biểu là quan hệ ruộng đất. Ngày nay nông thôn Việt Nam đã thay đổi rất nhiều về cả nghề nghiệp và kiến trúc quần cư.

Ở một số vùng nông thôn nước ta, nông dân không chỉ sống bằng nghề nông là chính, thậm chí nghề nông chỉ còn là một nghề phụ. Hình ảnh luỹ tre làng, bến nước, sân đình được thay thế bởi các khu vực đô thị hoá, đã trở thành “phố làng” nhưng vẫn được coi là nông thôn, là “quê mùa” trong cách nghĩ của người dân Việt Nam. Sự biến đổi này có lẽ vừa mang tính tích cực nhưng lại tiềm ẩn những tiêu cực. Những tiêu cực này có thể sẽ “phá vỡ” tính cộng đồng của làng xã, “phá huỷ” truyền thống, tập quán, văn hoá tốt đẹp đã được hình thành từ nghìn đời nay.

Như vậy, nông thôn là một khái niệm dùng để phân biệt với thành thị. Vì vậy, “kinh tế nông thôn” cũng là khái niệm dùng để phân biệt với kinh tế đô thị của nền kinh tế quốc dân. Khi nói đến KTNT, chúng ta thường liên tưởng tới một địa bàn mà ở đó hoạt động sản xuất nông nghiệp (hiểu theo nghĩa rộng) là chủ yếu. Nhưng ngày nay, do sự phát triển của LLSX và phân công lao động xã hội nên ở khu vực nông thôn, không chỉ đơn thuần chỉ có hoạt động sản xuất nông nghiệp mà còn phát triển cả các hoạt động phi nông nghiệp rất phong phú, đa dạng.

Những hoạt động phi nông nghiệp này, từ các loại ngành, nghề thủ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, đến các loại dịch vụ kinh tế, kỹ thuật, công nghiệp và văn hoá, xã hội, cung ứng đầu vào cho nông nghiệp, giúp nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất nông nghiệp, chế biến nâng cao giá trị nông sản, và khơi luồng tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp… TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 14 - Chính vì vậy, khi bàn về KTNT, đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về nó. Có quan niệm cho rằng: KTNT là một khái niệm dùng để thể hiện một tổng thể các hoạt động kinh tế – xã hội diễn ra trên địa bàn nông thôn. [36 - 38]; quan niệm khác lại xác định: KTNT là một phức hợp những nhân tố cấu thành của LLSX và QHSX trong nông – lâm – ngư nghiệp, cùng với các ngành thủ công nghiệp truyền thống, các ngành tiểu – thủ công nghiệp, công nghiệp, công nghiệp chế biến và phục vụ nông nghiệp, các ngành thương nghiệp và dịch vụ…tất cả có quan hệ hữu cơ với nhau trong kinh tế vùng và lãnh thổ và trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Như vậy, có thể nhận thấy các nhà nghiên cứu thường tiếp cận khái niệm KTNT dưới góc độ các ngành nghề hoạt động diễn ra trên địa bàn nông thôn, cách tiếp cận đó là hoàn toàn có cơ sở, khoa học.

Tuy nhiên, nó chưa phản ánh được một cách đầy đủ, toàn diện nội hàm của khái niệm KTNT. Bởi vì KTNT vừa mang những đặc trưng chung của nền kinh tế quốc dân về LLSX và QHSX, về cơ chế kinh tế…vừa có những đặc điểm riêng gắn liền với nông nghiệp, nông thôn. Nó bao quát tất cả các mặt, các phạm vi, các chiều cạnh chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội diễn ra và biến đổi trên địa bàn nông thôn. Vai trò của phát triển kinh tế nông thôn đối với nền kinh tế quốc dân.

Cung cấp lương thực, thực phẩm cho xã hội. Nhu cầu về lương thực, thực phẩm là nhu cầu đầu tiên, thiết yếu, cơ bản của đời sống con người trong mọi xã hội. Nếu không tiến hành sản xuất của cải vật chất, trước hết là lương thực, thực phẩm để đáp ứng nhu cầu về ăn uống để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động thì không thể tiến hành mọi hoạt động của xã hội. Lương thực, thực phẩm không những nhằm đáp ứng nhu cầu để duy trì và cải thiện đời sống nông dân mà còn cung cấp thức ăn cho chăn nuôi phát triển cân đối với trồng trọt, thúc đẩy hơn nữa sự phát triển của trồng trọt và TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 15 - tăng thêm nguồn thực phẩm cho con người; nó còn có vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu tăng dự trữ của nông nghiệp để đề phòng thiên tai, bảo đảm duy trì và phát triển bình thường sản xuất và đời sống nhân dân, tăng cường khả năng bảo vệ đất nước.

Đối với những nước nông nghiệp như Việt Nam sản xuất ra lương thực, thực phẩm là vấn đề hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế – xã hội. Thực tế cho thấy, mỗi khi nông nghiệp mất mùa, tình hình cung cấp lương thực, thực phẩm trở nên căng thẳng thì nhịp độ phát triển của các ngành kinh tế, các lĩnh vực hoạt động trong xã hội đều ảnh hưởng, thu nhập và chi tiêu của ngân sách nhà nước cũng như tình hình thị trường và giá cả đều có những biến động lớn Xã hội càng phát triển, đời sống con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu về lương thực, thực phẩm cũng ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng, chủng loại do dân số tăng và nhu cầu nâng cao mức sống của con người. Các nhà kinh tế đều khẳng định điều kiện tiên quyết cho sự phát triển là tăng cung lương thực, thực phẩm cho xã hội bằng sản xuất hoặc nhập khẩu chúng. Có thể chọn con đường nhập khẩu lương thực, thực phẩm để dành nguồn lực làm việc khác hiệu quả hơn.

Nhưng điều đó chỉ phù hợp với một số ít nước như Singapore, Brunei mà không dễ gì đối với các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Braxin, Việt Nam…Các nước đông dân này muốn phát triển kinh tế, đời sống nhân dân được ổn định thì phần lớn lương thực, thực phẩm tiêu dùng phải được sản xuất trong nước. Lịch sử phát triển các nước đã chứng minh chỉ có thể phát triển kinh tế một cách nhanh chóng chừng nào quốc gia đó đã có an ninh lương thực. Nếu không đảm bảo an ninh lương thực thì khó có sự ổn định chính trị và thiếu sự đảm bảo cơ sở pháp lý, kinh tế cho sự phát triển. Góp phần tạo tiền đề cho việc thực hiện CNH, HĐH đất nước - Phát triển KTNT tạo nguồn vốn tích luỹ quan trọng cho quá trình CNH, HĐH, trước hết là CNH, HĐH chính bản thân nông nghiệp, nông thôn.

Thực chất đó là sự tích luỹ về tư liệu sinh hoạt và tư liệu sản xuất, nghĩa là TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ