Luận Văn Thạc Sĩ: Đảng Lãnh Đạo Phát Triển Kinh Tế Nông Nghiệp Từ Năm 1975 Đến Năm 1985

Luận văn thạc sĩ USSH phân tích vai trò của Đảng trong phát triển kinh tế nông nghiệp giai đoạn 1975-1985, cung cấp cái nhìn sâu sắc về chính sách.

2015

149
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Tình hình nghiên cứu vấn đề

0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.3.1. Mục đích nghiên cứu

0.3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4.1. Đối tượng nghiên cứu

0.4.2. Phạm vi nghiên cứu

0.5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

0.5.1. Nguồn tài liệu

0.5.2. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Đóng góp của đề tài

0.7. Bố cục

1. CHƯƠNG 1: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 1975-1980

1.1. Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam và chủ trương của Đảng

1.2. Những nhân tố ảnh hưởng tới ngành nông nghiệp

1.3. Chủ trương phát triển nông nghiệp của Đảng

1.4. Sự chỉ đạo kinh tế nông nghiệp của Đảng

1.5. Đảng chỉ đạo cải tạo xã hội chủ nghĩa và giải quyết các nguồn lực để phát triển nông nghiệp

1.6. Chỉ đạo phát triển sản xuất nông nghiệp

1.7. Kết luận Chương 1

2. CHƯƠNG 2: ĐẢNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 1981 ĐẾN NĂM 1985

2.1. Yêu cầu mới và chủ trương mới của Đảng về nông nghiệp

2.2. Tình hình kinh tế nông nghiệp những năm cuối thập niên 70

2.3. Chủ trương mới của Đảng trong phát triển kinh tế nông nghiệp

2.4. Bước đầu tiến hành đổi mới trong nông nghiệp

2.5. Đổi mới cơ chế quản lý và tăng cường các nguồn lực phát triển nông nghiệp

2.6. Thành tựu trong sản xuất nông nghiệp

2.7. Kết luận Chương 2

3. CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

3.1. Ưu điểm và hạn chế

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phát Triển Kinh Tế Nông Nghiệp Việt Nam 1975 1985

Giai đoạn từ năm 1975 đến 1985 là thời kỳ quan trọng trong lịch sử phát triển kinh tế nông nghiệp Việt Nam. Sau khi đất nước thống nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định nông nghiệp là một trong những lĩnh vực chiến lược cần được ưu tiên phát triển. Trong bối cảnh hậu chiến, nền kinh tế nông nghiệp phải đối mặt với nhiều thách thức, từ cơ chế quản lý lạc hậu đến tình trạng sản xuất nhỏ lẻ. Đảng đã đưa ra nhiều chính sách nhằm cải cách và phát triển nông nghiệp, tạo nền tảng cho sự đổi mới sau này.

1.1. Những Thách Thức Trong Phát Triển Kinh Tế Nông Nghiệp

Trong giai đoạn này, kinh tế nông nghiệp Việt Nam gặp nhiều khó khăn. Cơ chế quản lý tập trung, bao cấp đã dẫn đến tình trạng trì trệ trong sản xuất. Nông dân thiếu động lực làm việc, sản phẩm nông nghiệp không đáp ứng được nhu cầu thị trường. Đảng đã nhận thức rõ những vấn đề này và bắt đầu tìm kiếm giải pháp.

1.2. Vai Trò Của Đảng Trong Lãnh Đạo Kinh Tế Nông Nghiệp

Đảng Cộng sản Việt Nam đã đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng và lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp. Các chính sách được ban hành nhằm cải cách cơ chế quản lý, khuyến khích sản xuất và nâng cao đời sống nông dân. Đảng đã tổ chức nhiều hội nghị để thảo luận và đưa ra các chủ trương phát triển nông nghiệp phù hợp với thực tiễn.

II. Chính Sách Phát Triển Nông Nghiệp Của Đảng 1975 1980

Chính sách phát triển nông nghiệp trong giai đoạn 1975-1980 tập trung vào việc cải cách cơ chế quản lý và khuyến khích sản xuất. Đảng đã đưa ra nhiều chỉ thị và nghị quyết nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, cải thiện đời sống nông dân. Các chương trình phát triển nông thôn được triển khai nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

2.1. Chỉ Thị 100 BCHTW Và Tác Động Đến Nông Nghiệp

Chỉ thị 100/BCHTW được ban hành vào tháng 1 năm 1981 đã đánh dấu bước ngoặt trong chính sách phát triển nông nghiệp. Chỉ thị này khuyến khích việc khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động, tạo động lực cho nông dân trong sản xuất. Kết quả là năng suất nông nghiệp đã tăng lên đáng kể.

2.2. Các Chương Trình Phát Triển Nông Thôn

Đảng đã triển khai nhiều chương trình phát triển nông thôn nhằm cải thiện cơ sở hạ tầng và điều kiện sống cho nông dân. Các chương trình này không chỉ tập trung vào sản xuất nông nghiệp mà còn chú trọng đến giáo dục, y tế và phát triển cộng đồng.

III. Thành Tựu Kinh Tế Nông Nghiệp Việt Nam 1981 1985

Giai đoạn 1981-1985 chứng kiến nhiều thành tựu nổi bật trong phát triển kinh tế nông nghiệp. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sản xuất nông nghiệp đã có những bước tiến đáng kể. Năng suất lúa gạo tăng lên, góp phần đảm bảo an ninh lương thực cho đất nước. Các chính sách cải cách đã tạo ra động lực cho nông dân, thúc đẩy sản xuất và phát triển kinh tế nông thôn.

3.1. Tăng Trưởng Sản Xuất Nông Nghiệp

Sản xuất nông nghiệp đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ trong giai đoạn này. Năng suất lúa gạo tăng từ 2,5 tấn/ha lên 3,5 tấn/ha, giúp Việt Nam trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Điều này không chỉ cải thiện đời sống nông dân mà còn nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

3.2. Cải Cách Nông Nghiệp Và Đời Sống Nông Dân

Cải cách nông nghiệp đã giúp nâng cao đời sống của nông dân. Nhiều hộ gia đình đã thoát nghèo nhờ vào việc tăng thu nhập từ sản xuất nông nghiệp. Đảng đã chú trọng đến việc phát triển các hợp tác xã nông nghiệp, tạo điều kiện cho nông dân hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm.

IV. Kết Luận Về Phát Triển Kinh Tế Nông Nghiệp Việt Nam

Giai đoạn 1975-1985 là thời kỳ đầy thách thức nhưng cũng là thời kỳ đánh dấu những bước tiến quan trọng trong phát triển kinh tế nông nghiệp Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhiều chính sách đã được ban hành nhằm cải cách và phát triển nông nghiệp. Những thành tựu đạt được trong giai đoạn này đã tạo nền tảng cho công cuộc đổi mới sau này.

4.1. Bài Học Kinh Nghiệm Từ Giai Đoạn 1975 1985

Những bài học kinh nghiệm từ giai đoạn này cho thấy tầm quan trọng của việc lãnh đạo và quản lý trong phát triển kinh tế nông nghiệp. Đảng cần tiếp tục đổi mới tư duy và chính sách để phù hợp với thực tiễn và nhu cầu phát triển của nông nghiệp trong bối cảnh hiện đại.

4.2. Tương Lai Của Kinh Tế Nông Nghiệp Việt Nam

Tương lai của kinh tế nông nghiệp Việt Nam phụ thuộc vào việc tiếp tục cải cách và đổi mới. Đảng cần xác định rõ các mục tiêu phát triển bền vững, đồng thời chú trọng đến việc ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất nông nghiệp để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

22/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với nền kinh tế nông nghiệp từ năm 1975-1980 - Chương 2: Đảng lãnh đạo kinh tế nông nghiệp từ 1981 đến 1985 - Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 1975-1980 1. Những nhân tố ảnh hƣởng đến sự phát triển của kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam và chủ trƣơng của Đảng 1.1 Những nhân tố ảnh hưởng tới ngành nông nghiệp Điều kiện tự nhiên Việt Nam có vị trí địa lý nằm trọn trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa với nền nhiệt độ cao và tương đối ổn định, đường bờ biển dài hơn 3000km, vùng biển rộng lớn với diện tích hàng triệu km2, hàng năm, đã cung cấp độ ẩm cho cây cối phát triển quanh năm. Cộng thêm với vị trí nằm ở cửa ngõ của khu vực, Việt Nam là nơi trung chuyển và gặp gỡ của nhiều luồng di cư động thực vật nên tài nguyên sinh vật và nguồn gen tự nhiên hết sức phong phú, có đường biên giới giáp với nhiều nước điều này tạo thuân lợi cho việc xuất khẩu các sản phẩm nông sản được dễ dàng và thuận tiện. Đất đai là tư liệu sản xuất không thể thiếu trong nông nghiệp.

Ở Việt Nam có 14 loại đất chia làm hai nhóm đất chính là đất đồng bằng và đất miền núi. Đất đồng bằng với diện tích đất phù sa là chủ yếu chiếm 3 triệu hécta tập trung chủ yếu ở Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long và các đồng bằng nhỏ hẹp ven biển miền Trung, thuận lợi cho việc trồng lúa, cây rau màu. Bên cạnh đó, còn có một diện tích nhỏ đất già mùn thuận lợi cho việc trồng cây lương thực thực phẩm, cây ăn quả. Đất phèn chiếm hơn 2,1 triệu hécta, đất mặn khoảng 1 triệu hécta, thích hợp để trồng cói, trồng lúa kết hợp nuôi tôm.

Đất miền núi chủ yếu là đất feralit. Loại đất feralit hình thành trên đá badan, giàu NPK, tơi xốp, tầng đất dày, nhiều dinh dưỡng thuận lợi trồng cây công nghiệp dài ngày như: cà phê, cao su, điều… và cây công nghiệp ngắn ngày. Đất feralit hình thành trên đá phiến kết hợp với khí hậu núi cao thích hợp với trồng chè, cây dược liệu, cây lấy dầu như: sơn, trẩu, hồi… Khí hậu nhiệu nhiệt đới gió mùa mang lượng mưa lớn từ 1500mm/năm đến 2000mm/năm, độ ẩm trên 80%/năm, nhiệt độ trung bình từ 22 đến 250C, tổng lượng 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bức xạ mặt trời lớn từ 120 đến 130kcl/cm2/năm, lượng bức xạ lớn, lượng ánh sáng dồi dào, nguồn nhiệt ẩm phong phú cho cây trồng sinh trưởng, phát triển quanh năm và năng suất cao. Với khí hậu nóng ẩm, cây ngắn ngày có thể tăng thêm từ 1-2 vụ/năm, cây dài ngày có thể khai thác được nhiều đợt, nhiều lứa.

Trên địa bàn cả nước đều có nguồn nước phong phú cả về nước mặt và nước ngầm. Cả nước có tới 2360 con sông có chiều từ 10km trở lên là nguồn cung cấp nước tưới dồi dào cho nông nghiệp. Nguồn nước ngầm cho trữ lượng khai thác đã thăm dò 6-7 tỉ m3/ năm có vai trò đặc biệt quan trọng cung cấp nước cho nông nghiệp vào mùa khô (ví dụ như tại các vùng chuyên canh Đông Nam Bộ và Tây Nguyên). Ngoài đất, nước, nguồn thực vật tự nhiên cũng ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố của nông nghiệp.

Đây chính là nguồn gen để lai tạo các chủng loại cây trồng làm phong phú giống cây trồng nông nghiệp. Bên cạnh đó, với diện tích đồng cỏ lớn là nguồn thức ăn tự nhiên và cũng là yếu tố quan trọng chi phối ngành chăn nuôi. Bên cạnh những yếu tố thuận lợi, điều kiện tự nhiên cũng mang đến những khó khăn cho sản xuất nông nghiệp. Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa gây nhiều trở ngại cho sản xuất nông nghiệp như nhiều bão lũ, hạn hán.

Với nền nhiệt và độ ẩm cao là điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh phát triển quanh năm. Miền Bắc có mùa đông lạnh, sương muối, sương giá ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của vật nuôi, cây trồng. Khả năng mở rộng diện tích nông nghiệp rất khó khăn do việc ngày càng mở rộng diện tích đất chuyên dụng, đất công nghiệp và đất ở. Đất đai bị khai thác và sử dụng quá mức dẫn đến có một diện tích lớn đất đai đang trong tình trạng bạc màu và suy thoái.

Ở miền núi, tình trạng đất đai bị rửa trôi, xói mòn diễn ra phổ biến. Bên cạnh đó, nguồn nước phân bố không đều theo không gian, thời gian gây khó khăn lớn với hoạt động sản xuất nông nghiệp. Ở một số nơi, mùa khô thiếu nước, mùa mưa ngập úng khiến cho sản xuất bấp bênh. Chất lượng nguồn nước mặt ở một số sông, hồ đang bị ô nhiễm nghiêm trọng ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp.

Ở ven biển, nước mặn có chiều hướng tiến sâu vào đất liền, lấn chiếm vào diện tích đất nông nghiệp, gây tốn kém chi phí để thau chua rửa mặn. Đặc biệt, ở ven biển miền Trung có hiện tượng cát bay làm thu hẹp diện tích đất nông nghiệp. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Điều kiện kinh tế - xã hội có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển và phân bố nông nghiệp Dân cư và lao động vừa là lực lượng sản xuất trực tiếp vừa là nguồn tiêu thụ nông sản. Việt Nam có dân số đông, kết cấu dân số trẻ cung cấp nguồn lao động dồi dào cho sản xuất nông nghiệp, với lực lượng lao động hàng chục triệu người.

Đất nước thống nhất tạo ra những điều kiện thuận lợi cho nền sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa (theo quy luật) được nhanh hơn và vững chắc hơn. Việc thống nhất đất nước đòi hỏi và tạo những điều kiện cho phép nghiên cứu và áp dụng một chế độ quản lý mới kết hợp kế hoạch hoá và thị trường, kết hợp việc thống nhất và tập trung điều khiển trong cả nước với việc phát huy sáng kiến của địa phương và cơ sở. Chế độ ấy sẽ tạo ra những động lực cần thiết để hướng nền kinh tế vào những mục tiêu chiến lược, sử dụng hợp lý nhất lao động và tài nguyên của đất nước, tăng năng suất lao động xã hội và nâng cao chất lượng sản phẩm, vừa phát huy nhanh tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội, vừa khắc phục được những tàn tích và những yếu tố tiêu cực của nền kinh tế thực dân mới sống bám vào chiến tranh. Tạo ra không khí phấn khởi cho nhân dân, hòa mình vào bầu không khí thắng lợi của đất nước, ra sức thi đua sản xuất tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Bên cạnh đó, nền nông nghiệp còn chịu ảnh hưởng từ cơ chế quản lý và thành tựu kinh tế từ giai đoạn trước. Trước năm 1975 đất nước bị chia cắt thành hai miền Bắc – Nam với hai chế độ chính trị khác nhau, hai cơ chế quản lý kinh tế khác nhau và tạo nên hai diện mạo kinh tế khác nhau. Nền nông nghiệp hợp tác hóa miền Bắc đã có những đóng góp cho sự phát triển kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng trong những năm 1975-1985. Tuy vậy, cho đến năm 1975 thì nông nghiệp miền Bắc vẫn chỉ là một nền nông nghiệp “sinh tồn” (tự cung tự cấp) là chủ yếu.

Sự trở lại trạng thái bình thường của nền kinh tế sau chiến tranh làm cho người nông dân thấy không thể tiếp tục chịu đựng nổi cơ chế quản lý cũ nữa. Tình trạng tham ô, lãng phí, chiếm dụng tài sản của tập thể ngày càng nghiêm trọng. Nông nghiệp không đảm bảo được nhu cầu lương thực, do đó Nhà nước phải nhập một khối lượng lương thực rất lớn (năm 1975 nhập 1. Thêm vào đó, trình độ quản lý quá yếu kém của cán bộ đã làm cho nền nông nghiệp miền Bắc phải chịu những tổn thất nặng nề.

Phong trào hợp tác hóa miền Bắc đứng trước một cuộc khủng hoảng toàn diện. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Miền Nam có diện tích canh tác lớn hơn miền Bắc, lại còn hàng triệu hécta đất màu mỡ, tương đối bằng phẳng với khí hậu rất thuận hoà, có thể khai phá nhanh để trồng trọt và dễ dàng cho năng suất cao. Thống nhất đất nước, mang lại cho đất nước cơ hội đưa diện tích canh tác trong cả nước lên gấp đôi trong một thời gian tương đối ngắn, đó là một thuận lợi đặc biệt đối với việc phát triển nông nghiệp. Với đất đai của cả nước, không những có thể mở rộng diện tích trồng lúa mà còn có thể dành những vùng khá lớn để trồng ngô, mía, bông, cao su, dừa, rau, hoa quả nhiệt đới, chăn nuôi bò, trâu và gia cầm trên quy mô lớn.

Dưới chế độ cai trị của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, tháng 3-1970 sắc lệnh “Người cày có ruộng” được ban hành. Trong khu vực trồng lúa và hoa màu phụ, về cơ bản, chế độ sở hữu ruộng đất theo kiểu phong kiến, bao gồm chế độ đại sở hữu – một trong những đặc trưng của tình trạng chiếm hữu ruộng đất ở các tình đồng bằng Nam bộ đã bị tàn lụi và thay vào đó là sở hữu nhỏ về ruộng đất của những người tiểu nông. Nhiều tàn tích của quan hệ bóc lột phong kiến trong nông thôn vẫn còn tồn tại cho đến trước ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Sự chuyển biến về hình thức sở hữu ruộng đất có ý nghĩa tích cực đối với sự phát triển sản xuất nông nghiệp, lực lượng sản xuất đã thoát khỏi quan hệ sản xuất cũ, phần lớn đất đai trở về với người trực tiếp sản xuất theo quy mô từng gia đình; cơ sở vật chất kỹ thuật cho nông nghiệp được tăng cường, đặc biệt là cơ giới hóa nông nghiệp, máy móc được sử dụng rộng rãi trong các khâu sản xuất, tạo hiệu quả.

Bên cạnh trồng lúa là chính, nông dân đã trồng thêm nhiều hoa màu và cây lâu năm. Xu hướng đa canh ngày càng phát triển. Ngay trong vùng nông thôn giải phóng, thu nhập từ lúa cũng có xu hướng giảm trong cơ cấu thu nhập của nông dân. Ngành chăn nuôi bước đầu phát triển và chiếm tỷ trọng ngày một lớn.

Bên cạnh việc chăn nuôi theo phương thức gia đình, trong ngành chăn nuôi đã bắt đầu xuất hiện nhiều nông trại lớn chăn nuôi theo phương pháp công nghiệp với quy trình máy móc hiện đại (tập trung ở Gia Định, Biên Hòa, Bình Dương, Long An).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ