Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn

Kinh tế làng nghề và các ngành nghề nông thôn (NNNT) đóng vai trò đặc thù trong lịch sử phát triển kinh tế – xã hội nông thôn Việt Nam. Làng nghề vừa là nơi lưu giữ truyền thống văn hóa, vừa là cầu nối chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa nông nghiệp và công nghiệp, giữa nông thôn và thành thị theo chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp – nông thôn.

Tại tỉnh Bắc Giang – địa bàn thuộc vùng trung du và miền núi Bắc Bộ với dân số nông thôn chiếm tỷ trọng áp đảo (90,55% vào năm 2007; 90,8% vào năm 2006 với xấp xỉ 1,6 triệu dân) – các làng nghề đã hình thành và phát triển từ rất sớm. Nhiều làng nghề có lịch sử lâu đời như:

  • Nghề làm bánh đa làng Tiêu, làng Sau (xã Dĩnh Kế, TP. Bắc Giang) hình thành từ thế kỷ 13;
  • Nghề làm mỳ gạo, bánh đa nem làng Thổ Hà (xã Vân Hà, huyện Việt Yên) hình thành năm 1450;
  • Nghề nấu rượu làng Yên Viên (xã Vân Hà, huyện Việt Yên) hình thành năm 1700;
  • Nghề đan mây tre Song Khê (huyện Yên Dũng);
  • Nghề nuôi tằm ươm tơ tại Mai Thượng (Hiệp Hòa), Phú Giã (TP. Bắc Giang).

Từ sau năm 1980 và trong thời kỳ đổi mới, Bắc Giang đã khôi phục nghề cũ, đồng thời tiếp nhận và phát triển thêm các nghề mới như nung vôi, đóng cay xỉ, trồng nấm ăn, trồng rau quả quanh năm, tre chắp sơn mài, thêu ren, tăm lụa, gốm dân gian. Toàn tỉnh có 435 làng có nghề, trong đó có 33 làng nghề đạt tiêu chí công nhận theo quy định hiện hành. Kinh tế làng nghề đã đóng góp giải quyết việc làm cho lao động dư thừa và lao động nông nhàn, tăng thu nhập và thúc đẩy phương châm "ly nông bất ly hương".

Tuy nhiên, phát triển kinh tế làng nghề tại Bắc Giang đang đối mặt với nhiều khó khăn, hạn chế: số lượng làng nghề còn ít, tốc độ phát triển chậm; một số nghề truyền thống bị mai một nghiêm trọng (như nghề gốm Thổ Hà còn rất ít hộ sản xuất); mô hình sản xuất phân tán, chủ yếu là kinh tế hộ gia đình; công nghệ và thiết bị chắp vá, lạc hậu; chất lượng lao động không đồng đều; vốn sản xuất hạn chế; ô nhiễm môi trường gia tăng; và đặc biệt là chưa xây dựng được chiến lược phát triển thương hiệu đủ mạnh để cạnh tranh trên thị trường.

Theo đánh giá của Sở Công Thương Bắc Giang được tác giả trích dẫn, 5 nhóm nguyên nhân chủ yếu gây khó khăn cho làng nghề gồm:

  1. Vấn đề tổ chức quản lý ở các làng nghề;
  2. Vấn đề tổ chức sản xuất kinh doanh;
  3. Vấn đề cơ sở hạ tầng và môi trường làng nghề;
  4. Vấn đề vốn sản xuất;
  5. Vấn đề sản phẩm và thị trường tiêu thụ sản phẩm.

Từ thực trạng trên, chuyên đề thực tập tốt nghiệp đặt ra câu hỏi nghiên cứu trọng tâm: Cần những giải pháp nào để giải quyết các khó khăn, vực dậy và phát triển kinh tế làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Giang một cách bền vững đến năm 2020?

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về kinh tế làng nghề, đặc điểm, vai trò, tiêu chí phát triển bền vững và các nhân tố tác động đến kinh tế làng nghề nông thôn.
  2. Khảo sát, phân tích toàn diện thực trạng phát triển kinh tế làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2000–2008 thông qua các chỉ tiêu về quy mô, lao động, vốn, nguyên liệu, hạ tầng, công nghệ, thu nhập, thị trường tiêu thụ và giá trị sản xuất.
  3. Đề xuất hệ thống các giải pháp kinh tế – xã hội chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế làng nghề tỉnh Bắc Giang đến năm 2020.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động kinh tế làng nghề, các yếu tố đầu vào (vốn, lao động, nguyên liệu, công nghệ) và kết quả đầu ra (giá trị sản xuất, thị trường, thu nhập, môi trường) của các làng nghề.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Bắc Giang, tập trung khảo sát chi tiết 33 làng nghề đạt tiêu chí công nhận theo quy định tại các huyện Việt Yên, Yên Dũng, Yên Thế, Hiệp Hòa, Tân Yên, Lạng Giang, Lục Ngạn và TP. Bắc Giang.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu thực trạng thu thập và phân tích chủ yếu trong giai đoạn 2000–2008 (trọng tâm là dữ liệu điều tra năm 2007); định hướng và giải pháp đề xuất đến năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Tác giả xây dựng nền tảng nghiên cứu dựa trên hệ thống các khái niệm và khung quy định pháp lý:

  • Khái niệm Làng: Khu vực địa lý, không gian lãnh thổ xác định tồn tại tập hợp cư dân cùng sinh sống, sản xuất và có mối quan hệ gắn bó khăng khít.
  • Khái niệm Nghề: Các hoạt động sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp tại nông thôn, trong đó lao động tách ra từ nông nghiệp nhằm tăng thu nhập.
  • Khái niệm Làng nghề: Thôn, ấp ở nông thôn có ngành nghề phi nông nghiệp phát triển đến mức trở thành nguồn sống chính hoặc nguồn thu nhập quan trọng của người dân. Về định lượng: làng có từ 35–40% số hộ trở lên tham gia hoạt động ngành nghề (thu nhập từ làng nghề chiếm >50% tổng thu nhập của các hộ), đồng thời giá trị sản lượng ngành nghề chiếm >50% tổng giá trị sản lượng địa phương.
  • Phân loại làng nghề: Phân biệt Làng nghề truyền thống (lịch sử lâu đời hàng trăm, hàng ngàn năm, dựa vào kinh nghiệm dân gian) và Làng nghề mới (hình thành thời kỳ đổi mới qua lan tỏa kỹ thuật hoặc du nhập nghề). Phân loại theo ngành nghề gồm Làng một nghề và Làng nhiều nghề.
  • Phân loại hộ và lao động: Hộ thuần nông, Hộ kiêm (kết hợp nông nghiệp và phi nông nghiệp), Hộ chuyên ngành nghề; Lao động thường xuyên (việc làm ổn định từ 6 tháng trở lên/năm) và Lao động thời vụ (dưới 6 tháng/năm, làm việc vào thời gian nông nhàn).
  • Khung tiêu chí pháp lý: Áp dụng tiêu chuẩn công nhận làng nghề theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; vận dụng các cơ chế hỗ trợ theo Quyết định số 132/2001/QĐ-TTg ngày 07/09/2001 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển giao thông nông thôn và hạ tầng làng nghề.
  • Hệ thống chỉ số phát triển bền vững: Đánh giá phát triển làng nghề qua hai nhóm chỉ số cốt lõi: Chỉ số sinh thái (bảo vệ môi trường nền, kiểm soát chất thải, bảo vệ hệ sinh thái lãnh thổ) và Chỉ số phát triển con người (bảo đảm sức khỏe, tuổi thọ, nâng cao tri thức, đào tạo nghề và cải thiện thu nhập).
  • Nhóm nhân tố ảnh hưởng:
    1. Nhóm tự nhiên: Vị trí địa lý, khí hậu, tài nguyên, nguồn nguyên liệu tại chỗ.
    2. Nhóm kinh tế: Đặc tính sản phẩm, nhu cầu thị trường, vốn đầu tư, cơ sở hạ tầng, lực lượng lao động và kỹ thuật công nghệ.
    3. Nhóm văn hóa – xã hội: Trình độ dân trí, chất lượng dân số (sức khỏe, dịch bệnh, tác động ô nhiễm môi trường sống) và các chính sách kinh tế của Nhà nước.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp thống kê kinh tế: Thu thập chuỗi số liệu thứ cấp, phân tổ thống kê, tính toán số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân nhằm đo lường và so sánh quy mô hộ, lao động, cơ cấu vốn, thu nhập và giá trị sản lượng giữa các nhóm làng nghề.
  • Phương pháp chuyên gia, thảo luận: Tham vấn ý kiến của các cán bộ quản lý, chuyên gia đầu ngành về kinh tế nông nghiệp – nông thôn và đại diện ban quản lý, cơ sở sản xuất tại các làng nghề.
  • Phương pháp điều tra khảo sát: Sử dụng bảng câu hỏi, phiếu điều tra khảo sát trực tiếp tại các cơ sở làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Giang với nội dung về tên làng nghề, loại hình sản xuất, nhân lực, vốn, nguyên liệu, công nghệ, kênh tiêu thụ và thu nhập.

Nguồn dữ liệu

  • Số liệu điều tra thực tế tháng 09/2007 của Sở Công Thương tỉnh Bắc Giang.
  • Tài liệu thống kê, báo cáo thực tập tại Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bắc Giang.
  • Số liệu kinh tế – xã hội của Tổng cục Thống kê (cơ cấu GDP các giai đoạn 1990–2008).
  • Dữ liệu tham khảo từ Hiệp hội Làng nghề Việt Nam và Ủy ban Dân số – Gia đình – Trẻ em.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Cơ sở lý luận về kinh tế làng nghề

Chương I tập trung luận giải các vấn đề lý luận căn bản về làng nghề nông thôn:

  • Bản chất và đặc điểm của kinh tế làng nghề:
    • Làng nghề gắn liền hữu cơ với nông nghiệp nông thôn về lao động, nguyên liệu và thị trường tiêu thụ tại chỗ.
    • Hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu là kinh tế hộ gia đình; người chủ gia đình thường là nghệ nhân hoặc thợ cả nắm giữ bí quyết nghề, tận dụng lao động gia đình thuộc mọi lứa tuổi (đặc biệt là người cao tuổi có kinh nghiệm).
    • Mặt bằng sản xuất chủ yếu kết hợp ngay tại nhà ở; quy mô nhỏ lẻ, thiếu quy hoạch mặt bằng riêng dẫn đến khó khăn trong xử lý chất thải độc hại.
    • Nguyên liệu chủ yếu khai thác tại địa phương, công nghệ sơ chế thủ công thô sơ, nhu cầu vốn không quá lớn nhưng có khả năng giải quyết việc làm cao.
    • Sản phẩm mang tính đơn chiếc, thủ công mỹ nghệ, hàm chứa giá trị văn hóa dân tộc sâu sắc.
  • Vai trò của kinh tế làng nghề:
    • Thu hút nhân lực và giải quyết việc làm tại chỗ, giảm tỷ lệ thất nghiệp và bán thất nghiệp ở nông thôn (lao động sống chiếm 60–65% giá thành sản phẩm thủ công), hạn chế dòng người di cư tự do ra thành phố.
    • Nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống: Thu nhập bình quân của lao động chuyên ngành nghề đạt 430.000 đồng/người/tháng, hộ chuyên đạt 236.000 đồng/người/tháng, hộ kiêm đạt 186.000 đồng/người/tháng (cao gấp 1,7–3,9 lần lao động thuần nông).
    • Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn: Góp phần giảm tỷ trọng nông nghiệp trong GDP cả nước từ 40,70% (năm 1990) xuống 21,99% (năm 2008), tăng tỷ trọng công nghiệp – xây dựng từ 22,87% lên 39,10%.
    • Huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân: Tiết kiệm 30–40% chi phí xây dựng nhà xưởng do tận dụng đất ở, biến tài sản nhàn rỗi thành tư liệu sản xuất.
    • Ổn định xã hội và bảo tồn bản sắc văn hóa truyền thống của cộng đồng làng xã Việt Nam.
  • Các thách thức lớn: Ô nhiễm môi trường (khói bụi, tiếng ồn, nước thải độc hại không qua xử lý); gia tăng bệnh tật và suy giảm sức khỏe cộng đồng; thiếu hụt mặt bằng sản xuất quy chuẩn; trình độ công nghệ và tay nghề lao động thấp.

Chương II: Thực trạng kinh tế làng nghề ở Bắc Giang giai đoạn 2000–2008

Chương II phân tích chi tiết dữ liệu thực nghiệm về làng nghề tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2000–2008 dựa trên cuộc điều tra 33 làng nghề năm 2007:

1. Quy mô, cơ cấu và phân bố làng nghề

Toàn tỉnh có 33 làng nghề đạt tiêu chí theo Thông tư 116/2006/TT-BNN (gồm 24 làng truyền thống và 9 làng nghề mới), tập trung chủ yếu ở vùng thấp. Các huyện vùng cao như Sơn Động, Lục Nam chưa có làng nghề đạt chuẩn.

STT Địa bàn (Huyện/Thành phố) Tổng số làng nghề Chế biến nông sản thực phẩm Mây tre đan Sản xuất VLXD (nung vôi, gạch) Mộc dân dụng Hương thơm Nuôi tằm, ươm tơ Khác (Vận tải thủy, nón...)
1 Huyện Việt Yên 8 2 4 1 0 0 0 1
2 Huyện Yên Dũng 7 0 6 0 1 0 0 0
3 Huyện Yên Thế 5 0 1 4 0 0 0 0
4 Thành phố Bắc Giang 5 4 0 0 0 0 1 0
5 Huyện Hiệp Hòa 3 0 2 0 0 0 1 0
6 Huyện Tân Yên 2 0 0 0 0 1 0 1
7 Huyện Lạng Giang 2 0 0 0 1 0 0 1
8 Huyện Lục Ngạn 1 1 0 0 0 0 0 0
Tổng Toàn tỉnh Bắc Giang 33 7 13 5 2 1 2 3

Toàn bộ 33 làng nghề có 6.424 hộ làm nghề trên tổng số 9.923 hộ (tỷ lệ bình quân 65%). Bình quân mỗi làng có 195 hộ làm nghề.

2. Lao động và kỹ thuật sản xuất

  • Quy mô nhân lực: Tổng nhân khẩu làm nghề tại 33 làng nghề là 20.811 người (chiếm 48,3% tổng nhân khẩu các làng). Trong đó, lao động trong độ tuổi là 14.243 người (68,4%), lao động ngoài độ tuổi là 6.568 người (31,6%).
  • Nguồn gốc lao động: Người trong làng là 19.811 người (95,2%), lao động thuê ngoài từ địa phương khác chỉ có 1.000 người (4,8%).
  • Trình độ: Chủ yếu là lao động tự học nghề theo lối truyền thống gia đình ("cha truyền con nối"), thiếu đào tạo bài bản; phần lớn kết hợp làm nghề vào thời gian nông nhàn.

3. Các yếu tố đầu vào (Cơ sở hạ tầng, công nghệ, nguyên liệu, vốn)

  • Cơ sở hạ tầng: Tỉnh đã hỗ trợ hơn 15 tỷ đồng cùng vốn đối ứng của nhân dân để đầu tư hạ tầng tại 5 làng nghề điểm (Tăng Tiến, Vân Hà, Đông Thượng, Thủ Dương, Trung Hưng). Tuy nhiên, đường giao thông tới phần lớn các làng nghề chưa đáp ứng được tải trọng xe container; hệ thống lưới điện sản xuất chắp vá, quá tải.
  • Công nghệ thiết bị: Đã có một số cải tiến cục bộ (máy xay bột trong làm bún, máy xẻ bào trong nghề mộc, máy chẻ nan và sấy bóng mây tre), nhưng nhìn chung máy móc còn thô sơ, thủ công tự chế, hàm lượng công nghệ thấp.
  • Nguồn nguyên liệu: Nguyên liệu khai thác tại chỗ trong tỉnh đáp ứng 56%, còn lại 44% phải nhập từ ngoài tỉnh. Một số làng nghề phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nguyên liệu ngoại tỉnh như làng khâu nón Gai Bún (nhập ngoài 95%), các làng đan lát nhập 50–60%. Khoảng 44% số hộ sản xuất không có nguồn cung cấp nguyên liệu ổn định.
  • Vốn sản xuất: Tổng số vốn tại 33 làng nghề năm 2007 đạt 93.124 triệu đồng, gồm 63.415 triệu đồng vốn cố định (68,1%) và 29.709 triệu đồng vốn lưu động (31,9%). Bình quân một làng nghề có 1.921 triệu đồng vốn cố định và 900 triệu đồng vốn lưu động; bình quân một hộ làm nghề có 15,9 triệu đồng vốn cố định và 8,2 triệu đồng vốn lưu động. Vốn tự có chiếm tới 84% (hoặc 78% theo báo cáo cơ sở), vốn vay tín dụng chỉ chiếm 16% (đến 22%).
Chỉ tiêu vốn sản xuất Giá trị tổng cộng (Triệu đồng) Tỷ trọng (%) Mức bình quân / Làng nghề Mức bình quân / Hộ làm nghề
Vốn cố định 63.414,8 68,1% 1.921,66 triệu đồng 15,87 triệu đồng
Vốn lưu động 29.709,4 31,9% 900,28 triệu đồng 8,24 triệu đồng
Tổng vốn sản xuất 93.124,2 100,0% 2.821,94 triệu đồng 24,11 triệu đồng
Cơ cấu nguồn vốn:
- Vốn tự có của hộ - 84,0% - -
- Vốn vay tín dụng - 16,0% - -

4. Kết quả sản xuất, thu nhập và thị trường tiêu thụ

  • Giá trị sản xuất: Năm 2007, tổng giá trị sản xuất (giá cố định 1994) của 33 làng nghề ước đạt 200 tỷ đồng, tăng 66,6% so với năm 2000. Tổng giá trị sản phẩm NNNT và làng nghề toàn tỉnh ước đạt khoảng 700 tỷ đồng theo giá thực tế.
  • Thu nhập: Thu nhập từ làm nghề chiếm bình quân 80% tổng thu nhập của các làng nghề; mức thu nhập từ nghề tạo ra cao gấp 3–4 lần so với sản xuất nông nghiệp thuần túy. Thu nhập bình quân của người làm nghề đạt 554.000 đồng/người/tháng, hộ làm nghề đạt 1.485.000 đồng/hộ/tháng.
    • Thu nhập cao nhất: Làng vận tải thủy Nguyệt Đức (huyện Việt Yên) đạt 3.300.000 đồng/hộ/tháng và 1.320.000 đồng/người/tháng; các làng sản xuất vôi đạt khoảng 4.000.000 đồng/hộ/tháng và 1.000.000–1.200.000 đồng/người/tháng.
    • Thu nhập thấp nhất: Làng nấu rượu Yên Viên (300.000 đồng/hộ/tháng; 120.000 đồng/người/tháng).
  • Kênh tiêu thụ: Tiêu thụ trong xã 26%, trong tỉnh 36%, ngoài tỉnh 38%, và xuất khẩu trực tiếp/gián tiếp chiếm 5%. Hình thức bán qua trung gian chiếm 69%, tự bán lẻ trực tiếp chiếm 31%.

Chương III: Một số biện pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế làng nghề ở Bắc Giang đến năm 2020

Dựa trên kết quả nghiên cứu lý luận ở Chương I và thực trạng 5 nhóm khó khăn ở Chương II, các định hướng giải pháp chủ yếu được tác giả đề ra bao gồm:

  • Hoàn thiện mô hình quản lý và chuyển đổi hình thức tổ chức sản xuất từ hộ cá thể nhỏ lẻ sang mô hình hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân ngành nghề nông thôn.
  • Tăng cường đầu tư đồng bộ cơ sở hạ tầng kỹ thuật (đường giao thông liên thôn tải trọng lớn, hệ thống cấp thoát nước, trạm biến áp điện sản xuất) và quy hoạch các cụm công nghiệp – làng nghề tập trung để di dời sản xuất ra khỏi khu dân cư.
  • Thực hiện các biện pháp kiểm soát và xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề (xử lý khí thải lò vôi, nước thải nghề làm bún, bã thải nấu rượu, rác thải độc hại từ hóa chất nhuộm tre nứa).
  • Mở rộng kênh cấp vốn tín dụng ưu đãi cho các hộ sản xuất làng nghề; đơn giản hóa thủ tục thế chấp tài sản để tăng tỷ trọng vốn vay phục vụ đổi mới máy móc thiết bị.
  • Ổn định vùng cung ứng nguyên liệu tại chỗ thông qua liên kết giữa các địa phương trong tỉnh và các tỉnh lân cận.
  • Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, đổi mới mẫu mã, đăng ký bảo hộ nhãn hiệu và xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm đặc sản làng nghề (rượu làng Vân, mỳ Chũ, bánh đa Dĩnh Kế, mây tre đan Tăng Tiến) nhằm mở rộng thị trường nội địa và hướng mạnh ra xuất khẩu.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  1. Lượng hóa bức tranh toàn cảnh làng nghề Bắc Giang năm 2007: Tài liệu đã tổng hợp hệ thống số liệu cụ thể của 33 làng nghề đạt tiêu chí trên địa bàn tỉnh, với quy mô 6.424 hộ làm nghề (chiếm 65% tổng số hộ) và 20.811 nhân khẩu tham gia sản xuất.
  2. Xác định các chỉ tiêu kinh tế đầu vào và đầu ra:
    • Vốn sản xuất toàn bộ 33 làng nghề là 93,124 tỷ đồng (84% là vốn tự có, chỉ 16% vốn vay ngân hàng);
    • Tỷ lệ cung ứng nguyên liệu trong tỉnh đạt 56%, phải nhập ngoại tỉnh 44%;
    • Thu nhập bình quân của lao động làng nghề đạt 554.000 đồng/tháng, cao gấp 3–4 lần sản xuất thuần nông;
    • Giá trị sản xuất làng nghề năm 2007 (giá 1994) đạt 200 tỷ đồng, tăng 66,6% so với năm 2000.
  3. Chỉ ra các điểm nghẽn then chốt: Sự phát triển mang tính tự phát, thiếu quy hoạch tập trung; quy mô vốn bình quân trên mỗi hộ rất thấp (24,11 triệu đồng/hộ); tỷ lệ xuất khẩu nhỏ lẻ (5%) và phụ thuộc 69% vào khâu trung gian phân phối; cơ sở hạ tầng giao thông và điện chưa đáp ứng nhu cầu sản xuất hàng hóa lớn; vấn đề ô nhiễm môi trường chưa có cơ chế tài chính xử lý triệt để.

Đóng góp thực tiễn

  • Đề tài là công trình nghiên cứu khảo sát thực tế tại chỗ tại Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bắc Giang, cung cấp nguồn dữ liệu thống kê chi tiết theo từng thôn, làng nghề về số hộ, nhân lực, nguồn vốn và chủng loại sản phẩm.
  • Đề xuất các căn cứ khoa học và thực tiễn hỗ trợ cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh trong việc xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển ngành nghề nông thôn và phân bổ nguồn vốn đầu tư hạ tầng làng nghề giai đoạn định hướng đến năm 2020.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Dữ liệu khảo sát chuyên sâu của chuyên đề tập trung vào mốc năm 2007–2008 và phạm vi 33 làng nghề đủ tiêu chí công nhận, chưa bao quát chi tiết toàn bộ 402 làng có nghề quy mô nhỏ khác trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Đánh giá tác động chuyên sâu về mặt môi trường và kinh tế tuần hoàn tại các làng nghề sản xuất thực phẩm và vật liệu xây dựng.
    • Nghiên cứu chuỗi giá trị và giải pháp xây dựng chuỗi cung ứng – phân phối hiện đại cho nông sản chế biến Bắc Giang trong bối cảnh thương mại điện tử và hội nhập quốc tế.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng:
    • Sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế phát triển, Kinh tế nông nghiệp, Quản lý kinh tế và Địa lý kinh tế tham khảo phương pháp phân tích thực trạng kinh tế nông thôn cấp địa phương.
    • Cán bộ nghiên cứu, chuyên viên tại các Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nông nghiệp & PTNT, Sở Công Thương các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc.
  • Nội dung có giá trị cao: Hệ thống các bảng thống kê kinh tế chi tiết tại Chương II (Bảng 2.1, 2.2, 2.3, 2.4, 2.5, 2.6, 2.7, 2.8) về quy mô hộ, phân loại ngành nghề, nguồn vốn và cơ cấu phân phối của 33 làng nghề tỉnh Bắc Giang năm 2007.

Câu hỏi thường gặp

1. Tiêu chí định lượng để xác định một làng nghề trong công trình nghiên cứu này là gì?

Theo lý luận được trình bày ở Chương I và Thông tư 116/2006/TT-BNN, một làng được xác định là làng nghề khi có tối thiểu từ 35–40% số hộ tham gia hoạt động ngành nghề phi nông nghiệp (thu nhập từ làng nghề chiếm trên 50% tổng thu nhập của các hộ), đồng thời giá trị sản lượng ngành nghề chiếm trên 50% tổng giá trị sản lượng của địa phương.

2. Đến năm 2007, tỉnh Bắc Giang có bao nhiêu làng nghề đạt tiêu chí và cơ cấu phân loại ra sao?

Theo số liệu điều tra tháng 09/2007 của Sở Công Thương Bắc Giang, toàn tỉnh có 435 làng có nghề, nhưng chỉ có 33 làng nghề đủ điều kiện đạt tiêu chí (gồm 24 làng nghề truyền thống và 9 làng nghề mới). Cơ cấu theo ngành nghề gồm: 13 làng mây tre đan; 7 làng chế biến nông sản thực phẩm (mỳ, bún, bánh đa, nấu rượu); 5 làng sản xuất vật liệu xây dựng (nung vôi, gạch); 2 làng mộc dân dụng; 2 làng nuôi tằm ươm tơ; 1 làng hương đen; 1 làng làm chổi tre/chít; 1 làng khâu nón và 1 làng vận tải thủy.

3. Quy mô vốn sản xuất và cơ cấu nguồn vốn tại 33 làng nghề Bắc Giang như thế nào?

Tổng vốn sản xuất của 33 làng nghề đạt 93.124 triệu đồng (vốn cố định chiếm 68,1%, vốn lưu động chiếm 31,9%). Bình quân mỗi hộ làm nghề chỉ có 24,11 triệu đồng tổng vốn sản xuất (15,87 triệu đồng vốn cố định và 8,24 triệu đồng vốn lưu động). Nguồn vốn chủ yếu là vốn tự có của hộ gia đình (chiếm 84%), trong khi vốn vay tín dụng chỉ chiếm 16%.

4. Làng nghề nào có mức thu nhập cao nhất và thấp nhất theo số liệu điều tra năm 2007?

  • Làng nghề có thu nhập cao nhất: Làng vận tải thủy Nguyệt Đức (xã Vân Hà, huyện Việt Yên) với mức thu nhập bình quân 3.300.000 đồng/hộ/tháng và 1.320.000 đồng/người/tháng.
  • Làng nghề có thu nhập thấp nhất: Làng nấu rượu Yên Viên (xã Vân Hà, huyện Việt Yên) với mức thu nhập từ nghề chỉ đạt 300.000 đồng/hộ/tháng và 120.000 đồng/người/tháng.

5. Thực trạng kênh tiêu thụ và xuất khẩu sản phẩm làng nghề Bắc Giang năm 2007 diễn ra như thế nào?

Sản phẩm làng nghề Bắc Giang tiêu thụ tại thị trường trong xã chiếm 26%, trong tỉnh chiếm 36%, ngoài tỉnh chiếm 38%, và xuất khẩu chỉ chiếm 5%. Về hình thức phân phối, có tới 69% sản phẩm phải bán qua trung gian và chỉ có 31% do các cơ sở tự bán trực tiếp.


Kết luận

Chuyên đề tốt nghiệp "Phát triển kinh tế làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đến năm 2020" đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về kinh tế làng nghề nông thôn và phản ánh chi tiết thực trạng sản xuất tại 33 làng nghề đạt chuẩn của tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2000–2008. Kết quả nghiên cứu làm nổi bật vai trò của làng nghề trong tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng thu nhập cho cư dân nông thôn gấp 3–4 lần sản xuất thuần nông, đồng thời chỉ ra các điểm nghẽn căn bản về quy mô vốn, công nghệ lạc hậu, hạ tầng thiếu đồng bộ và ô nhiễm môi trường. Hệ thống giải pháp đề xuất tập trung vào quy hoạch cụm sản xuất tập trung, mở rộng tín dụng, hoàn thiện hạ tầng và xây dựng thương hiệu sản phẩm có giá trị ứng dụng thiết thực cho định hướng phát triển kinh tế nông thôn Bắc Giang đến năm 2020.