CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ LÀNG NGHỀ I. Khái niệm và đặc điểm của làng nghề 1. Khái niệm về làng nghề - Khái niệm Làng: Là khu vực địa lý, không gian lãnh thổ nhất định mà tại đó tồn tại những tập hợp cư dân cùng sinh sống, sản xuất và giữa họ có mối quan hệ khăng khít với nhau. - Khái niệm nghề: là các hoạt động sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp diễn ra tại khu vực nông thôn mà lao động trong các nghề này thường được tách ra từ nông nghiệp với mục tiêu tăng thu nhập.
- Khái niệm làng nghề: Làng nghề là làng (thôn, ấp) ở nông thôn có ngành nghề phi nông nghiệp phát triển tới mức trở thành nguồn sống chính hoặc nguồn thu nhập quan trọng của người dân trong làng. Về mặt định lượng, làng nghề là làng có từ 35- 40% số hộ trở lên có tham gia hoạt động ngành nghề ( thu nhập từ làng nghề chiếm trên 50% tổng thu nhập của các hộ) đồng thời giá trị sản lượng của ngành nghề chiếm trên 50% tổng giá trị sản lượng của địa phương. - Làng nghề truyền thống: là những làng nghề xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử và còn tồn tại đến ngày nay, là những làng nghề tồn tại hàng trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm có liên quan chặt chẽ đến yếu tố truyền thống và kinh nghiệm dân gian được tích luỹ lại qua nhiều thế hệ. - Thế nào là làng nghề mới: Làng nghề mới là những làng nghề xuất hiện do sự phát triển lan toả của các làng nghề truyền thống trong những năm gần đây, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, thời kỳ chuyển sang nền kinh tế thị trường.
Sự xuất hiện và phát triển của các làng nghề này cũng mang những ý Líp: KTPT 47B_QN Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp GVHD: ThS. Vò C¬ng nghĩa tích cực đối với đời sống khu vực kinh tế nông thôn nói riêng và nền kinh tế thành phố nói chung. - Những con đường xuất hiện làng nghề: * Từ một số cá nhân hay gia đình dòng họ có những kỹ năng và có sự sáng tạo nhất định. * Có nghệ nhân từ nơi khác đến truyền nghề, nghệ nhân này được suy tôn là tổ nghề.
* Do những người đi nơi khác học sau đó truyền lại nghề. * Do chủ trương của địa phương khuyến khích phát triển nghề phụ, phục vụ cho đời sống xã hội và cải thiện đời sống nông dân. * Một số làng nghề hình thành trên cơ sở sự lan toả dần từ một số làng nghề khác, tạo ra một cụm làng nghề, xã nghề ở vùng lân cận. * Tuỳ theo mỗi địa phương, mỗi ngành nghề, sản phẩm cũng như chất lượng của sản phẩm và tuỳ theo nhu cầu thị trường.
mà mỗi làng nghề có một con đường hình thành khác nhau như đã nêu trên. Tuy nhiên, sự tồn tại của làng nghề có bền vững hay không, có đạt được hiệu quả hay không thì lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác trong đó có cả những yếu tố chủ quan và khách quan đối với các làng nghề. - Một số khái niêm khác có liên quan: * Làng một nghề: là những làng ngoài nghề nông ra chỉ cần thêm một nghề thủ công nghiệp duy nhất chiếm ưu thế tuyệt đối, như the La Cả, lụa Vạn Phúc, gốm Bát Tràng, chạm bạc Đồng Sâm, thêu Quất Động, làng sắt Đa Hội, chạm khắc Kim Thiều, Phú khê. * Làng nhiều nghề: là những làng nghề ngoài nghề nông còn có một số nghề thủ công nghiệp như Ninh Hiệp, Kiêu Kị (Hà Nội), Trai Trang (Hưng Yên), Đình Bảng (Bắc Ninh).
Líp: KTPT 47B_QN Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp GVHD: ThS. Vò C¬ng * Hộ thuần nông: là những hộ có toàn bộ hoặc phần lớn lao động tham gia sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp. Nguồn sống chính của các thành viên trong hộ dựa vào kết quả sản xuất nông- lâm- ngư nghiệp. * Hộ kiêm: (hộ làm nông nghiệp kiêm ngành nghề phi nông nghiệp hoặc hộ ngành nghề kiêm sản xuất nông nghiệp) là những hộ làm nông nghiệp, vừa làm ngành nghề; cả hai hoạt động ngành nghề và sản xuất nông nghiệp đều có vai trò quan trọng hoặc ít nhất là không thể thiếu được một trong hai loại sản xuất kinh doanh này trong việc đảm bảo công ăn việc làm và đời sống cho bản thân hộ gia đình.
* Hộ chuyên ngành nghề (hộ chuyên) là những hộ có toàn bộ hoặc phần lớn lao động bao gồm các thành viên trong hộ cũng như lao động thuê ngoài tham gia sản xuất các ngành nghề phi nông nghiệp dưới bất cứ hình thức sản xuất hay kinh doanh, dịch vụ, tự tạo việc làm hay làm công hưởng lương, nguồn thu nhập chủ yếu của hộ từ các hoạt động ngành nghề phi nông nghiệp. * Lao động thường xuyên trong năm là những lao động bao gồm lao động hộ gia đình và lao động làm công hưởng lương có việc làm ổn định từ sáu tháng trở lên. * Lao động sử dụng thời vụ là những lao động bao gồm lao động hộ gia đình, lao động làm công hưởng lương chỉ tham gia hoạt động ngành nghề vào các tháng nông nhàn hoặc vào lúc do sản xuất gia tăng cần phải huy động thêm lao động. Với số lao động sử dụng có tính thời vụ, thường có thời gian làm việc ổn định dưới sáu tháng và các hoạt động ngành nghề này đối với họ không phải là hoạt động kinh tế chính trong năm.
Đặc điểm của làng nghề - Thứ nhất: sự phát triển của làng nghề gắn với sự phát triển của nông thôn Líp: KTPT 47B_QN Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp GVHD: ThS. Vò C¬ng Làng nghề có sự gắn bó không tách rời với nông nghiệp nông thôn về lao động, thị trường, nguyên liệu, đất đai. Các nghề thủ công và các ngành nghề nông thôn khác dần tách khỏi nông nghiệp nhưng không tách khỏi nông thôn mà nó quay trở lại phục vụ cho nông thôn. Do đó việc phát triển các làng nghề, ngành nghề là góp phần phát triển nông nghiệp - nông thôn.
- Thứ hai: hình thức tổ chức sản xuất lao động ở các làng nghề Hình thức tổ chức sản xuất ở các làng nghề từ xưa đến nay chủ yếu vẫn là hình thức tổ chức kinh tế hộ gia đình. Một số đã có sự phát triển thành HTX và xí nghiệp tư nhân. Trong hình thức tổ chức sản xuất hộ gia đình, người chủ gia đình thường là thợ cả, trong đó thường là nghề nhân hoặc thợ giỏi còn các thành viên khác được huy động vào các công đoạn khác nhau của quá trình sản xuất, kinh doanh và điều này phụ thuộc và khả năng cùng như giới tính hoặc lứa tuổi của từng người. Đáng lưu ý là người lao động có tuổi ở các làng nghề truyền thống lại có thể là nguồn nhân lực quý cần khai thác về kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất.
Các cơ sở sản xuất nói chung có thể thuê lao động theo hình thức thường xuyên hay thời vụ tuỳ theo yêu cầu sản xuất và khả năng của bản thân các cơ sở. Hình thức này bảo đảm gắn bó quyền lợi và trách nhiệm, tận dụng được lao động và thời gian. Nó phù hợp với các cơ sở sản xuất nhỏ không có nhu cầu lớn về đầu tư như hiện nay. - Thứ ba: cơ sở vật chất, nhà xưởng, thiết bị công nghệ Tình trạng phổ biến hiện nay trong các làng nghề là sử dụng ngay nhà ở, diện tích ở làm nơi sản xuất.
Điều này xuất phát từ quy mô sản xuất nhỏ, sản xuất theo gia đình. Khi quy mô sản xuất tăng lên hay những sự thay đổi cần thiết về điều kiện sản xuất khác phát sinh thì gây ra rất nhiều khó khăn. Đơn giản như việc sử dụng hoá chất trong sản xuất, do không có những dự trù cho việc xử lý chất thải và hoá chất thải nên những chất thải độc hại này có Líp: KTPT 47B_QN Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp GVHD: ThS. Vò C¬ng ảnh hưởng xấu trực tiếp đến hộ gia đình sản xuất và hơn thế nữa, ảnh hưởng đến cả môi trường chung của làng, xã, những gia đình lân cận.
Đây đang là một vấn đề khó cho việc phát triển làng nghề hiện nay. - Thứ tư: nguyên liệu, nhu cầu về vốn Nguyên liệu cho sản xuất ở các làng nghề chủ yếu là khai thác tại địa phương và các nguồn nguyên liệu trong nước, đặc biệt là tài nguyên thiên nhiên, các nguồn nông lâm hải sản của địa phương. Việc sơ chế nguyên liệu thông thường do các cơ sở sản xuất tự làm lấy với kỹ thuật thủ công đơn giản hoặc máy móc kỹ thuật tự chế, lạc hậu. Chính vì vậy mà việc tiêu chuẩn hoá chất lượng nguyên liệu cũng như chất lượng sản phẩm là khó khăn.
Về nhu cầu vốn, các làng nghề thường không yêu cầu vốn đầu tư lớn, nhưng lại có khả năng thu hút nhiều lao động, có khả năng mang lại hiệu quả kinh tế xã hội. - Thứ năm: đặc điểm về sản phẩm, thị trường của làng nghề Sản phẩm của các làng nghề thường là các vật dụng phục vụ cho đời sống sản xuất và sinh hoạt hàng ngày như các loại thực phẩm (sản phẩm của nghề chế biến nông sản ) hay các vật dụng đơn giản (sản phẩm nghề mây tre đan) hoặc phục vụ nhu cầu sinh hoạt ( sản phẩm nghề thêu, dệt, chạm khắc, vận tải). Các loại sản phẩm này không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu cho người nông dân mà nó còn mang tính văn hoá, tính mỹ thuật. Nhất là đối với các sản phẩm của các làng nghề truyền thống, chúng mang những giá trị văn hoá độc đáo, thậm chí trở thành các di sản mang bản sắc của vùng, của dân tộc.
Tuy nhiên, do tính chất sản xuất thủ công nên sản xuất không phải là sản xuất hàng loạt mà chỉ đơn chiếc. Các làng nghề cũng chưa đủ khả năng theo kịp được sự phát triển của đời sống xã hội trong nước và thị hiếu nước ngoài. Ở Bắc Giang, số lượng các làng nghề truyền thống có tên tuổi không còn nhiều Líp: KTPT 47B_QN Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp GVHD: ThS. Vò C¬ng nên chủ yếu các làng nghề hiện nay sản xuất các sản phẩm để đáp ứng nhu cầu khu vực là chính.
Về thị trường tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề, trong điều kiện hiện nay, thị trường tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề được mở rộng bao gồm cả thị trường trong nước và thị trường nước ngoài. Tuy nhiên do chất lượng sản phẩm còn chưa cao cũng như những yếu kém trong tổ chức tiêu thụ sản phẩm mà khả năng tiếp cận thị trường của các làng nghề hiện nay chưa cao.