Tổng quan nghiên cứu

Dự án Thủy điện Sơn La là công trình thủy điện trọng điểm quốc gia có công suất 2.400 MW, lớn nhất khu vực Đông Nam Á, chính thức khánh thành vào ngày 23 tháng 12 năm 2012. Quá trình triển khai công trình đã kéo theo cuộc di dân tái định cư lịch sử với quy mô 20.477 hộ, trong đó tỉnh Sơn La chiếm 12.337 hộ, bố trí trên 78 khu và 285 điểm tái định cư tập trung cùng các điểm xen ghép. Tại huyện Quỳnh Nhai, toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội của đồng bào các dân tộc đã trải qua sự chuyển đổi sâu sắc khi địa phương tổ chức sắp xếp chỗ ở và sản xuất cho hơn 300 hộ dân tại các khu tái định cư tập trung và xen ghép thuộc ba xã Mường Giàng, Mường Giôn và Chiềng Bằng.

Vấn đề nghiên cứu cốt lõi nảy sinh từ việc người dân phải rời bỏ tư liệu sản xuất truyền thống tại các vùng thung lũng bằng phẳng, màu mỡ để chuyển lên các sườn núi cao có địa hình phức tạp, nơi diện tích có độ dốc trên 25 độ chiếm tới 88,0% tổng diện tích tự nhiên 105.600 ha của toàn huyện. Mục tiêu cụ thể của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân vùng tái định cư giai đoạn 2016 - 2018, phân tích ma trận điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội - thách thức (SWOT), từ đó xác định các nhân tố ảnh hưởng và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế hộ giai đoạn 2020 - 2025.

Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc giải quyết bài toán sinh kế bền vững khi thu nhập bình quân đầu người của cư dân tái định cư đã tăng từ 2,15 triệu đồng/năm vào năm 2005 lên mức 10,5 triệu đồng/năm vào năm 2016 (tăng 4,88 lần), song nguồn lực đầu tư trực tiếp cho phát triển sản xuất chỉ chiếm 4,8% tổng cơ cấu vốn dự án, tạo ra nguy cơ bất ổn an ninh lương thực lâu dài nếu không có chiến lược can thiệp đồng bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết kinh tế nông dân của nhà kinh tế nông học Alexander Chayanov (năm 1925), khẳng định hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ, sử dụng lao động gia đình là chính nhằm tối đa hóa việc thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng nội bộ mà không vận hành thuần túy theo cơ chế tối đa hóa lợi nhuận biên của doanh nghiệp tư bản. Bên cạnh đó, đề tài tích hợp lý thuyết sinh kế bền vững và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn của các học giả Việt Nam như Lê Đình Thắng (năm 1993) và Đào Thế Tuấn (năm 1997), trong đó xác định nông hộ là tế bào kinh tế cơ sở chịu sự chi phối mạnh mẽ của hệ thống thể chế và thị trường.

Mô hình nghiên cứu vận dụng các khái niệm cốt lõi: hộ nông dân tái định cư (đơn vị kinh tế thực hiện di dời và tái tạo tư liệu sản xuất), hình thức tái định cư xen ghép và tập trung theo Nghị định số 47/2014/NĐ-CP, cùng các nguồn vốn sinh kế (vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính, vốn con người và vốn xã hội).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo phát triển kinh tế - xã hội, số liệu niên giám thống kê giai đoạn 2016 - 2018 của Chi cục Thống kê huyện Quỳnh Nhai và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ (Quyết định số 08/2007/QĐ-TTg, Nghị định số 197/2004/NĐ-CP). Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa năm 2018 bằng phiếu phỏng vấn bán cấu trúc.

Cỡ mẫu khảo sát gồm 300 hộ nông dân tái định cư, được xác định theo công thức Slovin với mức sai số biên cho phép là 5%, phân bổ tại ba điểm nghiên cứu đặc trưng: điểm Huổi Ngựu thuộc xã Mường Giàng (95 hộ), điểm Huổi Mận thuộc xã Mường Giôn (96 hộ) và điểm Huổi Lực/Nà Huổi thuộc xã Chiềng Bằng (109 hộ). Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được lựa chọn nhằm bảo đảm tính đại diện cao cho các nhóm hộ khá, trung bình và nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số (chiếm 80,0% là dân tộc Thái).

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tổ kinh tế và đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) là để bóc tách rõ mối tương quan giữa các yếu tố đầu vào (đất đai định mức 400 m2 đất ở/hộ, tỷ lệ lao động nông nghiệp chiếm 76,47%) với kết quả đầu ra (giá trị sản xuất trồng trọt, chăn nuôi và mức chi tiêu sinh hoạt), bảo đảm tính chuẩn xác khoa học trong suốt tiến trình nghiên cứu từ năm 2016 đến năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng kinh tế chung của huyện Quỳnh Nhai giai đoạn 2016 - 2018 đạt mức bình quân 5,56%/năm (năm 2016 đạt 5,6%, năm 2017 đạt 5,5% và năm 2018 đạt 5,6%). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng nhưng còn chậm: tỷ trọng nhóm ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 59,65% năm 2016 xuống còn 54,08% năm 2018 (giảm 5,57%); ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 21,15% lên 25,49% (tăng 4,34%); ngành dịch vụ tăng từ 19,20% lên 20,43% (tăng 1,23%).

Thứ hai, đời sống vật chất của các hộ tái định cư có bước chuyển biến tích cực so với thời điểm trước di dân. Thu nhập bình quân đầu người năm 2016 đạt 10,5 triệu đồng/người/năm, cao gấp 4,88 lần so với mức 2,15 triệu đồng/người/năm của năm 2005. Tỷ lệ hộ gia đình sở hữu xe máy, ti vi màu và các phương tiện sinh hoạt thiết yếu tăng đáng kể tại cả ba xã điều tra.

Thứ ba, cơ cấu sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân điều tra năm 2018 bộc lộ sự mất cân đối nghiêm trọng. Giá trị sản xuất từ trồng trọt vẫn chiếm tỷ trọng chi phối trên 70% tổng thu nhập nông nghiệp, sản phẩm hàng hóa chủ yếu là ngô lai và lúa nương với năng suất bấp bênh. Hoạt động chăn nuôi đại gia súc có xu hướng thu hẹp do thiếu bãi chăn thả tập trung và thường xuyên chịu thiệt hại bởi rét đậm, rét hại vào mùa đông.

Thứ tư, tình trạng thiếu hụt tư liệu sản xuất dẫn đến hiện tượng tái di chuyển tự phát. Tại các điểm tái định cư Huổi Lóng và Huổi Lực, do diện tích đất lúa nước được giao thấp hơn nhiều so với nơi ở cũ và công trình thủy lợi vận hành kém hiệu quả, một bộ phận hộ dân đã phải rời bỏ khu tái định cư để quay về khu vực lòng hồ cũ canh tác. Đồng thời, chất lượng nguồn nhân lực tại chỗ rất thấp với tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ đạt 22,0% trên tổng số 27.421 lao động đang làm việc trong nền kinh tế, khiến các chương trình đào tạo nghề phi nông nghiệp như mây tre đan hay dệt thổ cẩm gần như không phát huy tác dụng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các tồn tại trên xuất phát từ sự lệch pha trong cơ cấu phân bổ vốn đầu tư của dự án tái định cư: 45,8% tổng vốn dành cho xây dựng cơ sở hạ tầng, 42,0% dành cho bồi thường tài sản, 7,4% cho hỗ trợ di chuyển, trong khi chỉ có 4,8% vốn được phân bổ trực tiếp cho việc phát triển sản xuất và phục hồi sinh kế. Điều này giải thích tại sao hạ tầng giao thông, điện lưới được xây dựng khang trang nhưng người dân lại thiếu công cụ và điều kiện thâm canh cây trồng mới.

So sánh với các nghiên cứu thực tiễn tại Thủy điện Hòa Bình (nơi có 40% số hộ thiếu nước sinh hoạt và tỷ lệ nghèo vùng lòng hồ lên tới 42%) và Thủy điện Tuyên Quang (điểm tái định cư Nà Chao người dân chỉ đủ lương thực 7 - 8 tháng trong năm), kết quả tại Quỳnh Nhai phản ánh quy luật chung của quá trình tái định cư thủy điện tại Việt Nam: sự suy giảm vốn tự nhiên (đặc biệt là đất phù sa màu mỡ) không thể bù đắp đơn thuần bằng việc xây dựng hạ tầng kỹ thuật. Dữ liệu này có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ tròn so sánh cơ cấu vốn đầu tư dự án và bảng đối sánh thu nhập - chi tiêu của 300 hộ điều tra theo các nhóm giàu, trung bình, nghèo, làm rõ sự chênh lệch sâu sắc về khả năng tích lũy kinh tế giữa các hộ có đất và hộ thiếu đất sản xuất.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, rà soát và điều chỉnh chính sách đất đai cho nông hộ. Ủy ban nhân dân huyện Quỳnh Nhai chủ trì phối hợp với Phòng Tài nguyên và Môi trường tiến hành đo đạc lại quỹ đất nương luân canh, hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giao bổ sung bình quân 0,5 - 1,0 ha đất lâm nghiệp/hộ trong giai đoạn 2020 - 2022, tạo không gian phát triển kinh tế đồi rừng và vùng đệm chăn thả gia súc.

Thứ hai, chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu cây trồng gắn với nâng cấp hạ tầng thủy lợi. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Quỳnh Nhai hướng dẫn nông dân chuyển đổi tối thiểu 35% diện tích đất dốc kém hiệu quả sang trồng cà phê chè, chuối tiêu hồng và xoài ghép chất lượng cao; đồng thời bố trí ngân sách duy tu 100% hệ thống kênh mương nội đồng nhằm bảo đảm cung cấp nước chủ động cho diện tích lúa nước hai vụ vào năm 2023, phấn đấu tăng giá trị sản xuất trồng trọt thêm 15% mỗi năm.

Thứ ba, phát triển chăn nuôi đại gia súc theo hướng sản xuất hàng hóa có kiểm soát. Trạm Khuyến nông và Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp huyện triển khai mô hình nuôi bò nhốt chuồng vỗ béo, lợn bản địa và gà đen; đặt mục tiêu đến năm 2024 có trên 85% số hộ tại ba xã Mường Giàng, Mường Giôn, Chiềng Bằng xây dựng chuồng trại kiên cố, áp dụng kỹ thuật ủ chua phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn dự trữ và tiêm phòng vắc xin đạt tỷ lệ 100% trước mùa đông.

Thứ tư, đổi mới phương thức đào tạo nghề và tăng cường tiếp cận tín dụng vi mô. Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Quỳnh Nhai mở rộng hạn mức cho vay ưu đãi từ 50 lên 100 triệu đồng/hộ nghèo và cận nghèo giai đoạn 2020 - 2025; Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp phối hợp với các doanh nghiệp bao tiêu nông sản tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật canh tác bền vững trên đất dốc gắn chặt với nhu cầu thực tế của thị trường thay vì các nghề thủ công truyền thống kém hiệu quả.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cán bộ quản lý nhà nước và cơ quan hoạch định chính sách tại Ban Quản lý dự án di dân tái định cư thủy điện, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cùng Ủy ban nhân dân các cấp tại các tỉnh miền núi phía Bắc. Công trình cung cấp bức tranh dữ liệu thực chứng về những bất cập trong phân bổ vốn đầu tư (4,8% cho sản xuất) và tiêu chuẩn định mức đất ở (400 m2/hộ), làm cơ sở để hoàn thiện các văn bản pháp luật về bồi thường, hỗ trợ hậu tái định cư.

Thứ hai, các nhà khoa học, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp, Quản lý tài nguyên và Xã hội học. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận khảo sát phân tầng theo công thức Slovin, ứng dụng công cụ PRA và hệ thống chỉ tiêu phân tích kinh tế hộ đồng bào dân tộc thiểu số.

Thứ ba, các doanh nghiệp nông nghiệp, hợp tác xã và chuỗi cung ứng dịch vụ vật tư nông nghiệp tại vùng Tây Bắc. Các số liệu phân tích về nhu cầu giống mới, thức ăn chăn nuôi và tiềm năng phát triển cây ăn quả giúp doanh nghiệp xây dựng phương án liên kết bốn nhà (Nhà nước - Nhà nông - Doanh nghiệp - Nhà khoa học) bền vững.

Thứ tư, các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và đơn vị tài trợ quốc tế hoạt động trong lĩnh vực giảm nghèo, bảo tồn tri thức bản địa và thích ứng biến đổi khí hậu, nhằm thiết kế các dự án can thiệp sinh kế dựa vào cộng đồng sát với thực địa.

Câu hỏi thường gặp

Dự án tái định cư Thủy điện Sơn La đã làm thay đổi thu nhập của hộ nông dân huyện Quỳnh Nhai như thế nào? Thu nhập bình quân đầu người của cư dân tái định cư đã tăng trưởng vượt bậc từ 2,15 triệu đồng/người/năm năm 2005 lên 10,5 triệu đồng/người/năm năm 2016, tương đương mức tăng 4,88 lần nhờ hạ tầng giao thông và điện lưới được đầu tư hoàn chỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thương hàng hóa tại địa phương.

Tại sao một số hộ dân tại điểm tái định cư Huổi Lóng và Huổi Lực lại quay trở về nơi ở cũ? Nguyên nhân chủ yếu do quỹ đất sản xuất lúa nước tại nơi ở mới bị thu hẹp đáng kể, hệ thống công trình thủy lợi hoạt động kém hiệu quả và chất lượng đất canh tác cằn cỗi trên độ dốc cao, khiến sản lượng lương thực không đủ đảm bảo đời sống sinh hoạt tự cấp tự túc hàng ngày.

Điểm nghẽn lớn nhất trong cơ cấu vốn đầu tư của dự án di dân tái định cư thủy điện là gì? Cơ cấu phân bổ nguồn vốn bị lệch khi tập trung tới 45,8% cho hạ tầng kỹ thuật và 42,0% cho đền bù, trong khi chỉ dành 4,8% tổng kinh phí cho phát triển sản xuất và phục hồi thu nhập, dẫn đến tình trạng hộ dân thiếu vốn và kỹ thuật canh tác lâu dài.

Mô hình kinh tế nông nghiệp nào được xem là tối ưu cho vùng tái định cư Quỳnh Nhai giai đoạn tới? Mô hình kết hợp trồng cây công nghiệp, cây ăn quả trên đất dốc (cà phê chè, xoài ghép, chuối tiêu hồng) với chăn nuôi bò thịt nhốt chuồng vỗ béo và lợn bản địa, ứng dụng kỹ thuật ủ chua thức ăn và canh tác chống xói mòn được chứng minh mang lại hiệu quả cao nhất.

Bài học kinh nghiệm từ Thủy điện Hòa Bình và Tuyên Quang có ý nghĩa gì đối với công tác tái định cư tại Quỳnh Nhai? Các dự án đi trước chỉ ra rằng tái định cư không thể thành công nếu thiếu quy hoạch đất sản xuất chi tiết, bồi thường thiếu minh bạch hoặc buông lỏng công tác hỗ trợ kỹ thuật canh tác sau khi người dân đã chuyển đến nơi ở mới.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện bức tranh kinh tế hộ nông dân vùng tái định cư Thủy điện Sơn La tại huyện Quỳnh Nhai giai đoạn 2016 - 2018 với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 5,56%/năm và thu nhập bình quân đầu người đạt 10,5 triệu đồng/năm.
  • Nghiên cứu chỉ rõ các nút thắt cơ bản: 88,0% diện tích có độ dốc trên 25 độ, định mức đất ở 400 m2/hộ chưa phù hợp với tập quán canh tác truyền thống, thiếu bãi chăn thả gia súc và tỷ lệ vốn đầu tư phát triển sản xuất chỉ chiếm 4,8%.
  • Đóng góp khoa học nổi bật của đề tài là hệ thống hóa cơ sở dữ liệu thực nghiệm từ 300 hộ điều tra tại ba xã trọng điểm, làm rõ mối quan hệ giữa các rào cản tự nhiên - xã hội với năng lực sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Lộ trình giải pháp giai đoạn 2020 - 2025 đề xuất tập trung giao bổ sung đất lâm nghiệp, chuyển dịch cơ cấu sang cây trồng giá trị cao kết hợp chăn nuôi bò nhốt chuồng và mở rộng hạn mức tín dụng ưu đãi lên 100 triệu đồng/hộ.
  • Các cấp chính quyền và cơ quan chuyên môn cần nhanh chóng triển khai mô hình liên kết bốn nhà để tháo gỡ rào cản tiêu thụ sản phẩm, bảo đảm sự phát triển kinh tế - xã hội ổn định và bền vững cho toàn vùng Tây Bắc.