Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Một số vấn đề lý luận về phát triển kinh tế nông hộ 1. Khái niệm về kinh tế nông hộ, phát triển kinh tế nông hộ a.
Hộ Khi nghiên cứu kinh tế hộ trong quá trình phát triển ở khu vực Châu Á Giáo sư T. Như vậy, các cá nhân hay tổ chức khi nhìn nhận và quan điểm về hộ không giống nhau nhưng có những nét chung (Nguyễn Quốc Chỉnh, 2007): Hộ là một nhóm người cùng huyết tộc (cũng có trường hợp đặc biệt vợ chồng cùng huyết tộc) hay không cùng huyết tộc (bố mẹ nuôi, con nuôi, người tình nguyện và được sự đồng ý của các thành viên trong gia đình,. - Hộ sống chung hoặc không sống chung dưới một mái nhà. - Có chung một ngân quỹ và ăn chung.
- Cùng tiến hành sản xuất chung. Từ đây cho thấy đã là hộ nhất thiết là một đơn vị kinh tế: Có nguồn lao động và phân công lao động, có vốn và kế hoạch sản xuất kinh doanh chung, vừa sản xuất và vừa tiêu dùng. Hộ không phải là thành phần kinh tế mà hộ có thể thuộc thành phần kinh tế cá thể, tư nhân, tập thể,. Hộ không đồng nhất với gia đình mặc dù cùng chung huyết tộc, do hộ là một đơn vị kinh tế riêng, trong khi đó gia đình có thể không phải là một đơn vị kinh tế.
Một gia đình có thể bao gồm nhiều thế hệ sống chung một mái nhà nhưng nguồn sinh sống và ngân quĩ lại độc lập với nhau. Do đó một gia đình có thể bao nhiều hộ. Qua nghiên cứu các khái niệm khác nhau, chúng tôi nhận thấy: hộ là đơn vị kinh tế nhỏ nhất trong xã hội, cùng chung một cơ sở kinh tế, gắn bó với nhau qua hôn nhân, huyết tộc và quan hệ nuôi dưỡng thân nhân khác, cùng tiến hành sản xuất và hưởng thụ những thành quả sản xuất. Nông hộ Hộ nông dân (HND) là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp và phát triển nông thôn vì các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu được thực hiện qua các hoạt động của các hộ nông dân.
Các hoạt động nông nghiệp của hộ nông dân theo nghĩa rộng bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn như các dịch vụ, các nghề thủ công, chế biết nông sản. Ngành nghề của hộ gắn với tập quán thôn bản, làng xã; một khi sản xuất kinh doanh khó khăn, họ sẽ thay đổi mặt hàng sản xuất hoặc giảm bớt quy mô, thậm chí giảm bớt nhu cầu cần thiết. Ở Việt Nam, có nhiều tác giả cập đến khái niệm kinh tế hộ nông dân, Lê Đình Thắng (1993) cho rằng “nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn” (Lê Đình Thắng và các cộng sự,1993). Đào Thế Tuấn (1997) thì cho rằng “hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn” (Đào Thế Tuấn, 1997).
Do đó, nông hộ có đặc điểm những đặc điểm sau: - Hộ vừa là đơn vị sản xuất kinh doanh vừa là đơn vị tiêu dùng. Như vậy đã là hộ phải bảo đảm cả mặt sản xuất và tiêu dùng. - Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất quyết định sự tham gia thị trường của hộ. Sự tham gia thị trường của nông hộ càng nhiều hàng hóa thể hiện trình độ của nông hộ đó.
Như vậy, chúng ta thấy nông hộ là một đơn vị kinh tế cơ sở, sống ở nông thôn, tiến hành sản xuất nông nghiệp và còn có thể tham gia các hoạt động phi nông nghiệp ở các mức độ khác nhau. Kinh tế nông hộ Kinh tế nông hộ (KTNH) là loại hình kinh tế cơ bản và tự chủ trong nông nghiệp, hình thành, tồn tại một cách khách quan, sử dụng lao động gia đình là chính. KTNH tồn tại và phát triển lâu đời trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn ở nước ta. Các quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống thì tuỳ thuộc vào của chủ hộ.
Hộ có thể không thuê hay thuê lao động với tỷ lệ thấp để đảm bảo thời vụ nên không được tính tiền lương và không được tính lợi nhuận. 11 Với Tchayanov, vào những năm 20 của thế kỷ XX, “kinh tế nông dân” được hiểu là hình thức tổ chức kinh tế nông nghiệp chủ yếu dựa vào sức lao động gia đình và nhằm thỏa mãn nhu cầu cụ thể của hộ gia đình như một tổng thể mà không dựa trên chế độ trả công theo lao động đối với mỗi thành viên của nó (Nguyễn Đức Truyền, 2003). Kinh tế nông hộ thực hiện các khâu từ sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng. Và là loại hình kinh tế có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm sản xuất nông nghiệp, thích ứng tồn, tại tại và phát triển trong mọi chế độ xã hội.
Loại hình này cũng không giống với các loại hình kinh kế khác (Nguyễn Quốc Chỉnh, 2007). Phát triển kinh tế nông hộ Phát triển theo quan niệm chung nhất là sự nâng cao hạnh phúc của người dân, bao hàm nâng cao chuẩn mực sống, cải thiện điều kiện giáo dục, sức khoẻ, sự bình đẳng về các cơ hội. Ngoài ra việc bảo đảm các quyền về chính trị và công dân là những mục tiêu rộng hơn của phát triển. Phát triển của một xã hội hôm nay là sự kế thừa những di sản diễn ra trong quá khứ.
Trong kinh tế, phát triển là quá trình chuyển biến về mọi mặt của nền kinh tế trong thời kỳ nhất định, trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng sản phẩm, hoàn thiện cơ cấu kinh tế và việc nâng cao chất lượng mọi mặt của cuộc sống. Nhưng chúng ta phải cân nhắc toàn bộ các nguồn vốn vật chất, vốn con người và vốn thiên nhiên mà thế hệ hiện tại để lại cho thế hệ tương lai. Kinh tế nông hộ là một thành phần của kinh tế nông nghiệp, do đó có thể hiểu rằng phát triển kinh tế nông hộ chính là quá trình tăng trưởng về sản xuất, thay đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng hiệu quả kinh tế; nâng cao trình độ sản xuất của chủ hộ; gia tăng thu nhập bình quân của hộ, gia tăng mức sống, thoả mãn các điều kiện sống cơ bản như nhà ở, điện, nước sạch, nhà vệ sinh. và ngày càng gia tăng mức tích luỹ của hộ, làm cho nền kinh tế nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế quốc dân nói chung đi lên.
Những đặc trưng cơ bản của kinh tế nông hộ Kinh tế nông hộ có những đặc trưng cơ bản khác với các loại hình kinh tế khác, đó là: 12 Có sự thống nhất chặt chẽ giữa quyền sở hữu với quá trình quản lý và sử dụng các yếu tố sản xuất. Thể hiện các thành viên trong nông hộ có quyền sở hữu tư liệu sản xuất vốn có và các tài sản khác; trên cơ sở kinh tế chung và cùng chung một ngân quỹ nên mọi người trong hộ đều có ý thức trách nhiệm cao và việc bố trí sắp công việc cũng rất linh hoạt. Lao động quản lý và lao động trực tiếp có sự gắn bó chặt chẽ. Sự gắn bó thể hiện qua quan hệ huyết thống, quy mô nhỏ của nông hộ so với doanh nghiệp nên quản lý và sản xuất cũng đơn giản gọn nhẹ.
Người quản lý thường là chủ hộ và tham gia lao động trực tiếp. Kinh tế nông hộ có khả năng thích nghi và tự điều chỉnh rất cao. Do quy mô nhỏ, khi gặp thuận lợi có thể phát huy nguồn lực sẵn có và mở rộng quy mô, nhưng gặp khó khăn thì có thể thu hẹp sản xuất, có khi quay về sản xuất tự cung, tự cấp và có khả năng tự bóc lột lao động để vượt qua áp lực của thị trường. Kinh tế nông hộ là đơn vị sản xuất có quy mô nhỏ nhưng hiệu quả.
Qua thực tế KTNH là loại hình thích hợp nhất với đặc điểm của sản xuất nông nghiệp với cây trồng, vật nuôi trong quá trình sinh trưởng, phát triển cần sự tác động kịp thời. Kinh tế nông hộ có sự gắn bó chặt chẽ giữa quá trình sản xuất với lợi ích của người lao động. Trong kinh tế nông hộ mọi người đều gắn bó với nhau trên cơ sở kinh tế, huyết tộc và cùng chung ngân quỹ đây là động lực để phát triển kinh tế nông hộ. Kinh tế nông hộ sử dụng sức lao động và tiền vốn của hộ là chủ yếu.
Đây là một trong những vấn đề khác biệt giữa nông hộ và doanh nghiệp nông nghiệp. Vai trò của kinh tế nông hộ trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn Trong bất kỳ chế độ xã hội nào, kinh tế nông hộ đều tồn tại và có vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp. Với sự tồn tại của nông hộ là do đặc điểm rất riêng của sản xuất nông nghiệp và nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận hộ là đơn vị kinh tế cơ bản, chủ thể sản xuất nông nghiệp. Năm 1925, Tchayanov, nhà nông học của Nga, đã đề cập đến hình thái gia đình nông dân không có bóc lột lao động làm thuê mà chỉ sử dụng sức lao động của gia đình mình là hình thức tổ chức sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế cao trong điều kiện sản xuất nông nghiệp thủ công.
Tổng kết kinh nghiệm của mô hình trang trại gia đình 13 ở Mỹ, Italia, Anh, Hà Lan, ông chứng minh sức sống của “kinh tế hộ”, của lao động trên mảnh đất gia đình (Chu Văn Vũ, 1995). Các nước Châu Á như Malaixia, Philíppin, Thái Lan. trong quá trình lập kế hoạch phát triển nông thôn đã lưu ý đến những thích ứng của hộ trước những biến động đầy “chắc ẩn” của kinh tế đang phát triển. Khi nền sản xuất xã hội gặp những khó khăn trong quá trình sản xuất, thì hộ là cơ sở để dễ dàng “xoay sở” để tìm các phương thức khai thác các nguồn vốn, lao động.
của mình nhằm tái sản xuất nông nghiệp. Vì thế, các nước này sử dụng hộ để phát triển nông nghiệp. Ở Thái Lan tốc độ tăng trưởng cao và ổn định của ngành nông nghiệp chủ yếu do kinh tế hộ đem lại (Chu Văn Vũ, 1995). Ở Việt Nam, trong thời kỳ hợp tác hóa nông nghiệp “kinh tế hộ” cũng được quan niệm là “kinh tế phụ gia đình” hay “kinh tế phụ gia đình xã viên”, bổ sung cho kinh tế tập thể.