LỜI MỞ ĐẦU Nền kinh tế Việt Nam hiện nay là một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa và không nằm ngoài quy luật toàn cầu hoá nền kinh tế. Kinh tế Việt Nam thời kỳ mở cửa, hội nhập vào nền kinh tế thế giới với những sức mạnh cả về nội lực và ngoại lực đã không ngừng tăng trưởng và phát triển. Một trong những nguyên nhân để tạo nên sự tăng trưởng kinh tế là nước ta bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Phát triển quan điểm kinh tế của Đại hội VI, Hội nghị lần thứ VI Ban chấp hành Trung ương đã khẳng định phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là một chủ trương chiến lược lâu dài trong thời kỳ quá độ lên CNXH.
Việc chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần chính là để giải phóng sức sản xuất, động viên tối đa mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội, cải thiện đời sống nhân dân. Không thể có các thành tựu kinh tế như vừa qua nếu không thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần. Vì thế phát triển kinh tế nhiều thành phần, mở cửa thu hút đầu tư trực tiếp của bên ngoài là chiến lược đúng đắn. Nghiên cứu sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trên cơ sở Phép biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác – Lê nin nhằm phát triển tối đa các nguồn lực kinh tế, phát triển nền kinh tế Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế là khá cần thiết.
Trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế quốc tế như hiện nay, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) năm 2007 và ký kết các hiệp định thương mại song phương với các cường quốc về kinh tế như Hoa Kỳ, Nhật Bản,. và càng ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, tham gia vào các Tổ chức kinh tế, các Liên kết kinh tế,. cạnh tranh giữa các quốc gia càng trở nên gay gắt. Để có thể phát triển, cạnh tranh được với nền kinh tế các quốc gia trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, Việt Nam cần phải phát huy tối đa các tiềm lực trong và ngoài 3 nước.
Để góp phần vào tăng trưởng kinh tế đất nước, các thành phần kinh tế Việt Nam phải không ngừng phát triển. Đó là lý do em chọn đề tài nghiên cứu: “Phép biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác – Lênin đối với sự phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”. Dù đã hết sức cố gắng nghiên cứu, tìm hiểu để đưa ra những giải pháp phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, nhưng do thời gian chuẩn bị cho Tiểu luận còn hạn chế nên Tiểu luận không tránh khỏi những thiếu sót. Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn của TS.
Lê Ngọc Thông đã cung cấp cho em những kiến thức Triết học hữu ích và chỉ dẫn hướng nghiên cứu cho em không chỉ trong đề tài nghiên cứu này mà còn được vận dụng ở các môn khoa học khác. Nội dung của Tiểu luận được kết cấu thành 3 phần chính: I.CƠ SỞ LÝ LUẬN – PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT CỦA CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN VÀ TẤT YẾU KHÁCH QUAN PHÁT TRIỂN KINH TẾ HÀNG HOÁ NHIỀU THÀNH PHẦN II. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ HÀNG HOÁ NHIỀU THÀNH PHẦN Ở VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ III. ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ HÀNG HOÁ NHIỀU THÀNH PHẦN CỦA VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ĐẾN NĂM 2020 4 NỘI DUNG I.CƠ SỞ LÝ LUẬN – PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT CỦA CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN VÀ TẤT YẾU KHÁCH QUAN PHÁT TRIỂN KINH TẾ HÀNG HOÁ NHIỀU THÀNH PHẦN 1.Phép biện chứng duy vật Chủ nghĩa Mác-Lênin 1.Sự hình thành Phép biện chứng duy vật Chủ nghĩa Mác – Lênin Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã được Mác và Ăngghen sáng lập nên và được Lênin phát triển hơn nữa vào đầu thế kỷ XX.
Tuy nhiên cần phải thấy rằng sự hình thành thế giới quan duy vật biện chứng của Mác và Ăngghen là một quá trình đầy khó khăn, phức tạp, dựa trên các tiền đề kinh tế - xã hội, tiền đề lý luận và tiền đề khoa học tự nhiên. Tiền đề lý luận Triết học Mác ra đời trên cơ sở kế thừa và phát triển các giá trị trong các tư tưởng triết học tiến bộ của nhân loại, đặc biệt phép biện chứng của Hêghen và chủ nghĩa duy vật của Phơbách là một trong những tiền đề lý luận trực tiếp của triết học Mác. Tiền đề kinh tế - xã hội Đầu thế kỷ XIX, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh làm bộc lộ những mâu thuẫn bên trong của nó mà biểu hiện về mặt xã hội là mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản. Nhiều phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân nổ ra song còn mang tính chất tự phát, cảm tính và thiếu tổ chức.
Nó đòi hỏi phải có một vũ khí lý luận sắc bén soi đường cho cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân. Chủ nghĩa Mác nói chung và triết học Mác nói riêng ra đời đáp ứng yêu cầu đó. Tiền đề khoa học kỹ thuật Ba phát minh lớn của khoa học tự nhiên thời kỳ này là định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng, học thuyết về tế bào và thuyết tiến hoá của Darwin. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học tự nhiên đòi hỏi phải khái quát về mặt triết học để chỉ ra các mối liên hệ giữa các quá trình diễn ra trong tự nhiên, trên cơ sở đó nhận thức đúng đắn và toàn diện về bản chất của các quá trình phát triển đó.
Điều này tất yếu dẫn tới sự thay thế thế giới quan duy tâm và phương pháp siêu hình bằng phép biện chứng duy 5 vật. Chính Mác và Ăngghen đã khái quát về mặt triết học toàn bộ những thành tựu của khoa học tự nhiên lúc bấy giờ để xây dựng nên chủ nghĩa duy vật biện chứng. Nội dung Phép biện chứng duy vật Chủ nghĩa Mác – Lênin 1. Khái niệm Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa lý luận và phương pháp.
Nó không chỉ khái quát các thành tựu của tất cả các khoa học cụ thể mà còn kết tinh những tinh hoa trong quá trình phát triển tư tưởng triết học nhân loại. Phép biện chứng duy vật trình bày một cách có hệ thống, chặt chẽ tính chất biện chứng của thế giới thông qua những phạm trù và những quy luật chung nhất của thế giới. Các nguyên lý cơ bản Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến khái quát những mối liên hệ phổ biến của thế giới(tự nhiên, xã hội và tư duy). Vì vậy, quán triệt quan điểm toàn diện là nguyên tắc phương pháp luận chung nhất chỉ đạo mọi hoạt động và suy nghĩ của con người.
Quan điểm toàn diện đối lập với mọi suy nghĩ và hành động phiến diện, chiết trung, siêu hình. Nguyên lý về phát triển phản ánh đặc trưng biện chứng phổ quát nhất của thế giới. Vì vậy, quán triệt quan điểm phát triển là nguyên tắc chung nhất chỉ đạo mọi hành động và suy nghĩ của con người. Yêu cầu của nguyên tắc này đòi hỏi phải xem xét sự vật trong sự vận động, biến đổi và phát triển của nó, phải tư duy năng động, linh hoạt, mềm dẻo và phải nhận thức được cái mới và ủng hộ cái mới.
Các quy luật Ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật có ý nghĩa phương pháp luận chỉ đạo mọi hoạt động của con người để thực hiện quan điểm toàn diện, phát triển và lịch sử cụ thể. Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là hạt nhân của phép biện chứng. Quy luật này vạch ra nguồn gốc, động lực của sự phát triển, phản ánh quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn bên trong sự vật. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật cho rằng sự vật, hiện tượng luôn luôn có mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn là hiện tượng khách quan chủ yếu bởi vì sự vật hiện tượng của thế giới khách quan đều được tạo thành từ nhiều yếu tố, nhiều bộ phận, nhiều quá trình khác nhau.
Giữa chúng có mối liên hệ, tác động lẫn nhau trong đó sẽ có những liên hệ trái ngược nhau, gọi là các mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn của sự 6 vật. Các mặt đối lập thường xuyên tác động qua lại lẫn nhau gây nên một biến đổi nhất định, làm cho sự vật vận động phát triển. Các mặt đối lập là những mặt có xu hướng phát triển trái ngược nhau nhưng chúng lại có quan hệ chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể duy nhất là sự vật. Quan hệ đó thể hiện các mặt vừa thống nhất vừa tiêu diệt nhau.
Sự thống nhất giữa các mặt đối lập là sư lương tựa, rằng buộc, phụ thuộc lẫn nhau làm tiền đề để tồn tại và phát triển cho nhau, có mặt này mới có mặt kia. Đấu tranh giữa các mặt đối lập là sự bài trừ gạn bỏ, phủ định lẫn nhau giữa chúng. Hai mặt đối lập cùng tồn tại trong một thể thống nhất, chúng thường xuyên muốn tiêu diệt lẫn nhau. Đó là một tất yếu khách quan không tách rời sự thống nhất giữa chúng.
Quan hệ giữa thống nhất và đấu tranh là hai mặt đối lập tồn tại không tách rời nhau. Sự thống nhất giữa các mặt chỉ diễn ra trong những điều kiện nhất định với một thời gian xác định. Bất cứ sự thống nhất nào cũng diễn ra sự đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho nó luôn luôn có xu hướng chuyển thành cái khác. Còn đấu tranh diễn ra từ khi thể thống nhất xác lập cho đến khi nó bị phá vỡ để chuyển thành mới.
Đấu tranh giữa các mặt đối lập diễn ra trải qua nhiều giai đoạn với nhiều hình thức khác nhau, từ khác biệt đến đối lập, từ đối lập đến xung đột, từ xung đột đến mâu thuẫn. Đến đây nếu có đủ điều kiện thích hợp thì nó diễn ra sự chuyển hoá cuối cùng giữa các mặt đối lập. Cả hai đều có sự thay đổi về chất, cùng phát triển đến một trình độ cao hơn.