Chương 1 CƠ SỞ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH 1. Tiềm năng phát triển kinh tế biển ở huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định 1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 1. Vi trí địa lý Huyện Phù Cát là huyện ven biển của tỉnh Bình Định, có tọa độ địa lý từ 13054’ - 14032’ vĩ Bắc và 108055’ - 109005’ kinh Đông.
Phía Bắc và Tây Bắc giáp với các huyện Phù Mỹ và Hoài Ân, phía Nam giáp thị xã An Nhơn, phía Tây và Tây Nam giáp với các huyện Vĩnh Thạnh và Tây Sơn, phía Đông giáp với biển Đông [79]. Địa hình huyện Phù Cát bị chia cắt huyện thành bốn tiểu vùng sinh thái khác nhau. Tiểu vùng sinh thái đồng bằng phía Bắc bao gồm ba xã Cát Hanh, Cát Tài, Cát Minh, nằm dọc theo sông La Tinh. Đây là vùng đất bằng phẳng, có hệ thống thủy lợi Hội Sơn tưới tiêu cho các loại cây trồng chủ yếu là lúa và cây công nghiệp.
Tiểu vùng sinh thái đồng bằng ven biển bao gồm bốn xã Cát Khánh, Cát Thành, Cát Hải, Cát Tiến, tiếp giáp phía Đông núi Bà. Đây là vùng đất có nhiều thung lũng nhỏ do các dòng suối chảy qua. Vùng này có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển nguồn lợi thủy sản với nhiều chủng loại phong phú và đa dạng. Tiểu vùng sinh thái trung tâm huyện và phía Tây bao gồm 6 xã Cát Thắng, Cát Chánh, Cát Nhơn, Cát Trinh, Ngô Mây và Cát Sơn.
Đây là vùng đất có nhiều đồi gò, đất cát, chiếm 2/3 diện tích tự nhiên trong vùng. Huyện Phù Cát có chiều dài bờ biển trên 28 km [80] cùng với vùng đặc quyền kinh tế rộng lớn, có vị trí địa lý thuận lợi là gần các vùng biển Hoàng Sa, Trường Sa là ngư trường cá nổi lớn, cá di cư xa có giá trị kinh tế và xuất khẩu như cá thu, cá ngừ, cá nhám, cá chuồn, các loài mực, với đầm Đề Gi 1600 ha [66, tr.13], các hồ chứa tự nhiên và hồ nhân tạo. Đây là một điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển nguồn lợi thủy sản với nhiều chủng loại phong phú, đa 8 dạng; trong đó có nhiều loài thủy sản quý hiếm như: chình mun, cua huỳnh đế, tôm hùm, vẹm xanh; cùng với các nghề phù hợp từ thủ công đến khai thác hiện đại phục vụ cho đời sống kinh tế cho cộng đồng ngư dân sống quanh các khu vực vùng nước. Điều kiện tự nhiên * Đặc điểm khí hậu Huyện Phù Cát nói riêng và tỉnh Bình Định nói chung có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, nóng quanh năm.
Huyện Phù Cát có khí hậu nhiệt đới ẩm với nhiệt độ trung bình hàng năm 26 độC, số giờ nắng trung bình 8 giờ/ngày [70, tr. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng khai thác thủy hải sản và sản xuất muối. Huyện Phù Cát có lượng mưa cao (1.000 mm/năm) phân bố theo mùa: mùa khô và mùa mưa. Mùa khô kéo dài 7 tháng (từ tháng 2 đến tháng 8) với lượng mưa thấp, lượng nước bốc hơi cao, phù hợp cho sản xuất muối.
Mùa mưa kéo dài 5 tháng (từ tháng 8 đến tháng 12 năm sau) với lượng mưa cao, độ ẩm không khí cao (trung bình 79,6%) và lượng nước bốc hơi lớn (1. Hàng năm, hường có bão và lũ lụt gây thiệt hại cho hoạt động của ngư dân, ảnh hưởng đến sự phát triển nghề nuôi trồng thủy sản của huyện Phù Cát. Huyện Phù Cát có gió mùa chủ đạo, thay đổi theo các mùa trong năm. Gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau mang không khí lạnh và ẩm, gây rét và sương mù.
Gió mùa Nam - Tây Nam từ tháng 4 đến tháng 6 và gió mùa Tây - Tây Nam từ tháng 7 đến tháng 8 mang không khí nóng và khô, gây hạn hán và nóng bức [70, tr. Từ tháng 9 đến tháng 10 thường có gió mùa Đông Nam mang bão và mưa lớn, gây lũ lụt và sạt lở. Điều này ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và sinh hoạt của người dân, đặc biệt là ngành nông nghiệp và thủy sản. Huyện Phù Cát có bờ biển dài hơn 28 km và đầm Đề Gi 1600 ha [66, tr.
Đây là những tài nguyên thiên nhiên quý giá, có tiềm năng phát triển du lịch biển, nuôi trồng thủy sản nước mặn và nước ngọt. Tuy nhiên, vùng ven biển 9 cũng phải đối mặt với những nguy cơ do biến đổi khí hậu, như nước biển dâng, xói mòn bờ biển, xâm nhập mặn, ô nhiễm môi trường. * Đặc điểm thủy văn Điều kiện thủy văn của huyện Phù Cát bao gồm hệ thống sông suối, đầm, hồ chứa. Những yếu tố này ảnh hưởng đến các ngành kinh tế biển như nuôi trông và khai thác thủy hải sản, du lịch, và an ninh quốc phòng….
Hệ thống sông suối của huyện Phù Cát gồm hai sông chính là sông La Tinh và sông Đại An, cùng một số suối nhỏ. Sông La Tinh có chiều dài 54 km, chảy qua các xã Cát Lâm, Cát Hanh, Cát Tài và Cát Minh rồi đổ ra đầm Đề Gi Sông Đại An có chiều dài 15 km, là nhánh của sông Kôn, chảy qua các xã Cát Nhơn, Cát Thăng, Cát Chánh, xã Cát Tiến rồi đổ ra đầm Thị Nại. Các suối nhỏ như suối An Hành, suối Bà Lễ, suối nước nóng, suối Chay… chỉ có lượng nước ở mùa lũ [70, tr. Hệ thống sông suối của huyện Phù Cát có vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước tưới cho nông nghiệp, đặc biệt là các loại cây lương thực, cây công nghiệp và cây ăn trái.
Ngoài ra, sông suối cũng là nguồn nước sinh hoạt cho người dân, là nơi nuôi trồng thủy sản nước lỡ, còn là tuyến đường giao thông nội địa của địa phương. Như vậy, với đặc điểm khí hậu, thủy văn của địa phương tạo nên hệ sinh thái có tính đặc thù đa dạng sinh học cao, điều hòa môi trường biển và tạo nên một quần thể đa dạng về nguồn lợi thủy sản ở vùng ven bờ và hệ đầm phá. Ngoài việc cung cấp điều kiện phát triển thủy sản với hệ sinh thái đặc thù này sẽ tạo ra các cảnh quan phục vụ cho du lịch sinh thái và môi trường. Nguồn lợi thủy sản Huyện Phù Cát với đường bờ biển dài 28 km có vùng biển rộng lớn, nằm trong hệ sinh thái biển của tỉnh Bình Định khá phong phú với khu hệ cá biển gồm 500 loài, trong đó có 38 loài có giá trị kinh tế, khu hệ cá dầm cỏ 116 loài, khu hệ tôm có hơn 15 loài.
Tỷ lệ cá nổi chiếm 65% với trữ lượng khoảng 38.000 tấn, khả năng khai thác 21. Tỷ lệ cá đáy chiếm 35% với trữ lượng khoảng 22.000 tấn, khả năng khai thác 11. Phù Cát là một phần của hệ sinh thái biển tỉnh Bình Định có vị trí địa lý gần các ngư trường cá nổi lớn, cá di cư xa như cá thu, cá ngừ, cá nhám, cá 10 chuồn, các loài mực. Mùa vụ thích hợp nhất khai thác cá nổi ở Bình Định là vào tháng 3 đến tháng 5, tháng 6 như sau: Bảng 1.
Tổng hợp thời gian và ngư trường khai thác của các loài cá Loài cá Thời gian Ngư trường Cá ngừ chù, ồ Tháng 3 - 5 Vùng khơi Bình Định Phía Nam Bình Định từ Phù Cá nục Tháng 4 - 6 Cát đến Quy Nhơn, phía Bắc tỉnh từ Phù Mỹ trở ra Cá trích Tháng 6 - 8 Vùng biển Quy Nhơn Cá cơm Tháng 3 - 5 Từ Phù Cát đến Quy Nhơn Tháng 2 - 3 (cá chuồn khơi), Vùng khơi và vùng lộng Bình Cá chuồn tháng 4 - 6 (cá chuồn lộng) Định Tháng 11 năm trước - tháng Từ vùng khơi Bình Định đến Cá ngừ đại dương 3 năm sau (vụ chính), tháng vùng khơi Đà Nẵng 4 - 8 (vụ phụ) Nguồn: [66, tr. 7] Qua bảng số liệu trên thấy rằng Phù Cát nằm trong ngư trường khai thác rất rộng lớn và nhiều tiềm năng. Bãi cá và ngư trường khai thác: Bãi cá thu, cá ngừ từ Đề Gi (Bình Định) đến Sông Cầu (Phú Yên) khả năng đánh bắt (2000-3000) Tấn/năm. Bãi cá chuồn từ Đà Nẵng đến Khánh Hòa xuất hiện từ tháng 2 đến tháng 5 khả năng khai thác (28.
Bãi cá nổi di chuyển từ làng nước sâu 60m vào bờ trữ lượng (8. Bãi cá đáy từ Sa Huỳnh đến Nha Trang ở vùng nước có độ sâu từ (60-150) m, khả năng khai thác (12. Huyện Phù Cát có nhiều khả năng mở rộng ngư trường khai thác: Từ ngư trường truyền thống của nghề cá địa phương: Quy Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, Hoài Nhơn; Đến ngư trường mới đang hoạt động nghề cá: Bà Rịa Vũng Tàu, Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa, Quảng Bình, Hải Phòng, Tiền Giang và Kiên Giang; Ngư trường Trường Sa. Qua các dữ liệu nghiên cứu về ngư trường, ở vùng biển Phù Cát nói riêng và Bình Định nói chung kết hợp với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên không có khả năng hình thành một ngư trường cá đáy có trữ lượng cao và khai thác thuận 11 lợi Mùa vụ ngắn, tháng 3 đến hết tháng 5, độ tập trung cá không cao.
Đây cũng là một trong những lý do chính mà hầu hết các tàu đều di chuyển đánh cá ở các ngư trường phía Bắc và phía Nam. Các hệ thống sinh thái đặc thù nhiệt đới đã tạo sự đa dạng sinh học cao, điều hòa môi trường biển và cung cấp một lượng thủy sản lớn, hệ sinh thái đặc thù này xuất hiện cơ hội tiềm năng cho Phù Cát đẩy mạnh phát triển du lịch phục vụ cho du lịch sinh thái và môi trường. Như vậy, Phù Cát với chiều dài bờ biển hơn 28 km cùng với vùng đặc quyền kinh tế rộng lớn, 01 đầm Đề Gi với tổng diện tích gần 1600 ha với các suối nhỏ, bao gồm cả hồ tự nhiên và hồ nhân tạo. Nằm trong vùng biển miền Trung, bao gồm cả Trường Sa và Hoàng Sa, là nơi có nhiều loài cá nổi và di cư số lượng lớn.
Trong đó, có nhiều loài có giá trị kinh tế cao và được khai thác nhiều như cá ngừ vây vàng, cá ngừ mắt to, cá ngừ vằn, cá thu, cá cờ, cá kiếm, mực đại dương… Nhờ vậy, Phù Cát trở thành một địa phương có tiềm năng phát triển kinh tế biển, đặc biệt là khai thác xa bờ, mang lại thu nhập cao cho người dân địa phương. Kinh tế, xã hội 1. Về kinh tế Phù Cát có vị trí rất thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội, với cửa biển Đề Gi và Quốc lộ 1A đi qua thuận lợi cho việc lưu thông hàng hóa và hòa nhập kinh tế với các khu vực khác.