Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với các vùng biển của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam" do tác giả Trần Công Trục thực hiện năm 1996 tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, thuộc chuyên ngành Lý luận Nhà nước và Pháp quyền (Mã số: 50501). Luận án được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Tiến sĩ Luật học Hà Hùng Cường và Phó Giáo sư, Phó Tiến sĩ Luật học Trần Ngọc Đường.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Theo các văn kiện của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng Cộng sản Việt Nam được trích dẫn trong luận án, chiến lược kinh tế biển gắn liền với bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia đã xác định vùng biển và ven biển là địa bàn chiến lược về kinh tế, an ninh, quốc phòng. Đảng và Nhà nước chủ trương khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế của biển kết hợp với củng cố an ninh, quốc phòng; bổ sung và hoàn thiện chế độ pháp luật, chính sách quản lý và khai thác biển, ven biển, hải đảo.
Tuy nhiên, tác giả chỉ ra thực trạng quản lý nhà nước đối với các vùng biển của Việt Nam thời điểm bấy giờ còn nhiều bất cập:
- Hoạt động trên biển ở nhiều khu vực còn lộn xộn, thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành và địa phương, phát sinh xung đột lợi ích giữa ngành với ngành, địa phương với địa phương, Trung ương với địa phương.
- Năng lực và phạm vi quản lý chủ yếu tập trung ven bờ, chưa vươn ra kiểm soát toàn bộ vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.
- Tình trạng tàu thuyền nước ngoài vi phạm các vùng biển thuộc quyền tài phán của Việt Nam chưa được kiểm soát và nắm chắc.
- Lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển còn hạn chế về phương tiện, tổ chức hợp đồng tác chiến, chưa được đào tạo bài bản về kiến thức pháp luật và nghiệp vụ, dẫn đến sai sót trong hoạt động bắt giữ và lập hồ sơ xử lý vi phạm.
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý biển chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ để giải quyết các mối quan hệ xã hội phức tạp diễn ra trên biển.
Khoảng trống nghiên cứu được xác định là: Trước năm 1996, chưa có một công trình khoa học pháp lý nào nghiên cứu trực tiếp, hệ thống và toàn diện về vai trò của pháp luật đối với quản lý nhà nước các vùng biển Việt Nam dưới góc độ lý luận nhà nước và pháp quyền.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về tình trạng pháp luật quản lý nhà nước đối với các vùng biển của Việt Nam; từ đó đưa ra các nhận xét, kiến nghị về quan điểm, phương hướng, nội dung hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ cấu tổ chức quản lý nhà nước đối với các vùng biển trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 3 nhiệm vụ trọng tâm:
- Làm rõ vai trò của pháp luật đối với việc quản lý nhà nước các vùng biển.
- Phân tích thực trạng hệ thống pháp luật biển và tình hình thi hành pháp luật về quản lý nhà nước đối với các vùng biển Việt Nam.
- Luận chứng và kiến nghị hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với các vùng biển của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định pháp luật và quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý nhà nước đối với các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam.
- Phạm vi nội dung và không gian: Tập trung vào lĩnh vực pháp luật về quản lý nhà nước đối với các vùng biển Việt Nam (gồm nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa).
- Thời gian nghiên cứu: Tập trung vào giai đoạn từ sau Tuyên bố ngày 12/5/1977 của Chính phủ Việt Nam đến thời điểm hoàn thành luận án năm 1996, đặt trong bối cảnh Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) chính thức có hiệu lực (tháng 11/1994).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước
Văn bản luận án tổng thuật tình hình nghiên cứu về pháp luật quản lý biển qua các giai đoạn:
- Tình hình nghiên cứu quốc tế: Kể từ khi Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 có hiệu lực (ngày 16/11/1994), vấn đề quản lý biển thu hút sự quan tâm của nhiều diễn đàn, hội nghị quốc tế và các khóa đào tạo. Tuy nhiên, các công trình chủ yếu tiếp cận dưới góc độ luật quốc tế, khoa học kỹ thuật hoặc kinh tế biển, thiếu các công trình đi sâu trực tiếp vào vai trò của hệ thống pháp luật quốc gia trong việc thực thi quản lý nhà nước đối với các vùng biển.
- Tình hình nghiên cứu trong nước:
- Trước năm 1976: Cả hai miền Nam, Bắc hầu như chưa có công trình khoa học chuyên sâu nghiên cứu về lĩnh vực pháp luật quản lý biển.
- Từ sau năm 1977: Sau khi Chính phủ ban hành Tuyên bố ngày 12/5/1977 về các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam, một số tài liệu, bài giảng và ấn phẩm sách bắt đầu xuất hiện, bao gồm:
- "Vùng biển và quyền làm chủ" của tác giả Vũ Phi Hoàng (NXB Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 1978).
- "Luật biển" của tác giả Phạm Giảng (NXB Pháp lý, Hà Nội, 1983).
- "Việt Nam: Đất..." (NXB Công an Nhân dân, Hà Nội, 1990).
- "Thềm lục địa - Những vấn đề pháp lý quốc tế" của tác giả Phạm Ngọc Chi (NXB Pháp lý, Hà Nội, 1990).
Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết
Tác giả nhận định các tài liệu và ấn phẩm nêu trên dù đã truyền tải những kiến thức cơ bản về luật biển quốc tế và bảo vệ chủ quyền biển đảo, nhưng chưa phải là các công trình nghiên cứu toàn diện về vai trò của pháp luật đối với quản lý nhà nước các vùng biển. Luận án của tác giả Trần Công Trục là công trình nghiên cứu khoa học pháp lý đầu tiên tại Việt Nam tiếp cận vấn đề quản lý biển bằng phương pháp liên ngành và hệ thống, giải quyết yêu cầu bức thiết về mặt lý luận và thực tiễn trong việc xây dựng khung pháp lý quản lý biển của Nhà nước Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và các khái niệm pháp lý
Luận án vận dụng nền tảng lý luận Mác - Lênin về Nhà nước và Pháp quyền, cụ thể:
- Khái niệm Quản lý Nhà nước: Được xác định là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước nhằm điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người; là sự tác động có tổ chức bằng pháp luật nhằm điều chỉnh có hiệu lực, hiệu quả các quan hệ xã hội theo ý chí của Nhà nước.
- Khái niệm Quản lý Nhà nước đối với các vùng biển: Là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình kinh tế - xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì, phát triển các mối quan hệ kinh tế - xã hội, thiết lập trật tự pháp luật, bảo vệ và thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và các lợi ích quốc gia trên biển.
- Khái niệm Chủ quyền, Quyền chủ quyền và Quyền tài phán: Luận án phân định rõ tính chất pháp lý của từng cấp độ quyền lực:
- Chủ quyền quốc gia: Thuộc tính chính trị - pháp lý không thể tách rời, bao gồm quyền tối cao trong phạm vi lãnh thổ và quyền độc lập trong quan hệ quốc tế.
- Quyền chủ quyền: Bắt nguồn từ chủ quyền lãnh thổ, mang tính đặc quyền của quốc gia ven biển đối với việc thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên.
- Quyền tài phán: Là hệ quả của chủ quyền và quyền chủ quyền, bao gồm thẩm quyền ban hành quy phạm, thẩm quyền giám sát thực thi và thẩm quyền xét xử của tòa án trong một số lĩnh vực cụ thể (kinh tế, hải quan, y tế, môi trường, nghiên cứu khoa học).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Đồng thời, tác giả phối hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp phân tích quy phạm pháp luật: Phân tích các điều khoản của UNCLOS 1982, các công ước Geneva 1958, Tuyên bố ngày 12/5/1977 của Chính phủ và các văn bản dưới luật của Việt Nam (như Nghị định 30/CP).
- Phương pháp lịch sử - cụ thể: Phân tích quá trình hình thành và phát triển của các chế định luật biển quốc tế qua các thời kỳ lịch sử (từ học thuyết La Mã, sắc chỉ Giáo hoàng, học thuyết Hugo Grotius đến các hội nghị quốc tế).
- Phương pháp tiếp cận liên ngành và liên hệ thống: Đặt quan hệ quản lý biển trong mối liên hệ tổng hợp giữa an ninh quốc phòng, kinh tế biển, quan hệ đối ngoại và bảo vệ môi trường.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam (Đại hội VII).
- Các điều ước quốc tế: Sắc chỉ Inter Caetera (1493), Hiệp ước Tordesillas (1494), Công ước La Hay (1907), Hiệp ước Washington (1922), Hiệp ước London (1930), 4 Công ước Geneva năm 1958 về Luật Biển, Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.
- Các tuyên bố quốc tế và khu vực: Tuyên bố Truman (1945), Tuyên bố Santiago (1952), Tuyên bố Santo Domingo (1972), Nghị quyết Hội nghị Yaoundé (1972).
- Hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam: Tuyên bố ngày 12/5/1977 của Chính phủ, Nghị định số 30/CP ngày 29/1/1980 của Hội đồng Chính phủ.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Vai trò của pháp luật đối với việc quản lý Nhà nước các vùng biển
Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận về quản lý nhà nước trên biển, sự điều chỉnh của pháp luật và vai trò của pháp luật với tư cách là công cụ quản lý thiết yếu.
+-------------------------------------------------------------------------------------------------------+
| CÁC VÙNG BIỂN THUỘC CHỦ QUYỀN, QUYỀN CHỦ QUYỀN VÀ QUYỀN TÀI PHÁN QUỐC GIA |
+----------------------+--------------------+------------------------------------+----------------------+
| Vùng biển | Phạm vi ranh giới | Tính chất pháp lý | Quyền của nước |
| | | | ven biển |
+----------------------+--------------------+------------------------------------+----------------------+
| Nội thủy | Vùng nước phía | Bộ phận lãnh thổ quốc gia như | Chủ quyền hoàn toàn, |
| | trong đường cơ sở | đất liền | tuyệt đối |
+----------------------+--------------------+------------------------------------+----------------------+
| Lãnh hải | Tối đa 12 hải lý | Lãnh thổ quốc gia trên biển; | Chủ quyền đầy đủ và |
| | từ đường cơ sở | ranh giới ngoài là biên giới biển | toàn vẹn |
+----------------------+--------------------+------------------------------------+----------------------+
| Vùng tiếp giáp | Tối đa 24 hải lý | Vùng đệm kiểm soát hành chính, | Quyền kiểm soát hải |
| lãnh hải | từ đường cơ sở | không thuộc lãnh thổ quốc gia | quan, thuế, y tế,... |
+----------------------+--------------------+------------------------------------+----------------------+
| Vùng đặc quyền | Tối đa 200 hải lý | Vùng biển có quy chế pháp lý riêng | Quyền chủ quyền và |
| kinh tế (EEZ) | từ đường cơ sở | biệt (không phải lãnh hải/biển cả) | quyền tài phán |
+----------------------+--------------------+------------------------------------+----------------------+
| Thềm lục địa | Tối thiểu 200 đến | Đáy biển và lòng đất dưới đáy | Quyền chủ quyền |
| | tối đa 350 hải lý | kéo dài tự nhiên của lãnh thổ | mang tính đặc quyền |
+----------------------+--------------------+------------------------------------+----------------------+
1. Sự điều chỉnh của pháp luật về quản lý Nhà nước đối với các vùng biển
Tác giả phân tích lịch sử hình thành luật biển quốc tế từ thời cổ đại (người Phénixi, Hy Lạp), qua thời kỳ tranh giành ảnh hưởng giữa Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha với Sắc chỉ Inter Caetera (1493) và Hiệp ước Tordesillas (1494). Sự trỗi dậy của Hà Lan vào thế kỷ XVII đánh dấu sự ra đời của học thuyết tự do biển cả thông qua các tác phẩm "Mare Liberum" (1609) và "De Jure Belli ac Pacis" (1625) của Hugo Grotius. Tiếp đó, quy tắc tầm bắn đại bác (3 hải lý) do Van Bynkershoek và Galiani khởi xướng đã trở thành tập quán quốc tế trong thế kỷ XIX.
Luận án làm rõ quá trình phát triển qua các Hội nghị La Hay (1930), Tuyên bố Truman (1945), Hội nghị Geneva (1958, 1960) và đỉnh cao là UNCLOS 1982 gồm 17 phần, 320 điều khoản, 9 phụ lục với hơn 100 điều và 4 nghị quyết kèm theo, chứa đựng khoảng 1.000 quy phạm pháp luật quốc tế được thông qua theo nguyên tắc "cả gói" và đồng thuận.
Nội dung điều chỉnh pháp luật đối với từng vùng biển được trình bày chi tiết:
- Nội thủy: Nằm phía trong đường cơ sở; nước ven biển có chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối như trên đất liền.
- Lãnh hải: Rộng tối đa 12 hải lý tính từ đường cơ sở; nước ven biển có chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với khối nước, vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển. Tàu thuyền nước ngoài được hưởng quyền đi qua không gây hại. Khái niệm "phao số 0" không có ý nghĩa xác định ranh giới chủ quyền lãnh hải.
- Vùng tiếp giáp lãnh hải: Rộng không quá 24 hải lý tính từ đường cơ sở (thực chất rộng 12 hải lý tiếp liền lãnh hải); quốc gia ven biển thực hiện thẩm quyền kiểm soát nhằm ngăn ngừa và trừng trị các vi phạm về hải quan, thuế vụ, y tế, nhập cư.
- Thềm lục địa: Bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến 200 hải lý nếu rìa lục địa gần hơn. Nếu rìa lục địa vượt quá 200 hải lý, ranh giới ngoài được xác định bằng công thức đường dày trầm tích 1% hoặc cách chân dốc lục địa không quá 60 hải lý, nhưng tối đa không vượt quá 350 hải lý hoặc không cách đường đẳng sâu 2.500m quá 100 hải lý. Quốc gia ven biển có quyền chủ quyền mang tính đặc quyền đối với việc thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên.
- Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ): Rộng tối đa 200 hải lý tính từ đường cơ sở; bao gồm vùng biển rộng khoảng 137 triệu km² trên toàn cầu (chiếm 1/3 diện tích biển và 1/4 diện tích trái đất, nơi chứa toàn bộ tài nguyên sinh vật và 87% trữ lượng dầu khí biển). Nước ven biển có quyền chủ quyền đối với tài nguyên sinh vật và không sinh vật (khối nước, đáy biển, lòng đất), cùng quyền tài phán về lắp đặt công trình, nghiên cứu khoa học biển và bảo vệ môi trường.
- Quản lý tài nguyên, môi trường và quy chế tàu thuyền:
- Tàu chiến và tàu công vụ phi thương mại: Được hưởng quyền miễn trừ tư pháp; phải tuân thủ luật lệ nước ven biển; nước ven biển có quyền yêu cầu rời khỏi lãnh hải ngay lập tức nếu vi phạm; quy định thẩm quyền khám xét trên biển cả và EEZ đối với các hành vi cướp biển, buôn bán nô lệ, phát sóng trái phép, không quốc tịch.
- Tàu buôn: Phải xin phép và tuân thủ tuyến luồng, thủ tục kiểm dịch, hải quan khi vào nội thủy (theo Nghị định 30/CP ngày 29/1/1980, vũ khí tự vệ phải tháo đạn, bảo quản niêm phong). Thẩm quyền tài phán hình sự của nước ven biển bị hạn chế theo Điều 27 UNCLOS 1982 (chỉ thực hiện khi hậu quả mở rộng đến nước ven biển, phá hoại trật tự trị an, có yêu cầu của thuyền trưởng/lãnh sự, hoặc trấn áp buôn lậu ma túy); quyền tài phán dân sự tuân thủ Điều 28 UNCLOS 1982.
2. Pháp luật - phương tiện quan trọng trong quản lý Nhà nước đối với các vùng biển
Pháp luật là phương tiện không thể thay thế nhằm thể chế hóa đường lối của Đảng thành quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, thiết lập trật tự quản lý chuyên ngành và phối hợp liên ngành giữa Trung ương và địa phương.
Chương 2: Thực trạng pháp luật và việc thi hành pháp luật về quản lý Nhà nước đối với các vùng biển của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Chương 2 dành để đánh giá hệ thống văn bản pháp luật hiện hành và quá trình tổ chức thực thi trên thực tế.
1. Thực trạng pháp luật về quản lý Nhà nước đối với các vùng biển của Việt Nam
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật biển của Việt Nam hình thành chủ yếu từ sau năm 1977 với Tuyên bố ngày 12/5/1977 và một số nghị định, quy chế chuyên ngành (hàng hải, thủy sản, dầu khí, hải quân, biên phòng).
- Văn bản còn phân tán, thiếu tính hệ thống; nhiều lĩnh vực quản lý còn khoảng trống pháp lý hoặc chồng chéo giữa các cơ quan quản lý nhà nước.
2. Thực trạng thi hành pháp luật về quản lý Nhà nước đối với các vùng biển
- Công tác tổ chức thi hành pháp luật chưa nghiêm; lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển mỏng, trang thiết bị thiếu thốn, trình độ chuyên môn và kiến thức pháp luật của cán bộ thực thi còn hạn chế.
- Sự phối hợp tác chiến và phân định thẩm quyền giữa các lực lượng (Bộ đội Biên phòng, Hải quân, Cảnh sát đường sông/biển, Thanh tra chuyên ngành) chưa chặt chẽ, dẫn đến hiện tượng xử lý vi phạm không đúng trình tự, thủ tục luật định.
3. Đánh giá chung về thực trạng pháp luật và việc thi hành pháp luật
- Tác giả tổng kết các nguyên nhân khách quan và chủ quan của những tồn tại, gồm: xuất phát điểm kinh tế thấp, điều kiện chiến tranh kéo dài, nhận thức về kinh tế biển và pháp luật biển chưa theo kịp yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế.
Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý Nhà nước đối với các vùng biển của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Chương 3 đề xuất định hướng và các giải pháp lập pháp, hành pháp cụ thể nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý biển trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
1. Yêu cầu quản lý Nhà nước bằng pháp luật đối với các vùng biển trong giai đoạn mới
- Đòi hỏi phải xây dựng một thể chế quản lý biển thống nhất, hiện đại, vừa bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vừa tạo hành lang pháp lý thông thoáng để thu hút đầu tư, phát triển kinh tế biển và mở rộng hợp tác quốc tế.
2. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và cơ chế quản lý
- Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Pháp điển hóa các quy định pháp luật biển, nghiên cứu xây dựng đạo luật tổng thể về biển của Việt Nam tương thích với chuẩn mực của UNCLOS 1982.
- Kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về biển: Thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành, phân định rõ chức năng, quyền hạn của các Bộ, ngành Trung ương và chính quyền địa phương ven biển; tránh chồng chéo hoặc bỏ trống địa bàn.
- Nâng cao năng lực lực lượng thực thi pháp luật trên biển: Tăng cường đầu tư phương tiện kỹ thuật hiện đại, bồi dưỡng kiến thức pháp luật quốc gia và quốc tế, đào tạo kỹ năng nghiệp vụ tuần tra, kiểm soát, lập hồ sơ và xử lý vi phạm hành chính, hình sự trên biển.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn
Căn cứ vào phần tự đánh giá của tác giả, luận án mang lại 4 đóng góp mới chủ yếu:
- Xác định phạm vi điều chỉnh pháp luật: Luận chứng rõ phạm vi điều chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ phát sinh trong quản lý nhà nước trên các vùng biển, bảo đảm sự phù hợp với yêu cầu chính trị, kinh tế, an ninh quốc phòng và đối ngoại của Nhà nước Việt Nam.
- Làm rõ vai trò không thể thay thế của pháp luật: Chứng minh pháp luật là phương tiện cơ bản nhất để bảo vệ độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, khai thác tiềm năng biển, thiết lập trật tự quản lý thống nhất theo các quy chế pháp lý đặc thù của từng vùng biển.
- Đề xuất hệ thống phương hướng và giải pháp đồng bộ: Luận chứng tính khả thi của các giải pháp xây dựng, hoàn thiện pháp luật và cơ chế quản lý nhà nước đối với các vùng biển trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Tổng kết có hệ thống lý luận và thực tiễn: Là công trình nghiên cứu khoa học pháp lý đầu tiên tại Việt Nam tiếp cận liên ngành về quản lý biển, phân tích rõ hoàn cảnh lịch sử, nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý biển bằng pháp luật.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Ban hành văn bản luật hoàn chỉnh về biển của Việt Nam nhằm thể chế hóa đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quốc gia theo UNCLOS 1982.
- Hoàn thiện các quy định pháp lý về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái biển, phân định ranh giới biển chồng lấn với các nước láng giềng bằng biện pháp hòa bình.
- Tổ chức lại lực lượng kiểm soát trên biển, xây dựng quy chế phối hợp thống nhất giữa các lực lượng chuyên trách.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án được hoàn thành năm 1996, trong giai đoạn đầu Việt Nam hội nhập sau khi UNCLOS 1982 có hiệu lực (1994), do đó nguồn tư liệu thực tiễn và số liệu khảo sát về hoạt động kinh tế biển mới chỉ phản ánh bối cảnh lịch sử của thời kỳ đầu đổi mới.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Đi sâu nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp biển quốc tế, xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật chi tiết cho từng ngành kinh tế biển (như dầu khí, vận tải biển, nuôi trồng thủy hải sản) và hoàn thiện các quy chế phối hợp liên ngành trên biển.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với:
- Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Tham khảo cơ sở lý luận và đề xuất hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước trên biển, xây dựng các dự thảo văn bản luật về biển.
- Cơ sở đào tạo và nghiên cứu luật học: Cung cấp tài liệu nghiên cứu chuyên ngành Lý luận Nhà nước và Pháp quyền, Luật Quốc tế và Luật Biển.
- Lực lượng thực thi pháp luật trên biển (Hải quân, Biên phòng, Cảnh sát biển, Kiểm ngư): Cung cấp hệ thống lý luận về quy chế pháp lý tàu thuyền, thẩm quyền khám xét, bắt giữ và xử lý vi phạm trong từng vùng biển.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo luận án, quyền tài phán của quốc gia ven biển có mối quan hệ như thế nào với chủ quyền và quyền chủ quyền?
Quyền chủ quyền có nguồn gốc từ chủ quyền lãnh thổ, trong khi quyền tài phán là hệ quả của chủ quyền và quyền chủ quyền, có tác dụng bổ trợ và tạo ra môi trường để thực hiện chủ quyền và quyền chủ quyền. Quyền tài phán bao gồm thẩm quyền ban hành quyết định/quy phạm, thẩm quyền giám sát và thẩm quyền xét xử của tòa án. Quyền tài phán có thể được thực hiện ở nơi quốc gia không có chủ quyền lãnh thổ (ví dụ: trên tàu thuyền mang cờ quốc gia khi đang hoạt động ở vùng biển nước khác).
2. Khái niệm "phao số 0" có giá trị như thế nào trong việc xác định chủ quyền vùng biển của Việt Nam?
Luận án khẳng định "phao số 0" không có ý nghĩa pháp lý trong việc xác định phạm vi chủ quyền quốc gia trên biển. Ranh giới chủ quyền lãnh hải của Việt Nam là dải biển rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở hợp pháp được thiết lập theo luật pháp quốc tế và Tuyên bố ngày 12/5/1977 của Chính phủ.
3. Theo UNCLOS 1982 và luận án, quyền tài phán hình sự của quốc gia ven biển đối với tàu buôn nước ngoài đi qua lãnh hải bị giới hạn ra sao?
Theo Điều 27 UNCLOS 1982, quốc gia ven biển không được thực hiện quyền tài phán hình sự trên tàu nước ngoài đang đi qua lãnh hải để bắt giữ hoặc xét hỏi, trừ 4 trường hợp:
- Hậu quả của vụ vi phạm mở rộng đến quốc gia ven biển.
- Vụ vi phạm phá hoại hòa bình hoặc trật tự trong lãnh hải.
- Thuyền trưởng hoặc viên chức ngoại giao/lãnh sự của nước mà tàu mang cờ yêu cầu giúp đỡ.
- Cần thiết để trấn áp buôn lậu chất ma túy hoặc chất kích thích.
4. Quy định về vũ khí trên tàu buôn nước ngoài khi đi vào nội thủy và lãnh hải Việt Nam được nêu trong văn bản nào?
Theo Nghị định số 30/CP ngày 29/1/1980 của Chính phủ được trích dẫn trong luận án, tàu thuyền nước ngoài có trang bị vũ khí trước khi vào vùng tiếp giáp, lãnh hải và nội thủy Việt Nam phải đưa toàn bộ vũ khí về tư thế bảo quản: đạn phải tháo khỏi nòng và cất vào hòm đạn có khóa, khóa nòng phải bôi đầy mỡ và cất trong bao hoặc phủ vải bạt buộc chặt.
Kết luận
Luận án "Hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với các vùng biển của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam" của tác giả Trần Công Trục là công trình nghiên cứu chuyên sâu về lý luận và thực tiễn pháp lý trong quản lý biển tại Việt Nam. Công trình đã làm rõ vị trí của pháp luật như một công cụ thiết yếu để quản lý, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển. Bằng việc phân tích thực trạng hệ thống quy phạm và hoạt động thi hành pháp luật thời kỳ đầu đổi mới, luận án đã xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ phục vụ công tác lập pháp và kiện toàn bộ máy quản lý biển của Nhà nước Việt Nam.