CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP ĐẾN CƠ HỘI KHỞI NGHIỆP 1.1 Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài Khởi nghiệp kinh doanh được coi là một yếu tố quan trọng trong việc giải thích sự tăng trưởng và phát triển kinh tế quốc gia (Baughn và Neupert 2003; Martínez- Fierro et al. Điều này giải thích tại sao cần làm rõ các yếu tố thúc đẩy và định hình hoạt động kinh doanh rất quan trọng đối với các lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là về kinh tế, kinh doanh, xã hội học và tâm lý học (Simón-Moya et al. Hiện tại, quan điểm về thể chế, chính sách đã nhận được rất nhiều sự quan tâm bởi vì nó giúp giải thích lý do tại sao một số quốc gia phát triển kinh tế mạnh mẽ trong khi một số quốc gia khác thì không (Amorós và Bosma 2014). Tuy nhiên, tỷ lệ khởi nghiệp là khác nhau và không chỉ phụ thuộc số lượng các cá nhân có xu hướng khởi nghiệp có sẵn mà còn từ môi trường, bối cảnh thể chế, chính sách thích hợp cũng như việc có được môi trường kinh tế, xã hội và chính trị thuận lợi (Mueller và Thomas 2000; Van et al.
Baumol (1996) nhấn mạnh, có hai kiểu tác động đến nỗ lực khởi nghiệp kinh doanh: đầu tiên liên quan đến mức độ thực thi luật pháp ở trong nước trong khi kiểu thứ hai là liên quan đến mức độ mà pháp luật hỗ trợ cho những nỗ lực kinh doanh. Martínez-Fierro và cộng sự (2016) đã khảo sát và kết luận, một nền kinh tế phát triển, cơ hội khởi nghiệp được thúc đẩy bằng các yêu cầu cơ bản, như phát triển thể chế, cơ sở hạ tầng, ổn định kinh tế vĩ mô, y tế và giáo dục. Mặc dù các học giả có xu hướng đồng đồng thuận yếu tố thể chế có thể ảnh hưởng đến cơ hội khởi nghiệp kinh doanh, tuy nhiên vẫn có sự khác biệt khi đánh giá các yếu tố tác động tới nhận thức về cơ hội khởi nghiệp. Chẳng hạn, có một số nghiên cứu đã nhấn mạnh tầm quan trọng của các yếu tố văn hóa và xã hội (Thai và Turkina 2014; George và Zahra 2002), ở khía cạnh khác một số nghiên cứu coi trọng vai trò của giáo dục và đào tạo trong kinh doanh tuy nhiên một số nghiên cứu lại tập trung làm rõ vai trò của các chương trình và chính sách của chính phủ đối với cơ hội khởi nghiệp (Bruton et al.
2010; Thai và Turkina 2014). Dựa vào mô hình của GEM (2016) ; Pinho, J. (2016) các tác giả Ali Davaria và Taraneh Farokhmanesh (2017) trong bối cảnh tại Iran đã nghiên cứu các chính sách 10 tác động đến cơ hội khởi nghiệp bao gồm văn hóa và xã hội, các chương trình và chính sách của chính phủ, giáo dục phổ thông (tiểu học và trung học) và giáo dục sau đại học, các chính sách hỗ trợ tài chính, phi tài chính.1 Thể chế Thể chế là khả năng thiết lập các quy tắc, kiểm tra hoặc xem xét sự tuân thủ của người khác đối với chúng và khi cần thiết có các biện pháp trừng phạt nhằm thực hiện điều chỉnh đối với hành vi trong tương lai (Scott 1995). Phù hợp với các tác giả trước đây, người ta cho rằng quy định của chính phủ về hoạt động kinh tế thúc đẩy hoạt động kinh doanh (McMullen và cộng sự 2008); (Valdez và Richardson, 2013).
Theo khảo sát của GEM (2016), các chương trình của chính phủ và các chính sách của chính phủ được đưa vào như các biến quan sát để đo lường tác động của chúng trong mô hình suy rộng về cơ hội khởi nghiệp, cụ thể các chính phủ sẽ đảm bảo thị trường hoạt động hiệu quả bằng cách loại bỏ các điều kiện tạo ra rào cản gia nhập thị trường và quy định không cần thiết (Bruton et al. Sambharya và Musteen (2014) cho rằng các quốc gia đặt ra các yêu cầu về giấy phép kinh doanh, vốn tối thiểu, an toàn tiêu dùng, luật lao động và các thủ tục khác để bắt đầu khởi nghiệp là rất khác nhau. Đó có thể là nguyên nhân tạo ra môi trường kinh doanh không thân thiện chẳng hạn như tạo ra các rào cản tiếp cận vốn làm giảm sự hưng phấn của doanh nhân (Bruton et al. Về vấn đề này, Khoury và Prasad (2015) tuyên bố rằng thể chế chính thức có thể tác động tiêu cực đến cơ hội khởi nghiệp thông qua sự tham nhũng của chính phủ, hệ thống tư pháp không công bằng theo lợi ích nhóm, tiếp cận hạn chế giáo dục hoặc lợi ích công cộng, hạn chế tự do dân sự, hạn chế thương mại quốc tế, sự kiểm soát về truyền thông của nhà nước, hoặc những nguy cơ liên tục vì bất ổn chính trị.
Hall & Sobel (2006) cho rằng hệ thống chính sách công như (thuế, các quy định về kinh doanh, hệ thống tư pháp, tự do kinh tế) tác động mạnh mẽ đến cơ hội kinh doanh, trong khi khung nghiên cứu của UNCTAD (2005) cho rằng cần cái thiện các chính sách xuất nhập khẩu, hạn chế các rào cản thương mại quốc tế nhằm gia tăng cơ hội khởi nghiệp. Ở một cách nhìn khác, Lee et al (2013) lại chia nhóm các chính sách tác động đến khởi nghiệp thành 2 nhóm, nhóm thứ nhất là các chính sách nhằm đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp mới thành lập bao gồm các chính sách loại bỏ các rào cản gia nhập thị trường, chống độc quyền còn nhóm thứ hai là các chính sách nhằm hạn chế các tổn thất khi phá sản. Trước đó khi nêu quan điểm về vấn đề này, Golden et al (2003) ủng hộ việc khuyến khích phát triển tinh thần kinh doanh bằng cách giảm thiểu rủi ro liên quan đến việc phá sản.2 Chuẩn mực văn hóa và xã hội Valdez và Richardson (2013) coi nhận thức của các doanh nhân về các chuẩn mực xã hội liên quan đến khả năng tận dụng cơ hội khởi nghiệp của họ. Các chuẩn mực văn hóa và xã hội định hình hành vi của con người và có thể được xem như sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa những người sống trong cùng một môi trường xã hội (Hofstede 1991).
Mặc dù Hofstede (1991) không đề cập trực tiếp đến mối quan hệ giữa văn hóa và hoạt động khởi sự kinh doanh, tuy nhiên mối liên hệ này được nghiên cứu bởi một số tác giả (Mitchell và cộng sự 2000; Kreiser et al. Một số tác giả đã nghiên cứu sự khác biệt văn hóa, đặc biệt là vai trò của văn hóa đề cao chủ nghĩa cá nhân, tính tự chủ, đặc điểm hình thành nhận thức kinh doanh và ảnh hưởng đến khả năng bắt đầu một doanh nghiệp mới (Mitchell et al. Có rất nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận rằng một số loại văn hóa nhất định có định hướng hỗ trợ xã hội nhiều hơn, có tác động lớn hơn đến hiệu quả (Stephan và Uhlaner 2010). Những nền văn hóa này không chỉ đánh giá thành công cá nhân đạt được thông qua những nỗ lực cá nhân mà còn nhấn mạnh đến sự tự chủ, và chủ động của cá nhân.
Trong những nền văn hóa như vậy, các cá nhân thường bị thu hút bởi việc tự làm chủ vì họ hy vọng rằng điều này sẽ mang lại lợi ích lớn hơn, nâng cao địa vị xã hội của chính họ (Mitchell et al. 2000; Stephan và Uhlaner 2010).3 Giáo dục và đào tạo Busenitz et al (2000) cho rằng kiến thức và kỹ năng mà người dân ở một quốc gia có liên quan đến việc thành lập và điều hành một doanh nghiệp mới, điều này phù hợp với kết quả khảo sát của GEM (2016), khảo sát này đã đưa giáo dục và đào tạo về hoạt động khởi nghiệp được đưa vào như một biến để giải thích nhận thức cơ hội khởi nghiệp của doanh nhân. Khi phân tích tác động của giáo dục và đào tạo đối với hoạt động khởi nghiệp của một quốc gia, cần phân biệt giữa giáo dục chung và giáo dục khởi nghiệp (Verheul et al. Dựa trên quan điểm này O’Connor (2013) đã phân biệt hai loại hình giáo dục: (1) giáo dục phổ thông và (2) giáo dục và đào tạo về khởi nghiệp, ông lập luận rằng các nước phát triển (hoặc có định hướng đổi mới) có tỷ lệ thành công kinh doanh cao hơn khi họ chứng minh trình độ giáo dục phổ thông cao hơn (Leffler và Svedberg 2005; O'Connor 2013 ).
Trong khi đó, Triniti et al. (2006) đã tìm thấy một mối quan hệ tích cực giữa các cấp học cao hơn và hoạt động kinh doanh khởi nghiệp giữa các quốc gia. Giáo dục phổ thông không chỉ góp phần mở rộng tầm nhìn kiến thức giúp cá nhân nhận thức rõ hơn về các cơ hội tiềm năng trên thị trường mà còn cung cấp những kiến thức cần thiết và sự linh 12 hoạt để tận dụng những cơ hội này. Paço et al.
(2015) tổng hợp vai trò của giáo dục và nhận định giáo dục là điều kiện cần để (1) cung cấp cho các nhà khởi nghiệp tương lai ý thức độc lập, tự chủ và tự tin; (2) làm cho mọi người nhận thức được các lựa chọn nghề nghiệp thay thế; (3) mở rộng tầm nhìn của mọi người làm cho họ có nhiều khả năng nhận thức các cơ hội thị trường tiềm năng; và để (4) cung cấp kiến thức có thể được sử dụng bởi các cá nhân để phát triển các cơ hội kinh doanh mới. Tuy nhiên, các tác giả khác cho rằng vai trò của giáo dục và đào tạo trong khởi nghiệp là hiệu quả hơn để thúc đẩy và kích thích các kỹ năng và kiến thức kinh doanh (Verheul et al. 34), do đó thực hiện ảnh hưởng lớn đến thái độ doanh nhân. GEM (2016) phân chia giáo dục thành giáo dục tiểu học, trung học và đại học trong nghiên cứu các tác động đến cơ hội khởi nghiệp.
Paço et al (2011) lại cho rằng thái độ cá nhân là rất quan trọng để giải thích ý định khởi nghiệp các tác giả nhấn mạnh, giáo dục và đào tạo nên tập trung nhiều hơn vào việc thay đổi /kích thích thái độ cá nhân thuận lợi đối với tinh thần kinh doanh hơn là cung cấp kiến thức kỹ thuật về kinh doanh. Cụ thể, trong nghiên cứu hiện nay giáo dục khởi nghiệp được định nghĩa là đào tạo các cá nhân để tạo mới hoặc quản lý các doanh nghiệp được đưa vào trong các hệ thống giáo dục và đào tạo ở tất cả các cấp (Amorós và Bosma 2014).4 Hỗ trợ tài chính cho khởi nghiệp Xây dựng môi trường khởi nghiệp tích cực là một yếu tố quan trọng để tăng và duy trì khả năng cạnh tranh quốc gia. Chính sách tài chính và đầu tư đóng vai trò ngày càng quan trọng trong phát triển kinh doanh.