Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lịch sử chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số 62 22 56 01) với đề tài "Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo phát triển kinh tế biển từ năm 1996 đến năm 2010" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Anh thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Kim Đỉnh tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2014.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Xuất phát từ bối cảnh tài nguyên trên đất liền ngày càng suy giảm, không gian kinh tế truyền thống bị thu hẹp, nhiều quốc gia trên thế giới đã hướng mạnh ra biển nhằm tìm kiếm không gian sinh tồn, bảo đảm các nguồn tài nguyên, nhiên liệu và năng lượng. Thực tiễn lịch sử các quốc gia có biển như Anh, Mỹ, Nhật Bản, Singapore hay Trung Quốc cho thấy phát triển kinh tế biển gắn liền với tiềm lực quốc gia. Đối với Việt Nam, từ thập kỷ 90 của thế kỷ XX, chủ trương hướng mạnh ra biển đã được xác định, đặc biệt là mục tiêu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển được khẳng định trong Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020.

Hải Phòng là địa phương giữ vị trí cửa sổ mở ra biển của các tỉnh phía Bắc, sở hữu 125 km bờ biển, hệ thống cảng biển hình thành hơn một trăm năm, các ngành công nghiệp cơ khí đóng tàu, chế biến thủy hải sản và đảo Bạch Long Vĩ giữ vai trò bàn đạp tiến ra biển. Trong giai đoạn 1996 - 2010, Đảng bộ thành phố Hải Phòng xác định kinh tế biển là kinh tế động lực, nhân tố cơ bản tạo sự chuyển biến của nền kinh tế địa phương. Tuy nhiên, quy mô và tốc độ phát triển kinh tế biển của thành phố trong giai đoạn này chưa tương xứng với tiềm năng, còn bộc lộ nhiều yếu tố tự phát, thiếu tính bền vững; công tác dự báo và định hướng chiến lược còn bộc lộ những hạn chế nhất định. Việc nghiên cứu, tổng kết có hệ thống quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ thành phố Hải Phòng đối với kinh tế biển trong giai đoạn 1996 - 2010 nhằm làm rõ thành tựu, khuyết điểm, nguyên nhân và rút ra các bài học kinh nghiệm là yêu cầu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cấp thiết.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là làm rõ sự lãnh đạo phát triển kinh tế biển của Đảng bộ thành phố Hải Phòng từ năm 1996 đến năm 2010, từ quá trình hoạch định quan điểm, chủ trương đến tổ chức chỉ đạo thực hiện; phân tích ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân, qua đó nêu lên nhận xét và đúc rút các kinh nghiệm lịch sử.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích làm rõ các nhân tố ảnh hưởng, chi phối đến quá trình Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo phát triển kinh tế biển từ năm 1996 đến năm 2010.
  2. Phân tích chủ trương phát triển kinh tế biển của Đảng bộ thành phố Hải Phòng từ năm 1996 đến năm 2010.
  3. Trình bày quá trình Đảng bộ thành phố Hải Phòng chỉ đạo thực hiện phát triển kinh tế biển trên các lĩnh vực từ năm 1996 đến năm 2010.
  4. Nhận xét những ưu điểm, hạn chế và rút ra những kinh nghiệm lịch sử từ quá trình Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo phát triển kinh tế biển từ năm 1996 đến năm 2010.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm, chủ trương và quá trình chỉ đạo phát triển kinh tế biển của Đảng bộ thành phố Hải Phòng từ năm 1996 đến năm 2010.
  • Phạm vi nội dung: Dựa trên quan điểm của Đảng và thực tiễn địa phương, luận án tập trung vào 5 nhóm ngành/lĩnh vực: kinh tế hàng hải (cảng biển, dịch vụ cảng, vận tải biển); công nghiệp đóng tàu (đóng mới và sửa chữa tàu biển); kinh tế thủy sản (đánh bắt, nuôi trồng, chế biến hải sản); du lịch biển; phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp, đô thị ven biển và kinh tế đảo.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn thành phố Hải Phòng gồm toàn bộ dải đất liền ven biển (13 quận, huyện gồm 6 quận huyện giáp biển và 7 quận huyện liền kề), 2 huyện đảo (Cát Hải, Bạch Long Vĩ) và vùng biển thuộc phạm vi quản lý của thành phố.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1996 (mốc Đại hội Đảng bộ thành phố Hải Phòng lần thứ XI) đến năm 2010 (Đại hội Đảng bộ thành phố Hải Phòng lần thứ XIV). Một số tài liệu lịch sử trước năm 1996 và sau năm 2010 được sử dụng nhằm phục vụ việc so sánh, phân tích bối cảnh và kiểm chứng tiến trình.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án đã phân chia và điểm luận các công trình nghiên cứu đi trước thành hai nhóm chính:

Các công trình nghiên cứu liên quan gián tiếp

  • Về mô hình, chiến lược phát triển kinh tế và quản lý biển của các quốc gia: Luận án dẫn dụng tác phẩm Sức mạnh biển đối với lịch sử thời kỳ 1660 - 1783 của Alfred Thayer Mahan (Nxb Tri thức, 2012) phân tích vai trò của quyền kiểm soát biển, ngoại thương và lực lượng hải quân đối với sự thịnh vượng của các cường quốc Anh, Hà Lan, Tây Ban Nha. Các công trình trong nước gồm Lịch sử kinh tế của các nước đảo trên thế giới của Thế Đạt (Nxb Lao động, 1998); Chiến lược phát triển kinh tế ven biển Trung Quốc (1991) và Thẩm Quyến thần kỳ - Hiện đại hóa - quốc tế hóa (Nxb Thế giới, 2008) của Đoàn Văn Trường; Thông tin Chuyên đề số 8 về Chiến lược và mô hình quản lý biển của một số nước của Văn phòng Trung ương Đảng.
  • Về Biển Đông và vị trí địa chính trị: Các công trình Biển Đông hướng tới một khu vực hòa bình, an ninh, hợp tác (Nxb Thế giới, 2011) và Tranh chấp biển Đông: Luật pháp, địa chính trị và hợp tác quốc tế (Nxb Thế giới, 2012) của Đặng Đình Quý; Biển Đông yêu dấu của Trần Ngọc Toản (Nxb Thế giới, 2013); Việt Nam - Quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển của Ban Tuyên giáo Trung ương (Nxb Chính trị quốc gia, 2013); Nguồn lợi sinh vật Biển Đông của Vũ Trung Tạng (Nxb Khoa học Kỹ thuật, 1979).
  • Về tiềm năng kinh tế biển và tư duy làm kinh tế biển ở Việt Nam: Các ấn phẩm tiêu biểu gồm Nền kinh tế các vùng ven biển Việt Nam của Thế Đạt (Nxb Lao động, 2008); Đổi mới và phát triển kinh tế vùng ven biển của PGS Lê Cao Đoàn (Nxb Chính trị quốc gia, 1999); các bài nghiên cứu về chiến lược biển của Lê Nguyên (2007), Bùi Tất Thắng (2007), Mạnh Hùng (2007), Tạ Quang Ngọc (2002), và bài viết Về chiến lược kinh tế biển Việt Nam (2011) của PGS.TS Trần Đình Thiên chỉ rõ nhược điểm của tư duy "đánh bắt ven bờ", thói quen mang tư duy canh tác ruộng cạn ra biển.
  • Về các phân ngành kinh tế biển: Nghiên cứu du lịch của Lê Trọng Bình (2007), Bùi Hải Yến - Phạm Hồng Long (2009), Võ Thị Thắng (2005); nghiên cứu thủy sản của Trung tâm Khoa học Công nghệ - Thủy sản, Nguyễn Huy Cường - Đoàn Văn Phụ (2006), Đào Mạnh Sơn (2005), Phạm Thược (2005); nghiên cứu hàng hải và vận tải của Vương Toàn Thuyên (1997), Đặng Công Xưởng (2011).

Các công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp

  • Về kinh tế - xã hội Hải Phòng: Cuốn sách Hải Phòng trong chặng đường đầu của thời kỳ quá độ (1955 - 1985) của Đoàn Duy Thành; Kinh tế Hải Phòng 50 năm xây dựng và phát triển (1955 – 2005) của Phạm Vũ Câu - Đan Đức Hiệp; Kinh tế Hải Phòng 25 năm đổi mới và phát triển (1986 - 2010) của Đan Đức Hiệp (Nxb Chính trị quốc gia, 2011); ấn phẩm Hải Phòng - thế và lực mới trong thế kỷ XXI và bài viết của Trần Huy Năng.
  • Về các ngành kinh tế biển trên địa bàn thành phố: Đề tài dịch vụ cảng biển giai đoạn 2002 - 2006 của Trần Văn Hiếu (2011); nghiên cứu du lịch giai đoạn 2001 - 2005 của Trần Trung Dũng; bài viết về du lịch Cát Bà của Vũ Văn Kiền; luận án tiến sĩ kinh tế Thị trường dịch vụ ở Hải Phòng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Phạm Thị Thúy (2008); bài viết về nguồn lợi hải sản của Vũ Việt Hà (2020).
  • Các văn kiện, bài phát biểu của lãnh đạo: Phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Đại hội XIV Đảng bộ thành phố Hải Phòng; bài viết của Đan Đức Hiệp về CNH, HĐH thành phố cảng; bài viết của Nguyễn Đình Bích về kinh tế biển theo hướng CNH, HĐH.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tác giả nhận định: phần lớn các nghiên cứu đã công bố tiếp cận kinh tế biển dưới góc độ kinh tế học thuần túy (đánh giá thực trạng, đề xuất giải pháp kỹ thuật từng ngành riêng lẻ), góc độ khoa học tự nhiên (điều tra tài nguyên, môi trường), hoặc là các bài phát biểu chỉ đạo mang tính định hướng chính trị khái quát. Chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống và chuyên sâu từ góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng về toàn bộ quá trình Đảng bộ thành phố Hải Phòng hoạch định chủ trương và lãnh đạo, chỉ đạo triển khai phát triển kinh tế biển xuyên suốt giai đoạn 1996 - 2010.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khái niệm

Luận án dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về CNH, HĐH và chiến lược biển. Văn bản xác định khái niệm: Kinh tế biển là toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển và trên đất liền nhưng trực tiếp liên quan đến khai thác biển hoặc nhờ vào yếu tố biển, trực tiếp phục vụ các hoạt động kinh tế ở dải đất liền ven biển. Trong Chiến lược biển Hải Phòng đến năm 2015, định hướng đến năm 2020, kinh tế biển địa phương gồm 5 ngành nghề:

  • Kinh tế hàng hải;
  • Công nghiệp đóng tàu;
  • Thủy sản (đánh bắt, nuôi trồng, chế biến hải sản);
  • Du lịch biển;
  • Phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp và đô thị ven biển gắn với kinh tế đảo.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các phương pháp phổ quát của khoa học lịch sử:

  • Phương pháp lịch sử: Được vận dụng chủ yếu ở Chương 1 và Chương 2 nhằm phân kỳ lịch sử (giai đoạn 1996 - 2000 và 2001 - 2010), tái hiện quá trình hình thành, phát triển các chủ trương của Đảng bộ thành phố và quá trình chỉ đạo thực tiễn theo trình tự thời gian.
  • Phương pháp logic: Được sử dụng xuyên suốt cả 3 chương, đặc biệt là Chương 3 để xâu chuỗi sự kiện, khái quát bản chất các nghị quyết, chỉ thị, làm rõ sự biến chuyển trong nhận thức lý luận và tổng kết các bài học kinh nghiệm.
  • Phương pháp bổ trợ: Kết hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê số liệu kinh tế, phương pháp so sánh lịch sử và lấy ý kiến chuyên gia để chứng minh các nhận định.

Nguồn tư liệu

  • Tư liệu gốc: Các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam (Chỉ thị 20-CT/TW năm 1997, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa X năm 2007, Nghị quyết số 32-NQ/TW của Bộ Chính trị); các nghị quyết, chỉ thị, quyết định, báo cáo sơ kết/tổng kết của Thành ủy, Ban Thường vụ Thành ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng.
  • Tư liệu thứ cấp: Số liệu thống kê của Cục Thống kê Hải Phòng; các báo cáo ngành hàng hải, thủy sản, du lịch; sách chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo, luận án và đề tài nghiên cứu liên quan.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo phát triển kinh tế biển của Đảng bộ thành phố Hải Phòng từ năm 1996 đến năm 2000

Tiểu mục đầu tiên của chương phân tích các nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội, bối cảnh Biển Đông và tiền đề lịch sử tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố:

Nhóm nhân tố Dữ kiện và số liệu cụ thể trong luận án
Địa lý tự nhiên Chiều dài bờ biển 125 km; thềm lục địa trên 100.000 km²; vùng biển khoảng 4.000 km² (gấp 2,6 lần đất liền); dải ven biển gồm 13 quận/huyện; khoảng 700 đảo đá ven bờ chiếm 5,4% diện tích; đảo Bạch Long Vĩ cách đất liền 110 km, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) 130 km. Hệ thống 17 sông chính dài 400 km với 5 cửa sông lớn (Nam Triệu, Cấm, Lạch Tray, Văn Úc, Thái Bình).
Nguồn lợi sinh vật 3 ngư trường lớn: Bạch Long Vĩ (1.500 hải lý vuông, sâu 35 - 55 m); Long Châu - Ba Lạt (400 hải lý vuông, sâu 25 - 35 m); Cát Bà (450 hải lý vuông). Vùng biển có 135 loài thực vật nổi, 138 loài rong, 23 loài cây nước mặn, 500 loài động vật đáy, 189 loài cá và tôm. Vùng triều có 23.000 ha bãi bồi ngập triều, 5.000 ha mặt nước quanh đảo Cát Bà và Bạch Long Vĩ.
Tài nguyên du lịch Quần đảo Cát Bà gồm 366 đảo; Vườn Quốc gia Cát Bà thành lập tháng 3/1986 (15.800 ha rừng, 5.400 ha mặt biển). Bán đảo Đồ Sơn vươn ra biển 5 km với 3 khu bãi tắm, khu 2 được khai thác du lịch từ năm 1904.
Kinh tế - xã hội Trường Đại học Hàng hải Việt Nam, Đại học Hải Phòng, Đại học Dân lập Hải Phòng; 61 cơ sở dạy nghề đào tạo trên 12.000 lao động/năm. Các cơ sở nghiên cứu: Viện Nghiên cứu Hải sản, Viện Tài nguyên và Môi trường biển, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I, Viện Y học biển. Căn cứ quốc phòng: Bộ Tư lệnh Hải quân, Cảnh sát biển vùng I, Bộ đội Biên phòng.
Tiền đề lịch sử Năm 1529, Mạc Đăng Dung lập kinh đô hướng biển Dương Kinh tại Cổ Trai (Kiến Thụy), mở các thương cảng Lỗ Minh Thị, An Quý, Do Nha; thời Pháp thuộc mở cảng Ninh Hải theo Hòa ước Giáp Tuất; giai đoạn 1955 - 1975 là đầu mối tiếp nhận hàng viện trợ và xuất phát điểm của đường Hồ Chí Minh trên biển.

Về chủ trương, Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ XI (1996) đề ra định hướng phát triển kinh tế biển. Tiếp đó, Thành ủy quán triệt Chỉ thị số 20-CT/TW ngày 22/9/1997 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế biển theo hướng CNH, HĐH. Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố khóa XI ban hành kết luận Hội nghị lần thứ 8 (1998) và Báo cáo số 45-BC/TU ngày 30/9/1999 sơ kết 2 năm thực hiện Chỉ thị 20-CT/TW, định rõ các biện pháp về vốn, quy hoạch cảng biển, hậu cần nghề cá và cứu hộ biển.

Quá trình chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ thành phố giai đoạn 1996 - 2000 được ghi nhận qua các kết quả cụ thể:

  • Kinh tế hàng hải: Cảng Hải Phòng được Chính phủ hỗ trợ 40 triệu USD (năm 1997) thực hiện nâng cấp, cải tạo giai đoạn 1 bằng nguồn vốn ODA. Năm 1999, thành phố thu hút 1.357,4 triệu USD vốn FDI và 334 triệu USD vốn ODA. Đến cuối năm 1999, Hải Phòng xây dựng thêm 5 cảng mới, nâng tổng số lên 16 cảng. Năm 2000, sản lượng hàng thông qua cảng Hải Phòng đạt 7,57 triệu tấn; tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân của cảng giai đoạn 1996 - 2000 đạt 76,05%. Về vận tải biển, năm 1999 khối ngoài quốc doanh có 26 công ty TNHH, 1 doanh nghiệp cổ phần, 3 xí nghiệp tư nhân, 1 hợp tác xã với 95 tàu (tổng trọng tải 50.000 DWT). Toàn địa bàn thành phố có 177 tàu vận tải biển với tổng trọng tải 436.000 DWT. Số lượng phương tiện vận tải biển năm 2000 tăng 1,7 lần so với năm 1995; tốc độ tăng trưởng bình quân giá trị sản xuất vận tải biển đạt 5,26%.
  • Kinh tế thủy sản: Thành ủy ban hành Thông báo số 91-BC/KT ngày 26/7/1997 chỉ đạo đưa thủy sản thành ngành kinh tế trọng điểm, lấy nghề cá nhân dân làm động lực. Ngư dân xã Lập Lễ (Thủy Nguyên) trong 2 năm 1995 - 1996 tự huy động gần 10 tỷ đồng đóng mới tàu vươn khơi; mô hình Tập đoàn đánh cá Nam Triệu được nhân rộng. Đến năm 1998, toàn thành phố có trên 200 tàu đánh bắt xa bờ (trong đó 42 tàu vay vốn tín dụng ưu đãi và vốn Biển Đông - Hải đảo). Năm 2000, sản lượng khai thác đạt 26.000 tấn, mức tăng trưởng bình quân đạt 6,1%/năm. Diện tích nuôi trồng được mở rộng ở các vùng bãi triều, song chủ yếu vẫn là nuôi quảng canh tự nhiên đối với tôm sú và cua biển.
  • Công nghiệp đóng tàu: Thực hiện mục tiêu đầu tư chiều sâu, tổ chức lại các cơ sở đóng tàu Trung ương và địa phương, hướng tới mục tiêu năm 2000 sửa chữa được tàu 30.000 DWT và đóng mới tàu 5.000 DWT cùng tàu kỹ thuật.
  • Du lịch biển: Phát triển tuyến Đồ Sơn, Cát Bà theo hướng du lịch sinh thái nghỉ dưỡng kết hợp văn hóa; nâng cấp cơ sở lưu trú và liên kết thị trường với Hà Nội, Quảng Ninh.
  • Khu công nghiệp, đô thị ven biển và kinh tế đảo: Bắt đầu thu hút đầu tư vào KCN Đình Vũ, KCN Bắc Thủy Nguyên; hỗ trợ dân ra định cư lâu dài, xây dựng Làng thanh niên xung phong và cơ sở hạ tầng nghề cá tại Cát Hải, Bạch Long Vĩ.

Chương 2: Sự lãnh đạo phát triển kinh tế biển của Đảng bộ thành phố Hải Phòng từ năm 2001 đến năm 2010

Chương này tập trung trình bày sự chuyển biến trong chủ trương và hoạt động chỉ đạo phát triển kinh tế biển của Đảng bộ thành phố bước vào thế kỷ XXI:

  • Chủ trương giai đoạn 2001 - 2010: Quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, lần thứ X, Nghị quyết số 32-NQ/TW ngày 5/8/2003 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước, và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa X (Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 9/2/2007) về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020. Đảng bộ thành phố qua các kỳ Đại hội XII, XIII và XIV đã xác lập Chiến lược biển Hải Phòng đến năm 2015, định hướng đến năm 2020, khẳng định kinh tế biển là hạt nhân chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố.
  • Chỉ đạo phát triển kinh tế hàng hải: Đẩy nhanh cải tạo giai đoạn 2 cảng Hải Phòng, nâng cấp luồng vào cảng bảo đảm cho tàu 10.000 DWT đầy tải ra vào; hoàn thiện quy hoạch cụm cảng Hải Phòng, xúc tiến các bước chuẩn bị đầu tư xây dựng dự án Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng tại Lạch Huyện; phát triển hệ thống kho bãi, dịch vụ logistics và trẻ hóa đội tàu vận tải biển.
  • Xây dựng khu kinh tế, KCN và đô thị ven biển: Thành lập và xây dựng Khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ; triển khai các khu công nghiệp tập trung ven biển như Đình Vũ, Nam Cầu Kiền; quy hoạch dải đô thị ven biển và triển khai các tuyến đường giao thông kết nối ven biển.
  • Công nghiệp đóng tàu: Hải Phòng trở thành trung tâm công nghiệp tàu thủy trọng điểm phía Bắc với sự phát triển của các nhà máy đóng tàu thuộc Tổng công ty/Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam như Bạch Đằng, Nam Triệu, Phà Rừng, Tam Bạc; nâng cao năng lực đóng mới các loại tàu chở hàng khô, tàu chở container và tàu xuất khẩu có tải trọng lớn.
  • Kinh tế thủy sản: Hiện đại hóa đội tàu xa bờ, chuyển dịch mạnh cơ cấu đánh bắt sang các vùng biển sâu gắn với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền; đầu tư các trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá và khu neo đậu tránh trú bão tại Bạch Long Vĩ, Cát Bà, Ngọc Hải; chuyển từ nuôi trồng thủy sản quảng canh sang thâm canh công nghiệp và bán thâm canh.
  • Du lịch biển và kinh tế đảo: Quần đảo Cát Bà được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới (năm 2004), tạo động lực phát triển du lịch sinh thái; nâng cấp cơ sở hạ tầng du lịch Đồ Sơn; tăng cường đầu tư điện, nước ngọt, hạ tầng giao thông và dịch vụ dân sinh trên huyện đảo Cát Hải và Bạch Long Vĩ.

Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm

Tác giả luận án tổng kết các ưu điểm, chỉ ra những hạn chế, phân tích nguyên nhân và đúc rút các bài học kinh nghiệm lịch sử:

  • Nhận xét ưu điểm: Đảng bộ thành phố Hải Phòng đã nhận thức đúng đắn và kịp thời cụ thể hóa các nghị quyết của Trung ương; xác định kinh tế biển là ngành kinh tế động lực; lãnh đạo kinh tế biển phát triển toàn diện trên cả 5 lĩnh vực; hạ tầng cảng biển và đóng tàu có bước phát triển nhanh; giải quyết việc làm cho người lao động và kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh biển đảo.
  • Hạn chế và nguyên nhân: Quy mô kinh tế biển chưa tương xứng với tiềm năng địa phương; luồng tàu vào cảng thường xuyên bị bồi lắng, tiến độ nạo vét và đầu tư luồng mới còn chậm; vận tải biển và dịch vụ cảng biển thiếu tính đồng bộ, chi phí logistics còn cao; cơ sở đóng tàu phụ thuộc nhiều vào cơ chế quản lý của Tập đoàn Nhà nước dẫn đến khó khăn khi ngành hàng hải thế giới suy giảm; nuôi trồng thủy sản ven bờ có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường sinh thái; du lịch biển mang nặng tính mùa vụ, thời gian lưu trú của du khách ngắn. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ hạn chế trong công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch; nguồn lực tài chính đầu tư hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu; cơ chế phối hợp giữa các cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn với chính quyền địa phương có lúc chưa đồng bộ.
  • Bài học kinh nghiệm lịch sử:
    1. Nhận thức đúng về vị trí, vai trò kinh tế biển trong phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hải Phòng.
    2. Lãnh đạo phát triển kinh tế biển toàn diện, song xác định đúng lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm.
    3. Chú trọng kết hợp phát triển kinh tế biển với bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ tài nguyên, môi trường.
    4. Đảm bảo sự gắn kết chặt chẽ giữa kinh tế Trung ương và kinh tế địa phương. Mở rộng quan hệ hợp tác trong phát triển kinh tế biển.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp khoa học và thực tiễn:

  1. Luận án phân tích làm rõ các nhân tố ảnh hưởng, chi phối sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Hải Phòng trong phát triển kinh tế biển; chỉ ra những yêu cầu, mục tiêu phát triển kinh tế biển Hải Phòng từ năm 1996 đến năm 2010.
  2. Khái quát và hệ thống hóa các quan điểm, chủ trương về phát triển kinh tế biển của Đảng bộ thành phố Hải Phòng từ năm 1996 đến năm 2010 qua các kỳ Đại hội Đảng bộ (khóa XI, XII, XIII, XIV) và các nghị quyết, chỉ thị chuyên đề.
  3. Phục dựng lại quá trình lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế biển của Đảng bộ thành phố Hải Phòng những năm 1996 - 2010 với cả ưu điểm, hạn chế; rút ra những kinh nghiệm lịch sử, góp phần bổ sung căn cứ lý luận và thực tiễn cho công cuộc đẩy mạnh phát triển kinh tế biển Hải Phòng và Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
  4. Cung cấp hệ thống luận cứ khoa học có giá trị tham khảo để các cơ quan chức năng bổ sung, hoàn thiện chính sách phát triển kinh tế biển ở Hải Phòng; đóng vai trò làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, giảng dạy lịch sử địa phương và Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.

Về kiến nghị, văn bản nhấn mạnh việc tiếp tục hoàn thiện quy hoạch không gian biển, đẩy nhanh tiến độ dự án Cảng cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện, tái cấu trúc dịch vụ hậu cần cảng biển, chuyển đổi mô hình đánh bắt xa bờ có tổ chức, và gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ phát triển kinh tế với củng cố khu vực phòng thủ bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu chủ yếu trong mốc thời gian 1996 - 2010, do đó những tác động của quá trình tái cơ cấu kinh tế biển và việc điều chỉnh chính sách ngành công nghiệp tàu thủy, vận tải biển sau năm 2010 chưa được phản ánh toàn diện.
  • Nghiên cứu tiếp cận dưới chuyên ngành Lịch sử Đảng, tập trung vào chủ trương và sự chỉ đạo chính trị của cấp ủy địa phương, do đó việc hạch toán chi tiết hiệu quả kinh tế tài chính hoặc các chỉ số sinh thái môi trường chuyên sâu không phải là trọng tâm xử lý của đề tài.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Tiếp tục theo dõi, tổng kết sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Hải Phòng đối với kinh tế biển trong giai đoạn từ năm 2011 đến nay, đặc biệt là việc triển khai Nghị quyết số 36-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
  • Đi sâu nghiên cứu sự phối hợp liên vùng giữa Hải Phòng với các tỉnh, thành phố thuộc Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và dải ven biển duyên hải phía Bắc trong phân công lao động và liên kết chuỗi logistics kinh tế biển.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo chuyên ngành cụ thể:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên, giảng viên: Công trình là nguồn tư liệu chuyên khảo có giá trị phục vụ công tác giảng dạy, học tập chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Đảng bộ địa phương, Lịch sử kinh tế Việt Nam hiện đại; cung cấp phương pháp tiếp cận lịch sử kết hợp logic trong phân tích quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối kinh tế.
  • Đối với cán bộ quản lý và người làm chính sách: Cung cấp hệ thống tư liệu lịch sử xác thực về quá trình chỉ đạo thực tế của cấp ủy địa phương; các bài học kinh nghiệm về xử lý mối quan hệ giữa kinh tế Trung ương và kinh tế địa phương trên địa bàn cảng biển, kinh nghiệm kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh biển đảo tại các huyện đảo tiền tiêu như Bạch Long Vĩ, Cát Hải.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Tiểu mục đánh giá các nhân tố địa kinh tế tại Chương 1, các số liệu thực tế về vận tải và dịch vụ cảng biển giai đoạn 1996 - 2000, cùng 4 bài học kinh nghiệm chỉ đạo thực tiễn được đúc kết tại Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định các nhân tố tự nhiên nổi bật của vùng biển Hải Phòng gồm những gì?

Văn bản nêu rõ: Hải Phòng có 125 km đường bờ biển, trên 100.000 km² thềm lục địa, vùng biển rộng khoảng 4.000 km² (gấp 2,6 lần đất liền), có 13 quận/huyện ven biển và 2 huyện đảo (Cát Hải, Bạch Long Vĩ). Thành phố có khoảng 700 đảo đá ven bờ chiếm 5,4% diện tích. Vùng biển có 3 ngư trường lớn: Bạch Long Vĩ (1.500 hải lý vuông), Long Châu - Ba Lạt (400 hải lý vuông), Cát Bà (450 hải lý vuông); có 23.000 ha bãi bồi ngập triều và 5.000 ha mặt nước quanh đảo phục vụ nuôi trồng thủy sản. Hệ thống gồm 17 con sông chính dài 400 km đổ ra biển qua 5 cửa sông lớn.

2. Kinh tế biển Hải Phòng theo quan điểm của Đảng bộ thành phố gồm những ngành nào?

Theo Chiến lược biển Hải Phòng đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 được trích dẫn trong luận án, kinh tế biển Hải Phòng bao gồm 5 ngành nghề cơ bản:

  1. Kinh tế hàng hải (cảng biển, dịch vụ cảng, vận tải biển);
  2. Công nghiệp đóng tàu (đóng mới và sửa chữa tàu biển);
  3. Thủy sản (đánh bắt, nuôi trồng, chế biến hải sản);
  4. Du lịch biển;
  5. Phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp, đô thị ven biển và kinh tế đảo.

3. Vị trí lịch sử của kinh tế biển Hải Phòng trước năm 1996 được luận án phục dựng như thế nào?

Luận án chỉ ra: Năm 1529 dưới thời nhà Mạc, Thái tổ Mạc Đăng Dung đã xây dựng kinh đô hướng biển Dương Kinh tại Cổ Trai (Kiến Thụy), mở các thương cảng giao thương như Lỗ Minh Thị, An Quý, Do Nha. Thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh, vùng duyên hải Hải Phòng là nơi giao thương với tàu buôn phương Tây (Hà Lan, Anh). Thời Pháp thuộc, Hải Phòng là thành phố cấp 1 với hải cảng lớn nhất Bắc Kỳ. Trong kháng chiến chống Mỹ (1955 - 1975), Hải Phòng là nơi tiếp nhận hàng viện trợ quốc tế và là căn cứ xuất phát của tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển.

4. Kết quả phát triển cảng biển và vận tải biển Hải Phòng giai đoạn 1996 - 2000 đạt được những chỉ số nào?

Trong giai đoạn 1996 - 2000, cảng Hải Phòng được Chính phủ đầu tư 40 triệu USD (năm 1997) nâng cấp cải tạo giai đoạn 1; thành phố thu hút 1.357,4 triệu USD vốn FDI và 334 triệu USD vốn ODA năm 1999. Đến cuối năm 1999 có thêm 5 cảng mới, đưa tổng số lên 16 cảng. Năm 2000 hàng qua cảng Hải Phòng đạt 7,57 triệu tấn; tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất cảng đạt 76,05%. Về vận tải biển, năm 1999 có 177 tàu trên toàn địa bàn với tổng trọng tải 436.000 DWT; khối ngoài quốc doanh có 95 tàu với 50.000 DWT. Số lượng phương tiện vận tải biển năm 2000 tăng 1,7 lần so với năm 1995; tốc độ tăng trưởng bình quân giá trị sản xuất vận tải biển đạt 5,26%.

5. Luận án đúc rút những bài học kinh nghiệm lịch sử nào từ quá trình lãnh đạo của Đảng bộ thành phố?

Luận án nêu 4 bài học kinh nghiệm:

  • Thứ nhất: Nhận thức đúng về vị trí, vai trò kinh tế biển trong phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hải Phòng.
  • Thứ hai: Lãnh đạo phát triển kinh tế biển toàn diện, song xác định đúng lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm.
  • Thứ ba: Chú trọng kết hợp phát triển kinh tế biển với bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ tài nguyên, môi trường.
  • Thứ tư: Đảm bảo sự gắn kết chặt chẽ giữa kinh tế Trung ương và kinh tế địa phương; mở rộng quan hệ hợp tác trong phát triển kinh tế biển.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Anh đã tái hiện một cách hệ thống và khoa học quá trình Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo phát triển kinh tế biển từ năm 1996 đến năm 2010. Trên cơ sở phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tiền đề lịch sử và các văn kiện chính trị, công trình làm rõ những kết quả đạt được trên các lĩnh vực hàng hải, đóng tàu, thủy sản, du lịch và đô thị ven biển, đồng thời chỉ rõ những hạn chế và nguyên nhân thực tế. Bốn bài học kinh nghiệm lịch sử được đúc kết từ luận án cung cấp căn cứ khoa học có giá trị cho công tác hoạch định chính sách phát triển kinh tế biển Hải Phòng trong các giai đoạn tiếp theo.